Lời Chúa Năm C CÁC BÀI SUY NIỆM CHÚA NHẬT LỄ LÁ. NĂM C_2022

CÁC BÀI SUY NIỆM CHÚA NHẬT LỄ LÁ. NĂM C_2022

CHÚA NHẬT LỄ LÁ – Năm C

Lời Chúa: Is 50,4-7; Pl 2,6-11; Lc 22,14 – 23,56

——-

Mục lục

1. Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)

2. Con đường vinh quang (Lm. Thái Nguyên)

3. Vinh quang và khổ nhục (Jorathe Nắng Tím)

4. Bức tranh “Ba Thập Giá” (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

5. Bước theo Chúa Giêsu khổ nạn và phục sinh (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

6. Ngài yêu thương nhân loại đến cùng  (Lm. Inhaxio Trần Ngà)

7. Vụ án Giêsu  (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương)

8. Lòng thương xót Chúa Giêsu qua bài thương khó (Lm. Phạm Hồng Thái)

9. Thăm lần cuối  (Lm. Vũ Đình Tường)

10. Đi vào cõi khổ  (Trầm Thiên Thu)

11. Sống cho tình yêu (Lm. Jos DĐH. Gp. Xuân Lộc)

12. Chúa Giêsu cầu nguyện (Bông Hồng Nhỏ, Học viện MTG.Thủ Đức)

13. Đức Vua của ngươi đang đến (Thiên San, Học viện MTG.Thủ Đức)

 

 

CHÚC TỤNG ĐẤNG NHÂN DANH CHÚA MÀ ĐẾN

Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

Cùng với tất cả các Kitô hữu trên toàn thế giới, chúng ta bước vào Tuần Thánh. Chúa nhật này, chúng ta kính nhớ việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem. Cuộc hành trình của Người đã khởi đầu từ Galilêa và nay sắp đến hồi kết thúc. Giêrusalem là chặng cuối cùng. Nơi đây, những bi kịch đau thương sẽ diễn ra. Đó là cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, cuộc khổ nạn sinh ơn cứu độ cho nhân loại, mọi nơi và mọi thời.

Đọc Kinh Thánh Tân Ước, chúng ta thấy cho đến nay, sứ mạng của Đấng Thiên Sai vẫn được giữ kín. Nhưng hôm nay, Người muốn tiến vào thành thánh và vào đền thờ. Chúa muốn tỏ bày sứ mạng đích thực của Người như mục tử mới của dân Ít-ra-en, vị Mục tử Nhân lành sẵn sàng hiến mạng sống mình vì đàn chiên. Người không tiến vào thành trên một chiến xa như các thủ lãnh giải phóng thường làm, nhưng trên một con lừa con. Điều này vừa nhằm diễn tả lời ngôn sứ của Cựu ước, vừa cho thấy Đức Giêsu đến giải phóng con người bằng sự khiêm nhường và bằng cái chết của người. Khái niệm “giải phóng” qua cuộc khổ nạn và phục sinh của Đức Giêsu phải được hiểu hoàn toàn khác với quan niệm trần gian. Khi long trọng tiến vào thành, Người được dân chúng hoan hô, những cành lá ôliu được trải ra trên con đường Người đi như một tấm thảm chào mừng chiến thắng. Dân chúng hân hoan vui mừng và hô lớn tiến “Hosana, chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến”. “Hôsana” trong tiếng Do Thái vừa là một lời tung hô, đồng thời cũng có nghĩa là “xin cứu giúp chúng tôi”. Chắc chắn những người Do Thái có mặt hôm đó đều liên tưởng đến Đavít khi ông chiến thắng người Philitinh trở về trong tiếng hoan hô chúc tụng của dân chúng.

Ngày hôm nay, Đức Giêsu – Đấng đã long trọng vào thành Giêrusalem năm xưa – cũng đang đi vào các thành phố và làng mạc của chúng ta. Người muốn gặp gỡ để khích lệ chúng ta giữa cuộc sống đầy những khó khăn và gian nan thử thách này. Người đến với chúng ta như một Đấng duy nhất có thể giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ của tội lỗi và thù hận. Người là Đấng duy nhất có thể giúp chúng ta đạt tới một cuộc sống nhân bản và liên đới với nhau hơn. Dung mạo của Chúa Giêsu trong cuộc đời hôm nay không giống như một vị tướng hùng mạnh chinh đông dẹp bắc, nhưng Người mang gương mặt hiền lành và khiêm nhường. Vài ngày sau biến cố tiến vào thành Giêrusalem, Đức Giêsu là người bị người ta đóng đinh và phỉ nhổ. Vòng triều thiên được đặt trên đầu Chúa là một vòng đầy những gai nhọn. Dưới cái nhìn của nhiều người, cái chết của Chúa được coi như một thất bại thảm hại. Thực ra, đó là một chiến thắng vĩ đại, chiến thắng của tình yêu vượt lên sự chết.

Cuộc thương khó của Chúa vẫn đang diễn ra nơi những người đau khổ, nghèo hèn, bệnh tật, bị áp bức và thiệt thòi bất công trong xã hội của chúng ta hôm nay. Chúa đang đi qua cuộc đời này. Có những người đón tiếp Chúa, nhưng cũng có những người dửng dưng trước việc Chúa đi ngang qua cuộc đời họ. Tiếng gọi của Chúa là tiếng gọi khiêm tốn, đôi khi bị lấn át bởi biết bao âm thanh hỗn tạp của “biển đời” đầy bon chen và giành giật. Vì thế, để lắng nghe lời của Người, chúng ta phải trút bớt khỏi tâm hồn những toan tính, tham vọng. Chúa thường tâm sự với những ai biết chuyên tâm cầu nguyện và những tâm hồn thích sống trong lắng đọng nội tâm.

Sau khi tham dự thánh lễ hôm nay, chúng ta sẽ trở về nhà mang theo một vài cành lá đã được làm phép. Cành lá này nhắc lại điều chúng ta đã hát: “Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến”. Cành lá này cũng nhắc chúng ta rằng Chúa Giêsu đang cần đến chúng ta. Trong cơn đau đớn dưới bóng những cây ôliu tại vườn Cây Dầu, Người đã muốn được các môn đệ ở bên. Ngày hôm nay, Người cũng mời gọi chúng ta như thế. Người muốn chúng ta hãy là chứng nhân loan báo sự chết và phục sinh của Người cho đến tận cùng thế giới. Người muốn mỗi chúng ta cũng biết hy sinh cho nhau, để cuộc sống này trở nên nhân ái và công bình hơn. Người còn muốn chúng ta hãy tiếp nối sứ mạng của Người xây dựng Nước Trời, một công trình được thực hiện ngay ở đời này và sẽ hoành thành khi Người lại đến trong vinh quang. Vì thế, cành lá chúng ta mang về nhà cũng là bằng chứng những cam kết trung thành dấn thân theo Chúa. Trong suốt Tuần Thánh này, chúng ta được mời gọi liên kết mật thiết với Chúa trong lời cầu nguyện.

Khi cử hành Hy lễ Tạ ơn, chúng ta được đón nhận những hoa trái của cuộc thương khó Đức Giêsu. Người ban cho chúng ta không chỉ mình và máu Người, mà còn sự kết hợp mật thiết với Chúa Cha. Người đã khởi đầu nơi chúng ta một cuộc sống quảng đại và sự liên kết tiến tới sự thân tình trọn vẹn với Thiên Chúa là Cha của Người.

Lạy Chúa, xin củng cố Đức tin của chúng, hầu chúng con mãi mãi trở thành những chứng nhân trung thành của Chúa. Amen.

Về mục lục

CON ĐƯỜNG VINH QUANG

Lm. Thái Nguyên

Suy niệm

Khi Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem, các môn đệ đã công khai bày tỏ lòng tin tưởng và trung thành. Các ông lấy áo choàng phủ trên lưng lừa và đặt Ngài lên, còn dân chúng trải áo xuống đường đón rước Ngài đi qua. Cả đoàn môn đệ đều hô vang chúc tụng Ngài. Họ bạo dạn tôn vinh Thầy trước mặt những người biệt phái đang quyết liệt chống đối.  Trước tình hình đó, những đối thủ xem ra tức tối, đòi Ngài quở trách các môn đệ, nhưng Ngài trả lời: “Họ mà làm thinh thì sỏi đá cũng sẽ kêu lên”. Khi nói thế, Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh đến thái độ của con người trước chân lý, nghĩa là không thể câm nín trước sự thật, trước những điều cao cả mà người ta cảm nhận từ chính trái tim mình.

Chúa Giêsu thường không muốn ồn ào, nhưng ở đây Ngài đã tán thành việc làm của các môn đệ, vì biến cố này biểu trưng một ý nghĩa sâu xa về sứ mạng của Ngài, và cũng đã ứng nghiệm lời ngôn sứ Giacaria: “Nào thiếu nữ Xion…, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa…” (Dcr 9, 9). Các môn đệ có hiểu được ý nghĩa việc họ làm không? Hay chỉ là một cảm xúc bốc đồng, một phản ứng theo đám đông, mang tính cao trào trong phút chốc, nhưng sự chân thành của họ lại phù hợp với dự định của Thiên Chúa.

Chúng ta dễ làm chứng cho Chúa Giêsu trong cộng đoàn xứ đạo, vì nơi đây chẳng ai chống báng mình. Nhưng ít dám làm chứng cho Ngài nơi một môi trường khác biệt, và có khi còn thù nghịch với đạo giáo của mình. Trong hoàn cảnh khó khăn và bấp bênh mà đức tin vẫn được tỏ bày, mới nói lên một sức sống mạnh mẽ của Chúa ở trong ta. Có nhiều trường hợp chúng ta không được im lặng mà phải nói lên: nói lên để bênh vực một người đang bị đối xử bất công, nói lên để khích lệ một người đang âm thầm đóng góp cho xã hội, nói lên sự thật để đầy lùi những lời dối trá… Là ánh sáng cho trần gian, ta phải làm chứng cho Chúa giữa chợ đời, vì: “Ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ Ta sẽ tuyên xưng người ấy trước mặt Cha Ta trên trời”.

Ađam đã đi tìm vinh quang bằng cách muốn được “ngang hàng với Thiên Chúa”. Nhiều người cũng đã tìm vinh quang bằng cách khẳng định về bản thân mình. Đức Giêsu không quy về mình, Ngài quy mọi sự về Thiên Chúa, nên Ngài sẵn sàng tự hạ, chọn con đường thấp nhất là đường thập giá. Đó là con đường mà chẳng ai muốn chọn, vì là đường đau thương và tủi nhục, nhưng Ngài đã chọn vì là cách tỏ bày tình yêu sâu thẳm nhất của Thiên Chúa đối với con người. Vì thế, Ngài không đến với quyền lực và binh mã hùng hậu để giương oai thống trị, nhưng Ngài đến trong cô đơn âm thầm để sống thân phận con người và hiến mạng vì con người, để làm giá chuộc cho nhiều người. Đó mới là con đường đưa đến vinh quang thật, không phải thứ vinh quang giả tạo được bao phủ bởi thanh thế hay lớp áo hào nhoáng bên ngoài.

Bước vào Tuần Thánh, chúng ta lại được nghe Bài Thương khó. Chúng ta thấy sự hèn nhát của các môn đệ; thấy lòng dạ xấu xa của những nhà lãnh đạo Do Thái; thấy sự tàn bạo của binh lính… Mọi tình tiết trong sự thương khó của Chúa Giêsu đều liên hệ với mỗi người chúng ta trong cuộc sống. Cần nhìn lại đời sống mình qua từng nhân vật trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu. Trong thinh lặng, chúng ta bước theo chân Ngài trong từng nỗi khổ nhục mà Ngài phải chịu vì lòng dạ bạc ác của con người chúng ta. Chúng ta vẫn còn hành hạ Ngài khi chúng ta tiếp tục đối xử bất công với nhau, khi chưa dám sống cho nhau, khi chưa dám nói lên tiếng nói của sự thật.

Nhìn bên ngoài, coi như Chúa Giêsu đã thất bại, nhưng sự thật lại là một chiến thắng: chiến thắng của sự thiện trên sự ác, của tình yêu trên hận thù, của ánh sáng trên bóng tối, của sự sống trên sự chết. Trong cuộc thương khó, lòng Ngài chẳng có bức bách nào khác ngoài tình yêu: yêu Cha và yêu con người. Chính tình yêu Con Thiên Chúa làm cho đau khổ có một ý nghĩa nhiệm mầu và có một giá trị cứu chuộc. Vinh quang chính là tình yêu được tỏa sáng trong toàn thể đời sống của một con người. Đó cũng là dự định của Thiên Chúa trên cuộc đời của mỗi người chúng ta hôm nay và mãi mãi.

Cầu nguyện

Lạy Chúa Giêsu!
Ngày nay người ta bày ra mọi thứ vui chơi,
tránh khơi lên những buồn sầu thống khổ,
để đau thương không còn chỗ trong đời.

Nhưng chẳng ai thoát khỏi những khổ đau,
bởi thân phận con người là như thế,
và cuộc sống nhân trần như bến mê,
phải tìm đường ngay nẻo chính để đi về.

Nhưng khổ đau là một điều sâu nhiệm,
và phúc cho ai nếu đã từng trải nghiệm,
để nhìn khổ đau như một điều cần thiết,
chứ không như sự dữ phải loại trừ.

Đau khổ có thể làm con giác ngộ,
khám phá ra con người và Thiên Chúa,
một con người mỏng manh và yếu đuối,
và Thiên Chúa là nguồn suối của tình yêu.

Chúa đã cứu chuộc bằng đau khổ,
cho con thấy sức mạnh của tình yêu,
có thể gánh chịu muôn vàn nỗi,
để đánh đổi cho đời sự sống đẹp tươi.

Xin cho con đừng loại trừ đau khổ,
không tránh né để tìm chỗ yên thân,
nhưng giúp con luôn sẵn sàng tiếp nhận,
để đời con được thông phần với Chúa.

Như cây kia sau nắng hạ mưa dầm,
sau ngày tháng âm thầm trong hoang dại,
cũng tới lúc cành đâm bông kết trái,
cho con người mùa gặt hái bội thu.

Xin cho cây đời con cũng thế,
chẳng sợ gì khi mưa gió tràn về,
vì tin Chúa vẫn yêu con nhiều vô kể,
để con vui đón lấy mọi đau thương,
dám vượt trên những lối sống tầm thường,
về tới bến thiên đường con mong ước. Amen.

Về mục lục

VINH QUANG VÀ KHỔ NHỤC

Jorathe Nắng Tím

Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật Lễ Lá dẫn chúng ta vào hai tình huống đối nghịch, hai thế giới trái ngược, hai biến cố lịch sử quan trọng cách nhau vài ngày, nhưng mức độ khác biệt thì không ai có thể tưởng tượng, tiên liệu, và Con Người đi giữa những đối nghịch, trái ngược, khác biệt ấy chính là Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người.

Đối nghịch khi đám đông như rừng “fan” hâm mộ náo nức tuốn đến chào đón Đức Giêsu như Vua khi Ngài tiến vào thành Giêrusalem cùng các môn đệ, bằng “lấy áo choàng trải xuống mặt đường”, bẻ cành lá ôliu và hô vang “Chúc tụng Đức Vua, Đấng ngự đến vinh danh Chúa! Bình an trên cõi trời cao, vinh quang trên các tầng trời!” (Lc 19, 36. 38), nhưng chỉ vài ngày sau, vì áp lực của giáo quyền Do Thái, cũng chính đám đông này trước mặt quan tổng trấn Philatô, đại diện chính quyền bảo hộ Rôma đã điên cuồng “la to, nhất định đòi phải đóng đinh Ngài” (Lc 23,23). Thấy đám đông quá khích và sẵn sàng manh động do bị các chức sắc trong đạo dẫn dắt, Philatô đành nhượng bộ giao Đức Giêsu  cho họ đem đi đóng đinh vào thập giá, măc dù ông biết rõ Ngài vô tội, bị vu khống, cáo buộc oan uổng (x. Mt 27,20-26).

Trái ngược khi mọi người reo hò inh ỏi, vang dậy cả một vùng trời, khi thấy Đức Giêsu “đến gần chỗ dốc xuống núi Ôliu”. Họ bắt đầu cùng các môn đệ hớn hở vui mừng “lớn tiếng ca tụng Thiên Chúa vì các phép lạ họ đã được thấy” và tung hô Ngài là Vua Ítraen, nhưng không lâu sau, họ đối xử với Ngài như kẻ tội đồ, tên tội phạm nguy hiểm, khi lính tráng “lột áo Người ra, khoác cho Người một tấm áo choàng đỏ, rồi kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người, và trao vào tay mặt Người một cây sậy. Chúng qùy gối trước mặt Người mà nhạo rằng: “Vạn tuế Đức Vua dân Do Thái!” Rồi chúng khạc nhổ vào Người và lấy cây sậy mà đập vào đầu Người” (Mt 27, 28-30).  “Các thượng tế, kinh sư và kỳ mục  cũng chế giễu Người mà nói: “Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình … Hắn cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, chúng ta tin hắn liền ! Hắn cậy vào Thiên Chúa, thì bây giờ Người cứu hắn đi, nếu qủa thực Người thương hắn!” (Mt 27,41-43).

Hoàn toàn khác biệt khi quần chúng những ngày trước đây bất chấp những chống đối và ngăn cấm của giáo quyền đã mạnh dạn  kéo đến và vang lời tung hô Đức Giêsu, làm cho “vài người thuộc nhóm Pharisêu đến nói với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, Thầy trách môn đệ Thầy đi chứ!”, nhưng Người đáp lại: “Tôi bảo các ông: họ mà làm thinh, thì sỏi đá cũng sẽ kêu lên!” (Lc 19, 39-40). Họ là đám đông đã “tìm Người, đến tận nơi Người đã đến, và muốn giữ Người lại, kẻo Người bỏ họ mà đi” (Lc 4, 42), nhưng hôm nay, cũng đám đông này bỏ rơi Ngài, và “mắng chửi dể duôi.. lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai” (Tv 21, 7).

Trong cuộc sống, mỗi người chúng ta ít nhiều cũng đã trải qua những cảnh “đối nghịch, trái ngược, khác biệt” của tình đời đen bạc, của lòng người đổi trắng thay đen. Nhưng dù sao chúng ta đều là con người nhiều giới hạn, đầy khuyết điểm, lắm lầm lỗi, nên có bị người phản bội, bị đời quay xe, trở mặt âu cũng là chuyện thường tình, dễ hiểu. Nhưng với Đức Giêsu, Đấng đã không làm gì nên tội, trái lại đã thương yêu, thi ân, chúc phúc cho mọi người, và chữa lành, cứu sống nhiều người lại mang thân phận tôi tớ, nô lệ và chịu bản án dành cho kẻ tội đồ thì qủa là chuyện không bình thường.

Sở dĩ không bình thường đối với con người, vì đó là con đường cứu chuộc của Thiên Chúa, con đường mà loài người không thể quan niệm, nghĩ ra khi Con Một của Ngài trở thành người tôi tớ như ngôn sứ Isaia đã tuyên sấm: “Đây là người tôi trung Ta nâng đỡ, là người Ta tuyển chọn và hết lòng qúy mến, Ta cho thần khí Ta ngự trên người: người sẽ làm sáng tỏ công lý trước muôn dân. Người sẽ không kêu to nói lớn, không để ai nghe tiếng giữa phố phường. Cây lau bị giập, người không đành bẻ gẫy, tim đèn leo lét, cũng chẳng nỡ tắt đi” (Lc 42,1-3). Và người tôi trung ấy, vì vâng phục Thiên Chúa Giavê “đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu.., không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ .. ” (Is 50,6).

Không bình thường đối với con người, vì chính Đức Giêsu, người tôi trung  đã vâng lời Thiên Chúa Giavê thực hiện kế hoạch cứu chuộc là mầu nhiệm vượt xa hiểu biết của con người khi Người “hoàn toàn trút bỏ vinh quang  mặc lấy thân nô lệ trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,7-8).

Không bình thường, vì con người khó có thể  đón nhận sự thật “Thiên Chúa làm người” chết cho con người vì yêu thương con người  và để cứu chuộc con người, như các môn đệ đã không muốn nghe Đức Giêsu loan báo: “Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16,21), bằng chứng là tông đồ trưởng Phêrô đã lập tức “kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!”. Nhưng Đức  Giêsu quay lại bảo ông Phêrô: “Xatan, lui lại đằng sau Thầy.  Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt 16,22-23).

Vâng, Tuần Thánh dẫn chúng ta đi vào mầu nhiệm tình yêu cứu chuộc của Thiên Chúa được thực hiện giữa loài người bởi Ngôi Lời là Đức Giêsu Kitô, mầu nhiệm mà chỉ Thần Khí Thiên Chúa mới cho chúng ta hiểu và đón nhận được, như Thần Khí đã làm cho chúng ta nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên: “Ápba! Cha ơi!” với Thiên Chúa khi cầu nguyện.

Về mục lục

BỨC TRANH :BA THẬP GIÁ”

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Một trong những bức tranh nổi tiếng nhất của danh họa Rembrandt, người Hoà Lan, sống vào thế kỷ 17, đó là bức tranh “ba thập giá”. Nhìn vào tác phẩm, ai cũng bị thu hút ngay vào trung tâm: giữa thập giá của hai người bất lương, thập giá của Chúa Giêsu nổi bật lung linh trong mầu nhiệm đau thương và cứu độ. Dưới chân thập giá là cả một đám đông, gương mặt nào cũng biểu lộ hận thù oán ghét…giữa nét đau khổ của hai tử tội, hận thù của đám đông là dung mạo Đấng Chịu Đóng Đinh hiền hòa chan chứa tình thương.

Tuần Thánh bắt đầu từ Chúa nhật Lễ Lá. Cử hành phụng vụ hôm nay khởi sự bằng việc làm phép lá và đi kiệu lá. Cộng đoàn đi kiệu để tưởng niệm việc Chúa Cứu Thế khải hoàn tiến vào thành Giêrusalem. Ngay sau đó là Thánh Lễ tưởng niệm cuộc Khổ nạn, đặc biệt với việc đọc Bài Thương khó. Việc cử hành hôm nay với hai nhịp tương phản, mang hai sắc thái nghịch nhau : người Do thái tung hô Chúa Cứu Thế, ngập tràn tiếng reo vui, sau đó họ đòi lên án tử hình Người và cuộc thương khó đầy máu nước mắt.

Ôi nhân tình thế thái, sao mau đổi trắng thay đen!

Màu đen sự dữ, màu trắng tinh khôi bàng bạc trong bức tranh “ba thập giá” và cuộc thương khó.

  1. Sắc đen sự dữ

Chìa khóa để đọc tất cả những sự vô lý, bất công, phi đạo đức trong vụ bắt và xét xử Chúa Giêsu là: quyền lực của tối tăm. Bốn sách Tin Mừng đều kể rằng Chúa Giêsu bị bắt ban đêm. Matthêu, Maccô và Gioan kể một đám người mang gươm giáo gậy gộc do các thượng tế, kỳ mục, Pharisêu sai đến. Thánh Luca lại nói có cả các thượng tế, lãnh binh Đền Thờ và kỳ mục ở trong bọn người mang gươm giáo gậy gộc. Trong đêm tối, đang khi Chúa Giêsu cầu nguyện thì giới lãnh đạo cao nhất của dân Do thái đã hội họp tại nhà thủ lãnh của họ, sai thuộc hạ đi bắt Chúa Giêsu theo sự hướng dẫn của Giuđa, người môn đệ phản Thầy. Họ ngồi chờ để kết án ngay trong đêm.Phiên họp ban đêm này do chính Caipha, chủ tịch Thuợng Hội Đồng chủ sự. Thánh Matthêu kể: “Các thượng tế và toàn thể Thượng Hội Đồng tìm chứng gian buộc tội Đức Giêsu để lên án tử hình” (Mt 26,59). Họ dùng chứng gian vu khống và xuyên tạc chụp mũ để kết án tử hình Đức Giêsu (Mt 26,60-61; Mc 14,59).

Trong bộ phim 12 giờ cuối cùng của Chúa Giêsu, nhà đạo diễn đã hoạ lại hình ảnh của đêm tối vườn Cây Dầu. Đó là đêm tối của đức tin và cũng là đêm tối của lòng người.

Bộ phim bắt đầu với cảnh Chúa Giêsu đưa các môn đệ lên núi cầu nguyện vào một đêm đen như bao đêm khác.Thế nhưng, đêm nay khác hẳn mọi đêm. Bóng tối của sự dữ phủ kín, bóng đêm của quyền lực Satan bao trùm. Đêm nay, bóng tối của sự dữ hoành hành. Đêm nay, quyền lực của Satan như muốn thống lãnh thế gian. Con người đã toa rập với Satan để giết hại Con Thiên Chúa. Đêm tối vườn Cây Dầu chỉ còn lại một mình Chúa cô đơn.

Giuđa tới đó, dẫn một toán quân cùng đám thuộc hạ của các Thượng tế và nhóm Pharisiêu; họ mang theo đèn đuốc khí giới…” (Ga 18,3). Người ta phải sử dụng đèn, đuốc…chứng tỏ họ đang ở trong bóng tối. Họ sử dụng khí giới tức là tựa vào sức mạnh và quyền lực thế gian. Với những từ ngữ này, Thánh Gioan giới thiệu họ như là biểu tượng của sức mạnh thế gian và quyền lực bóng tối. Giữa bóng đêm của vườn Cây Dầu thấp thoáng những khuôn mặt hung tợn với gươm giáo gậy gộc, xâu xé tấm thân đơn độc của Chúa Giêsu. Bóng tối như tiếp tay cho những hành động lén lút, bắt giữ bất minh. Màn đêm đó cũng che kín lý trí của những người tham dự phiên tòa bóng tối. Tất cả mọi chứng cứ kết án đều nằm trong vòng tròn gian dối. Mọi sự vật lúc này như nhuốm một màu đen đồng lõa cho sự dữ. Màu đen của những tâm hồn đen tối che lấp luôn cả màu đen của bóng đêm âm u. Đây là đêm của hận thù. Đây là giờ của bóng tối. Đây là thời điểm của xấu xa ngự trị. Không ai còn có thể nhận ra được ánh sáng chân lý trong màu đen của ác tâm.

Và trong các giờ kế tiếp, bóng tối càng bao trùm. Chúa Giêsu càng lẻ loi cô độc hơn.

Kể từ khi Giuđa bước ra khỏi phòng Tiệc Ly thì trời tối đen. Giuđa lẩn vào bóng đêm với đôi tay đen đúa nhận lấy những đồng bạc là giá máu của Thầy mình. Thánh Gioan trình bày, Giuđa rõ ràng thực hiện công việc này dưới tác động của Satan. Khi Giuđa rời phòng Tiệc Ly, “lúc đó, trời đã tối” (Ga 13,30). Trời tối bên ngoài chưa quan trọng. Ở đây, trời tối trong tâm hồn Giuđa. Đối với Gioan, Giuđa trong hành động nộp Chúa Giêsu đã thật sự là hiện thân của quyền lực bóng tối, đối lại với Chúa Giêsu là ánh sáng tinh tuyền.

Giuđa khoác lên trái tim màu đen của tội lỗi qua nụ hôn phản bội.Từ đó, bóng tối của sự dữ đã bao trùm lên Thượng Hội Đồng từ Thượng tế Caipha đến các Luật sĩ và Kỳ mục. Bóng tối như đồng lõa và biện minh cho mọi âm mưu thâm độc của những người đại diện cho lề luật.

Những mảng đen được tô đậm lên trên bức tranh Tình Yêu Giêsu, không phải bằng những nét vẽ dịu dàng, những nét chấm phá đặc sắc nhưng là những vết màu ngoằn nghèo, vô lối. Tình Yêu Giêsu lúc này đang bị tàn phá theo từng vết đen xấu xa của đám đông. Bóng tối đã làm tất cả mờ ảo trong điên cuồng. Mọi âm mưu đã được trù tính cẩn mật. Mọi lý lẽ độc dữ đã được hoạch định. Mọi hành vi được thực hiện ngay trong bóng tối của thần chết. Cứ thế, từng mảng đen tội lỗi như được dịp trút hẳn xuống Đức Giêsu, như muốn nhuộm đen toàn bộ cuộc đời và tình yêu của Ngài bằng mọi cách và mọi phương tiện. Ngài bị cho là đồ mê ăn uốnglà phường tội lỗi. Ngài bị liệt vào hàng trộm cướp, hàng nô lệ cùng đinh. Ngài bị xem là phường gian dối, tiên tri giả. Ngài bị kết án là quân nói lộng ngôn, phạm thượng. Ngài bị xử tử vì bị gán cho việc kích động phản loạn. Đám đông dân chúng, từ những tên đầy tớ mạt hạng đến những bậc vị vọng, từ những người quen biết đến cả khách thập phương không từ chối điều gì để bôi đen con người Đức Giêsu. Ngài đã bị nhúng xuống bùn nhơ của sự khinh miệt, phỉ báng. Ngài đã bị đày đọa tận cùng của kiếp làm người.(x. Cuộc khổ nạn của Đức Giêsu qua tấm khăn liệm Turin, trang 252-253).Tình Yêu Giêsu đã bị tội lỗi nhân loại nhuộm đen màu tăm tối. Cuộc đời Chúa Giêsu đã bị dã tâm con người hủy hoại trong bóng đêm của sự bêu riếu, sỉ nhục và cái chết trần trụi thương đau. Nào ai có thể tin vào con người tàn tạ như thế! Còn ai có thể trông cậy vào con người yếu đuối bất lực này!!!

  1. Sắc trắng thanh khiết

Tưởng chừng như bức tranh cuộc đời của Đức Giêsu chỉ là một vệt đen khiếp đảm với những ẩn tình vô lối mà nhân loại áp đặt lên chân dung Ngài. Nhưng thật nhẹ nhàng và linh động, Tình Yêu Giêsu như ngọn bút tài hoa đã gợi mở những nét vẽ thật diễm tuyệt. Tình Yêu sáng lên một màu trắng tinh khôi và mênh mang huyền ảo của trái tim thanh khiết trao ban đến tận cùng.

Tình Yêu ấy không mang một chút bợn nhơ của hận thù chia cắt nhưng lóng lánh sắc màu hồng tươi của Tình Yêu phục hồi và giải thoát. Tình Yêu ấy chấp nhận tất, dâng hiến tất cả để xóa đi mặc cảm tội lỗi của con người, cho con người cái nhìn mới của Thần Khí, cái nhìn của Thiên Chúa trong một tổng thể toàn vẹn và đưa con người đến với Tình Yêu sung mãn tuyệt hảo của Thiên Chúa. (x. Cuộc khổ nạn của Đức Giêsu qua tấm khăn liệm Turin, trang 254-255).

Màu đen sắc tối của con người đã được Tình Yêu Giêsu làm cho trắng tinh và trả lại sự trong sáng trong Sự Thật. Ngài đã đáp trả lại tất cả mọi bất công và hận thù bằng lòng bao dung tha thứ. Khổ đau của Thập Giá Đức Kitô không bao giờ là nỗi đau của hận thù, oán ghét mà luôn mang dáng đứng của tình yêu và sự khoan dung tha thứ. Trên thập giá, Chúa Giêsu đã cầu nguyện cùng Chúa Cha: “Xin Cha tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm”. Hơn thế nữa, Ngài công bố ơn cứu độ của Thiên Chúa ngay trên thập giá, lúc mà thế trần nhìn thấy Ngài trần trụi và yếu đuối nhất, khi Ngài ôm trọn con người tội lỗi trần gian qua hình ảnh tên gian phi biết cúi mình nhận ra Chân Lý: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43). Đức Giêsu đã xóa màu đen ghê tởm của sự dữ trong lòng con người qua việc phục hồi giá trị của mỗi nhân vị và đưa nhân loại đến với Thiên Chúa qua Tình Yêu toàn tha của Ngài. Đức Giêsu đã dùng cạn hết mọi dấu chỉ của thế trần để biểu lộ Tình Yêu thâm sâu của Ngài cho chúng ta. Đó là màu trắng thanh khiết nhất và là ánh sáng đẹp nhất mà nhân trần này có thể chiêm ngưỡng.

  1. Trắng đen trong lòng người.

Tiến bước theo Chúa Giêsu trong cuộc thương khó, chứng kiến sự thay đổi nhanh chóng của lòng người, thấy sự tráo trở thay lòng đổi dạ, đổi trắng thay đen của nhân tình thế thái, chúng ta thấy bàng bạc một màu đen của những ý đồ xấu xa, những manh tâm gian ác và những hành vi tội lỗi thấp hèn và thấy sáng lên tình yêu thanh khiết của Đấng Cứu Độ.

Cuộc đời hôm nay vẫn còn đó những sắc tối của lòng người. Dòng đời hôm nay vẫn còn đó những con người công chính, lương thiện lại là nạn nhân của bất công, gian dối và tham lam. Biết bao người đã để cho bóng tối của lòng tham nổi loạn đến nổi sẵn sàng chà đạp và lường gạt nhau. Biết bao người vì lòng tham, vì tính ghen tương đố kỵ,vì thói tự mãn kiêu căng vẫn đang tìm cách làm khổ nhau và làm hại đời nhau. Bao lâu lòng người còn chất chưa những ý đồ bất chính, những thủ đoạn lừa lọc, những ích kỷ nhỏ nhen, bấy lâu vẫn còn đó những con người lương thiện bị đe doạ, bị hành hạ và bị loại trừ.

Con người thời nay vẫn nhân danh hạnh phúc của riêng mình để kết án tử cho người khác, nhất là các thai nhi vô tội. Họ giết người vô tội không cần bản án, không cần thẩm phán hay quan toà. Tử tội thai nhi đã bị giết, chỉ vì một bà mẹ không muốn sinh con. Cả xã hội từ ông bà, cha mẹ, họ hàng và các người hành nghề lương y đã sẵn sàng giết chết sự sống của một sinh linh không có khả năng tự vệ. Biết bao cha mẹ đã viện ra nhiều lý do để loại trừ những đứa con của mình cách dửng dưng vô cảm.

Điều ác và sự thiện cũng chỉ là sự khác biệt của hành động rút gươm “hãy xỏ gươm vào bao, vì tất cả những ai dùng gươm sẽ chết vì gươm” (Mt 26,52). Khi tất cả mọi lưỡi gươm được cất vào vỏ, sự thiện và thiên đàng đang ở giữa lòng thế giới. Khi thanh gươm được rút khỏi bao, nhân loại đang đắm chìm trong hỏa ngục của chính mình. Con người luôn muốn hành xử tất cả theo lối quyền uy và bạo lực của bóng tối. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã dùng một phương cách kỳ lạ để cho con người thấy đâu là sự thật nhân loại cần hướng về. Qua Ngài, những cơn cuồng nộ của sự dữ, những bão táp của nhục hình, những tiếng thét hận thù như bị cuốn vào một lực hút vô hình của Tình Yêu thanh khiết. Sức của của tình yêu nơi Chúa Giêsu đã thâu tóm mọi sự xấu xa độc dữ của nhân loại và hóa giải tất cả để biến nên những giá trị mới của hiền lành, khiêm nhường và khoan dung.(x. Cuộc khổ nạn của Đức Giêsu qua tấm khăn liệm Turin, trang 258-260).

Chúa Giêsu không quỵ lụy, không riên xiết trong cuộc khổ nạn, nhưng Ngài luôn kiên cường và nhẫn nại để mời gọi và mở ra cho nhân loại một cái nhìn về chân lý, về tình yêu, về một Thiên Chúa yêu thương đến cùng. Chúa Giêsu không oán trách hay hận thù ai, Ngài vượt lên trên tất cả bằng tình thương tha thứ. Chúa Giêsu đã biểu lộ sức mạnh của tình yêu, sức mạnh của niềm tin và phó thác trọn vẹn cho Thiên Chúa. Chính sức mạnh tình yêu đã làm mọi chia rẽ được hàn gắn, mọi hận thù được xóa bỏ và mọi xa cách được nên hiệp nhất. Chúa Giêsu đã hợp nhất nhân loại trong trái tim rộng mở của Ngài, trái tim chỉ có tình yêu thanh khiết. Ngài nâng con người lên giá trị cao hơn trong sự kết hiệp với tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu Nguyên Tuyền.

Ánh Sáng Tình Yêu chính là Ánh Sáng Phục Sinh. Ánh Sáng ấy không làm mờ đi bóng cây thập giá nhưng lại mang một ý nghĩa và sắc màu huyền diệu lung linh. Tin và bước theo Chúa Giêsu, chúng ta được tháp nhập vào tình yêu thanh khiết của Ngài, nhờ đó cuộc sống luôn có niềm vui bình an và hạnh phúc. Thánh Gioan đã đi trọn cuộc khổ nạn cùng với Chúa Giêsu và đã viết những lời thật đẹp, thật ý vị về Tình Yêu Chúa Giêsu: “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta. Anh em thân mến, nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế, chúng ta cũng phải yêu thương nhau.Thiên Chúa chưa ai được chiêm ngưỡng bao giờ.Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, và tình yêu của Người nơi chúng ta mới nên hoàn hảo”. (1Ga 4,10-12).

Về mục lục

BƯỚC THEO CHÚA GIÊSU KHỔ NẠN VÀ PHỤC SINH

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Khai mạc Tuần Thánh với nghi thức làm phép Lá, kiệu Lá kèm theo những bài hát reo hò vang dội phấn khởi mừng vui. “Dọc đàng, người ta trải áo trên lối đi. Khi Người đến gần triền núi Cây Dầu, tất cả đoàn môn đệ hân hoan lớn tiếng ca ngợi Chúa về mọi phép lạ họ đã thấy mà rằng: “Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến! Bình an trên trời và vinh quang trên các tầng trời” (Lc 19, 36-38). Giờ đây mỗi người cầm cành lá trong tay vừa đi vừa hát “Hoan hô Thế Tử nhà Đavít…” thấy thật là vui.

Đám đông dân chúng đón rước Chúa lúc đó hân hoan, ngợi khen, chúc tụng, đúng là một bầu khí vui mừng mà chúng ta cảm nghiệm được khi tái cử hành biến cố năm xưa hôm nay. Chúa Giêsu, Thái Tử nhà Đavít tiến vào Giêrusalem đã khơi dậy lên bao nhiêu niềm hy vọng nơi tâm hồn những người đơn sơ, nghèo khổ, bị lãng quên, những người không đáng kể gì trong xã hội. Thế giới chúng ta sống đang rất cần tình thương đó.

Toàn bộ sứ mạng của Người Tôi Tớ Đau Khổ được Isaia tóm lại: lắng nghe để huấn luyện, huấn luyện để loan báo: “Người thức tỉnh tai tôi, để nghe lời Người giáo huấn … Chúa đã ban cho tôi miệng lưỡi đã được huấn luyện, để tôi biết dùng lời nói nâng đỡ kẻ nhọc nhằn.” (x. Is 50, 4-7).

Chúa Giêsu vốn dĩ là Thiên Chúa, chia sẻ tất cả vinh quang của loài người và vinh quang Thiên Chúa: “Đã trở nên giống như loài người, với cách thức bề ngoài như một người phàm” (Pl 2,7). Là con người, một tạo vật có giới hạn trong thời gian, gắn liền với khổ đau, ngược đãi và bị giết chết. Trở nên giống phàm nhân, ngoại trừ tội lỗi. Dù là Đấng vô tội, Chúa Giêsu đã khước từ vinh quang của Con Thiên Chúa và trở thành Con của loài người, để liên đới với chúng ta là những người tội lỗi. Không những thế, Người đã sống giữa chúng ta trong một “điều kiện của kiếp nô lệ”: không phải như là vua, cũng không phải là ông hoàng, nhưng là nô lệ. Người đã hạ mình, và vực thẳm sự hạ mình của Người mà Tuần Thánh cho chúng ta thấy xem ra không có đáy, “vâng lời cho đến chết” (Pl  2,8), đành mất tất cả để có được vinh quang trở về với Thiên Chúa.

Bị hạ nhục trong tâm hồn với các chế nhạo, xỉ vả, và khạc nhổ,  thân xác phải chịu đánh đập, đòn vọt và mạo gai khiến cho diện mạo của Người không còn hình tượng người ta nữa. Trước quyền bính tôn giáo và chính trị: Ngài đã tự biến thành tội nhân và bị coi là bất chính.

Sau khi bị bán với 30 đồng bạc và bị phản bội bởi một môn đệ Người đã chọn và gọi là bạn. Người bị nộp vào tay kẻ dữ, bị mạc cả với kẻ sát nhân, phải vác thánh giá nặng nhục nhã và bị nhạo báng như tên nô lệ. Người khiêm nhường đến độ không còn được tôn trọng. Người đã tự hủy mình ra không, không còn sức để vác cây thập giá. Người đã cảm nhận trên da thịt mình sự dửng dưng, bởi vì không ai muốn lãnh trách nhiệm đối với số phận của Người. Dân chúng biến các lời chúc tụng thành tiếng kêu tố cáo, thích cho kẻ sát nhân được trả tự do cho họ hơn. Và thế là Chúa bị chết trên thập giá, là cái chết đớn đau và hổ nhục nhất dành cho các kẻ phản bội, nô lệ và các kẻ tội phạm tồi tệ nhất.

Chúa không đòi cho mình một đặc quyền đặc lợi nào, chẳng là gì trước sự tàn bạo của binh lính, kể cả Simon người Cyrênê, Chúa cũng chẳng là gì, ông kề vai vác đỡ, chẳng qua ông bị bắt vác mà thôi. Ông không biết ý nghĩa, cử chỉ vác thánh giá này. Những người nhạo báng hay tên lính lấy bọt biển nhúng giấm cho Chúa uống, họ có hiểu được không?

Ba năm mỏi chân đi giảng đạo cho muôn dân, với những phép lạ Chúa không giúp cho họ khám phá con người thật của Chúa Giêsu. Trong vườn Cây Dầu, một mình đối diện với Chúa Cha, Chúa không xin điều gì: ngoại trừ xin ơn tha thứ cho những ai làm khốn mình, vì Chúa đến để mang ơn tha thứ cho mọi người: “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm” (Lc 23, 34).

Cùng chịu đóng đanh với Chúa Giêsu có hai tên trộm cướp, một đứa bên trái, một đứa bên phải. Một kẻ nhạo báng Chúa, còn kẻ kia thừa nhận mình là kẻ có tội: “Chúng ta phải chịu xứng với việc chúng ta đã làm” (Lc 23, 41).

Một trong hai tên trộm thưa Chúa Giêsu rằng:  “Xin nhớ đến tôi cùng…” (Lc 23, 41). Chúa Giêsu trả lời ngay lập tức: “Quả thật, Ta bảo ngươi: ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta” (Lc 23, 42). “Vào khoảng giờ thứ sáu, tối tăm liền bao trùm cả mặt đất cho đến giờ thứ chín…màn trong đền thờ xé ra” (Lc 23,44-45). Chúa Giêsu trút hơi thở trao phó linh hồn trong tay Chúa Cha và từ nay, chắc chắn Người là tác nhân Phục Sinh, hoàn tất điều có thể trao ban. Lòng thương xót của Chúa chạm tới con tim của viên quản bách quân, khiến anh ngợi khen vinh quang Thiên Chúa, và đám đông cảm thấy nhu cầu cần thiết phải được tha thứ liền đấm ngực ăn năn trở về mừng lễ Vượt Qua.

Lạy Chúa, chúng con vừa cử hành các mầu nhiệm thánh, Chúa đã ban cho chúng con được thỏa chí toại lòng. Nhờ Con Một Chúa chịu khổ hình thập giá, Chúa làm cho chúng con tin tưởng vững vàng sẽ được ơn cứu độ, thì nhờ mầu nhiệm Người đã phục sinh, xin cho chúng con đạt tới quê trời như lòng hằng mong ước. Amen.

Về mục lục

NGÀI YÊU THƯƠNG NHÂN LOẠI ĐẾN CÙNG

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Trong cuộc khổ nạn, sau khi Chúa Giê-su bị lùng bắt giữa đêm khuya như một tên gian phi và bị kết án bất công trước tòa Phi-la-tô, Ngài bị đánh đòn dã man, tàn bạo… rồi phải vác thập giá lảo đảo lên đồi Can-vê. Đến nơi, Ngài bị lột trần và trải qua cơn đau khủng khiếp khi đội hành quyết đóng đinh tay chân Ngài vào thập giá. Sau đó, Ngài chịu treo thân trần trụi trên thập giá cho ruồi mòng chích hút, lại còn bị bao người qua lại phỉ báng, thách thức, nhạo cười…

Dù vậy, Chúa Giê-su không thù không oán, không dùng lời lăng mạ để đáp lại lăng mạ, không xuống khỏi thập giá để tiêu diệt quân thù, không dùng quyền năng mà trừng trị những tên khốn kiếp… Trái lại, Ngài nhìn họ bằng ánh mắt xót thương. Ngài sợ Chúa Cha trừng phạt họ vì tội ác tày trời đã gây ra, nên trước khi tắt thở, Ngài ngước mắt lên trời, tha thiết cầu xin Cha tha thứ cho những kẻ gây đau thương khốn đốn cho Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34).

Ôi! Tuyệt vời biết bao! Chỉ có Chúa Giê-su là Đấng duy nhất trên đời đã tỏ lòng thương xót và tha thứ cho kẻ lăng nhục, hành hạ, phỉ báng và giết chết Ngài… đến mức cao vời như thế mà thôi.

Đối với quân gian ác đã nhẫn tâm sỉ nhục, hành hạ và đóng đinh Ngài cách hung bạo đến thế mà Ngài vẫn bao dung, thương xót và cầu nguyện cho họ, thì chẳng còn ai trên đời lại bị Chúa bỏ rơi!

Như vậy, Chúa Giê-su trải rộng tình thương Ngài cho hết mọi người; chẳng có ai trên đời không được Chúa xót thương.

Như lòng mẹ đại dương ôm trọn mọi loài tôm cá vào lòng mình thế nào thì tình thương bao la của Chúa Giê-su cũng ấp ủ hết mọi người như thế. Ngài không để bất cứ ai ở ngoài biển thương xót của mình; trái lại mỗi người đều có chỗ đặc biệt trong Trái tim Chúa Giê-su. Cho dù mọi người trên thế gian có ruồng bỏ bạn đi nữa thì Chúa Giê-su vẫn không bao giờ ruồng bỏ nhưng luôn ấp ủ bạn vào lòng.

Lạy Chúa Giê-su,
Chúa yêu thương chúng con hết lòng hết sức trên hết mọi sự nên đã hiến thân chịu đau thương khốn khổ và chấp nhận chịu chết để đổi lấy sự sống đời đời cho chúng con. Tình thương Chúa thật bao la vô hạn. Chúng con biết lấy gì đáp nghĩa, đền ơn?

Xin cho chúng con đừng bao giờ phạm tội làm mất lòng Chúa nhưng cố sống sao cho đẹp lòng Chúa mỗi ngày. Amen.

Về mục lục

VỤ ÁN GIÊSU

Lm Phêrô Nguyễn Văn Hương

Cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá không phải là một biến cố ngẫu nhiên xảy ra. Nhưng là điểm tới và tột đỉnh của một quá trình đối kháng giữa Chúa Giêsu với những người Do Thái và giới lãnh đạo tôn giáo, xã hội thời đó. Đây là sự kiện lịch sử được các Tin Mừng tường thuật. Theo đó, Chúa Giêsu bị kết án tử hình vì những lý do sau đây:

1- Vi phạm lề luật Môsê

Đối với người Do Thái, lề luật nắm giữ vai trò quan trọng trong đời sống của họ. Lề luật là do Thiên Chúa ban. Vì thế, lề luật có một vị trí thượng tôn, phải được tuân giữ một cách cẩn thận và đầy đủ.

Chúa Giêsu bị nhóm Pharisêu và các kinh sư kết án vì tội đã vi phạm luật Môsê khi các môn đệ Người dùng bữa mà không rửa tay và khi Chúa Giêsu trừ quỷ trong ngày Sabát (x. Mc 3,1-6 và 7,1-7).

Thực ra, Chúa Giêsu không chống lại Luật Môsê. Trong bài giảng trên núi, Đức Giêsu đã tuyên bố: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Môsê hoặc lời các Ngôn sứ. Thầy đến không phải để bãi bỏ nhưng là để kiện toàn” (Mt 5,17).

Tuy nhiên, Chúa Giêsu bị vu cáo vì đã vi phạm luật Môsê, bởi vì Người đã chỉ trích các luật sỹ và các kinh sư về cung cách giữ luật của họ quá câu nệ và vụ hình thức. Họ quá chăm chú tuân giữ những điều luật do truyền thống đặt ra mà lãng quên điều chính yếu và ý nghĩa của lề luật. Đến nỗi những truyền thống này đi ngược lại với điều răn của Thiên Chúa (x. Mc 7,1-23). Đây là sự đối kháng thứ nhất mà Chúa Giêsu phải đối diện.

2- Xúc phạm đến Đền Thờ

Đền Thờ là trung tâm đời sống tôn giáo của người Do Thái. Vì thế, ai xúc phạm đến Đền Thờ thì bị kết án tử hình.

Chúa Giêsu cũng dành cho Đền Thờ Giêrusalem sự tôn kính đặc biệt. Nơi đó, Người đã được cha mẹ hiến dâng cho Thiên Chúa (x. Lc 2,22-31). Hằng năm Người đã đến hành hương lên Đền Thờ khi sống tại Nadarét (x. Lc 2,31). Sứ vụ rao giảng của Chúa Giêsu cũng gắn liền với những lần hành hương về Đền Thánh.

Vì thế, trong dịp lễ Vượt Qua vào năm 27, Chúa Giêsu lên Giêrusalem mừng lễ. Người cảm thấy khó chịu khi thấy người ta buôn bán chiên bò, bồ câu và đổi tiền trong Đền Thờ. Người đã lấy dây làm roi xua đuổi tất cả ra khỏi Đền Thờ (Ga 2,16). Khi người Do Thái hỏi Người lấy quyền nào để làm như thế, Chúa Giêsu đã trả lời: “Các ông cứ phá hủy Đền Thờ này đi, nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại” (Ga 2,21-22). Qua câu nói này, Chúa Giêsu muốn báo trước về cuộc thương khó của Người. Đền Thờ ở đây ám chỉ thân thể Người.

Chúa Giêsu đã loan báo sự tàn phá ngôi Đền Thờ tráng lệ này, sẽ không còn viên đá nào trên viên đá nào (x. Mt 24,1-2). Những lời tiên tri của Người bị bóp méo bởi những chứng gian, khi Người bị các Thượng Tế chất vấn. Dựa vào đó, người ta cáo buộc Người vì tội đã xúc phạm Đền Thờ (Mt 26,61).

3- Tội phạm thượng

Đức Giêsu bị vu cáo vì tội phạm thượng khi xưng mình là Con Thiên Chúa (Ga 10,33) và tự cho mình có quyền tha tội (Mc 2,7).

Đức Giêsu mạc khải về Thiên Chúa Ba Ngôi. Trong đó, tương quan giữa Người với Thiên Chúa là tương quan Cha và Con. Thiên Chúa là Cha của Người và Người là Con Thiên Chúa. Chính sự mới mẻ này trở thành sự đối kháng về niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất của người Do Thái. Đối với họ, Thiên Chúa là Đấng độc nhất; không người nào ngang hàng với Thiên Chúa; chỉ một mình Thiên Chúa mới có quyền tha tội.

Mặc dù chứng kiến rất nhiều phép lạ Chúa đã làm, nhưng giới lãnh đạo Do Thái vẫn không tin Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa (x. Ga 12,37). Do đó, trước phiên tòa Thượng Hội Đồng, họ đã đồng thanh kết án Chúa Giêsu đáng chết vì tội phạm thượng (Mt 26,63-66).

4- Lý do chính trị

Công Nghị Do Thái họp và tuyên bố Chúa Giêsu “đáng phải chết” (Mt 26,66) vì những lý do nói trên. Nhưng thời đó, nước Do Thái đang bị thống trị bởi đế quốc La Mã, họ không có quyền xử án chết một người, thế nên, họ nộp Chúa Giêsu cho Philatô và đưa ông vào cuộc. Khi xét hỏi, Philatô không thấy Chúa Giêsu có tội nào đáng phải chết. Ông tìm cách tha cho Chúa Giêsu. Nhưng dân Do Thái tìm cách lèo lái vụ án tôn giáo sang vụ án chính trị và nhấn mạnh đến chiều kích này để Philatô có cơ sở pháp lý kết án tử hình Chúa Giêsu (x. Lc 23,2). Họ cáo buộc rằng Chúa Giêsu tự xưng mình là vua và ngăn cản dân nộp thuế cho người La Mã. Ai xưng mình là vua thì cũng có nghĩa là người nổi dậy lật đổ đế quốc La Mã và như thế sẽ ảnh hưởng đến nền hòa bình của đế quốc này.

Kết luận

Như thế, từ những đối kháng mang tính tôn giáo, những người Do Thái đã khoác cho vụ án của Chúa Giêsu một màu sắc chính trị. Cũng nên nhớ rằng: thời bấy giờ tôn giáo và chính trị không bao giờ tách rời nhau. Một thứ chính trị “đơn thuần” cũng như tôn giáo “đơn thuần” không thể tồn tại đối với người Do Thái. Vì thế, các lý do tôn giáo là bệ phóng cho lý do chính trị trong việc tố cáo Chúa Giêsu.

“Vụ án Giêsu” là kết quả của một quá trình hận thù, ghen ghét và gian dối của con người đương thời. Nơi đó, Đức Giêsu trở thành hiện thân của những ai bị ngược đãi, vu cáo và kết án một cách oan khiên trong lịch sử loài người hôm qua cũng như hôm nay.

Vụ án này đã xảy ra hơn hai ngàn năm nhưng vẫn luôn được lịch sử nhắc đi nhắc lại để suy niệm, soi chiếu cho mọi oan khiên và sai lạc của loài người. Bởi lẽ, nơi đó sự giả dối, lật lọng và độc ác được phơi bày rõ mặt nhất. Nó đại diện cho mọi nỗi đau, bất công của loài người.

Bước vào Tuần Thánh, xin Chúa cho mỗi người chúng ta biết suy niệm cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu để cố gắng khước từ những sự giả dối, lật lọng và độc ác có thể xuất hiện nơi lòng chúng ta. Đồng thời, khi suy ngắm cuộc khổ nạn Chúa Giêsu, chúng ta cảm nghiệm Chúa yêu thương loài người thế nào khi chấp nhận cái chết oan khiên, để từ đó chúng ta biết yêu mến Chúa nhiều hơn và biết sống khoan dung với mọi người. Amen!

Về mục lục

LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA GIÊSU QUA BÀI THƯƠNG KHÓ

Lm Phạm Hồng Thái

Có nhiều chủ đề chúng ta gặp thấy qua bài Thương khó theo thánh Luca, nhưng xin nói về chủ đề Lòng Thương xót Chúa Giêsu biểu lộ trong cuộc tử nạn này.

Trước hết là đối với  Giuđa, một tông đồ của Chúa mà lúc này lại về phe với những kẻ đi bắt Chúa. Chúa Giêsu  nói một lời nhẹ nhàng nhưng cũng rất sâu sắc với anh ta: “Giuđa ngươi lấy cái hôn để nộp Con Người ư?”

Chúa Giêsu  bảo  Phêrô dừng lại khi ông chém đứt tai phải của đầy tớ thượng tế và lòng thương xót Chúa được thể hiện khi Chúa không thù oán mà còn chữa lành tai cho anh.

Chúa Giêsu bị bắt và đã bị điệu đến nhà thầy thượng tế,  Phêrô ba lần chối Chúa trong đêm khi gà gáy, Chúa Giêsu  quay lại nhìn Phêrô. Cái nhìn của Chúa cùng với tiếng gà gáy mà Chúa Giêsu  đã nói trước nhắc nhở ông và đó cũng là cái nhìn đầy lòng thương xót khiến ông nhớ lại lời Chúa, rồi ông ra ngoài sân dinh thượng tế  khóc lóc thảm thiết.

Trên đường thánh giá, các phụ nữ thành Giêrusalem khóc thương Chúa, nhưng Chúa Giêsu như quên đi thập giá nặng và đau khổ Chúa đang chịu để chủ động an ủi các người phụ nữ này vì Chúa Giêsu  thấy trước những tai họa mà họ và con cháu họ sẽ phải chịu sau này khi thành thánh và đền thờ bị phá hủy.

Đặc biệt Lòng Thương xót còn thể hiện khi Chúa Giêsu cầu xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ đóng đinh Chúa: khi mà từ trên cây Thánh giá nhìn xuống, Chúa Giêsu thấy có những binh lính nhạo cười Chúa, cả tấm áo ngoài của Chúa, họ đem rút thăm. Có thể nói đây là đỉnh điểm của Lòng thương xót và tha thứ khi Chúa Giêsu  cầu nguyện cho họ: “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm”. Chúa Giêsu  biết những kẻ đóng đinh Chúa chỉ là những kẻ thừa hành và quả thực họ không biết việc họ làm và Chúa vin vào lí do đó để xin Chúa Cha tha thứ cho họ.

Lòng Thương xót còn biểu lộ đặc biệt khi Chúa Giêsu  quan tâm tới cái nhìn về phía Chúa của gian phi cùng bị đóng đinh bên phải Chúa. Chúa Giêsu  đáp  lại lòng sám hối và lời cầu xin của anh ngay, khi Chúa nói: “Quả thật Ta bảo ngươi rằng: ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên Thiên đàng với Ta”.

Lòng thương xót của Chúa Giêsu đã khiến viên sĩ quan chỉ huy cuộc đóng đinh Chúa xúc động nên khi Chúa Giêsu  tắt thở, ông đã ca tụng Thiên Chúa và tuyên xưng:”Ông này quả thật là người công chính”.

Còn dân chúng thì khi Chúa Giêsu  chịu đóng đinh, họ có thái độ bàng quan là chỉ đứng nhìn, nhưng sau khi Chúa tắt thở, họ đã đấm ngực ăn năn trước khi trở về.

Tuy thế chúng ta cũng phải khách quan nói lên rằng nhiều người vẫn giữ lòng ghen ghét Chúa như các thượng tế, luật sĩ, biệt phái, nói chung là các thủ lãnh của Do thái họ tỏ ra hả hê vì đã thành công trong việc lên án tử cho Chúa vì thế khi Chúa bị đóng đinh rồi, họ còn muốn gây thêm đau khổ cho Chúa bằng việc thách thức Chúa xuống khỏi thập giá để họ tin! đó là chưa nói tới những binh lính và người trộm bên tay trái Chúa cũng a dua  để nhạo báng Chúa.

Nhưng chúng ta cũng thấy có những người cảm thương Chúa chân tình như các phụ nữ thành Giêrusalem và có một người trở nên như môn đệ Chúa Giêsu  đó là ông Simon Kyrênê, tuy ông bị ép vác đỡ thập giá Chúa nhưng sau ông bằng lòng vác và đi theo sau Chúa: đúng như lời Chúa Giêsu nói: “Ai không vác thập giá mình mà theo tôi thì không thể làm môn đệ tôi (Lc 14, 27)”. Nhất là những phụ nữ theo Chúa từ Galilê. Họ đứng cách Thánh giá không có xa và ở lại cho tới khi táng xác xong, xem mồ và xem xác Chúa được mai táng thế nào để về chuẩn bị dầu thơm và thuốc thơm mong sẽ xức xác Chúa sau ngày Sabat. Chúng ta cũng không quên ông Giuse Arimathia, người công chính và tốt lành: ông là một công nghị viên nhưng không đồng tình với các nghị viên khác trong Thượng Hội đồng Do thái trong việc kết án Chúa Giêsu. Ông đã đứng ra để gặp quan Philatô và xin xác Chúa rồi ông táng xác Chúa Giêsu  cách tôn kính và chu đáo trong mộ đá mới đục sâu chưa chôn xác người nào.

Mỗi người chúng ta khi tưởng niệm sự thương khó Chúa Giêsu, hãy có tâm tình cảm tạ Chúa đã theo thánh ý Chúa Cha nhận lấy cái chết thập giá để đền thay tội lỗi cho chúng ta và đã thể hiện Lòng thương xót Chúa cho chúng ta. Chúng ta hãy thưa cùng Chúa Giêsu như người gian phi bị đóng đinh bên hữu Chúa: “Lạy Ngài Giêsu, khi nào về nước Ngài xin nhớ đến con cùng”. Amen.

Về mục lục

THĂM LẦN CUỐI

Lm Vũđình Tường

Ba lần Đức Kitô tiên báo về cái chết của Ngài. Đây là tin kinh hoàng cho các tông đồ. Các ông không hiểu việc Đức Kitô ra đi là cần thiết bởi qua cái chết và sự Phục Sinh của Đức Kitô mang lại sự sống trường sinh cho toàn thể nhân loại. Không có cuộc tử nạn, Đức Kitô không hoàn thành sứ mạng cứu độ nơi trần thế. Môn đệ Đức Kitô luôn sống trong hy vọng,

‘Xin Chúa thương đừng để Thầy phải gặp chuyện ấy’ Mt 16,22.

Đến lúc này các ông không thể chối bỏ dược thực tế đó nữa bởi các Kì Mục, Thượng Tế và Kinh Sư ra thông cáo,

‘Ai biết được ông ấy ở đâu thì phải báo cho họ đến bắt Gn 11,57.

Nghe tin bạn, Lazaro qua đời, Đức Kitô nói với môn đệ chuẩn bị để đi Jerusalem. Một trong số các ông phản đối,

‘Cả chúng ta nữa, chúng ta cùng đi để cùng chết với Thầy Gn 11,16.

Không phải các tông đồ quyết định mà chính Đức Kitô là Đấng có quyền quyết định. Biết chắc hiểm nguy trước mắt. Bất chấp nguy hiểm đến tính mạng, Đức Kitô vẫn vào thành thánh như dự trù. Không gì ngăn cản Đức Kitô. Ngài không trốn chạy, không hoãn binh bởi ‘Giờ’ của Ngài đã đến. Ngài đến để hoàn thành sứ mạng cứu chuộc Chúa Cha trao trong tay. Đức Kitô cũng không hy vọng cái chết nhanh chóng, hay bớt đau khổ. Ngài hy vọng môn đệ cảm nhận tình yêu vô biên Ngài dành cho họ.

Trên đường vào thành Jerusalem, dân chúng hoan hô, chúc tụng Ngài là vua của họ. Í kiến dân chúng bị hướng dẫn, lung lạc bởi người lãnh đạo. Hôm nay dân thành Jerusalem hoan hô, đón chào Đức Kitô; ngày mai chính họ lại dơ tay phản đối, đòi đóng đanh Ngài vào thập giá. Đây là điểm trái khoáy thứ hai trong cuộc tử nạn của Đức Kitô. Điểm trái khoáy đầu tiên là việc Đức Kitô đến ban lại sự sống cho ông Lazaro, người chết chôn trong mộ ba ngày trước khi Đức Kitô ban cho ông sự sống. Trong khi chính Ngài lại tự nguyện lãnh nhận cái chết bi ai, thê thảm trên thập tự. Chính điều này làm cho các Thượng Tế chễ diễu Ngài’

‘Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình’ Mt 27,42.

Môn đệ mượn con lừa của người quen, trải áo lên lưng nó cho Đức Kitô cưỡi đi vào thành. Dân thành vang lời ca ngợi, tung hô,

‘Chúc tụng Đức Vua, Đấng ngự đến nhân Danh Chúa. Bình an trên cõi trời cao, vinh quang trên các tầng trời’ Lc 19,38

Nhóm Pharisiêu lên tiếng phản đối, không cho dân chúng ta tụng Đức Kitô. Ngài đáp lại họ,
‘Tôi bảo các ông, họ mà làm thinh, thì sỏi đá cũng sẽ kêu lên’ Lc 19,40
Vinh quang trần thế mau qua, chóng hết. Ngay sau đó là bắt bớ và xử án. Việc đóng đanh

Đức Kitô làm thoả mãn những kẻ chống đối Đức Kitô, trong khi đó nó làm con tim rỉ máu cho những người yêu mến Đức Kitô.

Nọc độc của tội thể hiện qua bàn tay tàn bạo của con người. Nhóm Pharisiêu tìm cách làm cho Đức Kitô đau khổ hết sức có thể. Về thể lí, họ lột áo cho xấu hổ, ra lệnh cho lí hình khạc nhổ, đánh đập, bắt đội mạo gại, trước khi hành hình, đóng đanh trên thập giá, giữa hai tên phạm nhân. Họ kết tội Đức Kitô phản loạn nhân nên phải chết thảm như một tội phạm. Về tâm lí, họ thay nhau tố cáo, vu vạ, làm chứng gian. Môn đệ sợ hãi trốn chạy. Đức kitô bị bỏ rọi một mình. Sau khi thoả mãn hành hình, án tử hình được loan báo.- Đóng Đinh vào thập giá. Để cho việc xét xử kinh hoàng hơn, họ không xử vào ban ngày nhưng xử trong đêm tối, dưới ánh sáng ma quái, lúc mờ, khi ảo. Thêm vào đó là cái giá buốt của gió đông thổi đến, màn đêm chập chùng, bóng người thình lình xuất hiện, bing mất, tuỳ theo ánh bập bùng từ lò sưởi gần đó, tất cả quyện lại làm cho mọi người có cảm tưởng không phải chỉ có con người hành hạ con người, mà ngay cả thiên nhiên cũng góp phần trong đó.
Sức nặng của Thập giá dường như nặng hơn sau mỗi bước chân lên đồi. Mọi cử động dường như làm cho vết thương rạn nứt thêm một chút, ăn sâu vào thịt xương hơn một chút. Đức Kitô âm thầm đón nhận tất cả. Kinh nghiệm khổ cực bốn mươi ngày chay tịnh trong hoang địa giúp Ngài tự tin, vui lòng đón nhận được mọi đau khổ, tủi nhục. Đức Kitô chọn trung thành theo í Chúa Cha đến tận cùng.

‘Lậy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm’ Lc 23,34.
Câu nói trên cho biết tình yêu Đức Kitô dành cho nhân loại vượt lên trên mọi nhục hình, đau khổ nhân loại dành cho Ngài.

Về mục lục

ĐI VÀO CÕI KHỔ

Trầm Thiên Thu

Đến giờ phải vội lên đường

Khởi đầu bước khổ, tang thương nhịp đời

Đến giờ phải bước đi thôi

Trọn vẹn vâng lời tới hướng Gia-liêm

Giờ G đã điểm, hành trình khổ nạn của Đức Kitô bắt đầu từ lúc vào Thành Giêrusalem.

Ngày xưa, những ông vua tốt lành, yêu nước và thương dân, thường vi hành để biết rõ dân sống thế nào, không nghe những kẻ nịnh thần, làm láo mà báo cáo hay. Vua thì có ngai, gọi là bệ rồng. Quần thần không được “đụng chạm” tới Vua, có tâu cũng chỉ được tâu cái bệ có cái ngai của Vua ngồi: “Muôn tâu bệ hạ.” Ai nhìn long nhan vua là phạm tội “khi quân,” ắt bị xử tử.

Về danh xưng, tước vị cao quý của Vua được mệnh danh là Hoàng Đế, và thường là người cai trị một đế chế hoặc loại khác của vương quốc, đế quốc. Nói chung, Hoàng Đế là người được công nhận có danh dự và xếp hạng cao hơn so với quốc vương. Xưa nay, bất cứ ông vua hoặc nguyên thủ quốc gia đều được tiền hô hậu ủng, có tất cả mọi tứ, kể cả quyền sinh tử: “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung.” Kinh dị và kinh tởm!

Từ cổ chí kim, và cho tới tận thế, chắc chắn không có Đức Vua nào như Chúa Giêsu Kitô – Vua của các vua, Chúa của các chúa, đặc biệt là Thiên Vương – Thiên Vương hoặc Thiên Tử đích thực chứ không như các vua chúa trần gian mạo nhận là “thiên tử” đâu. Thế nhưng Ngài vô cùng giản dị và bình dân, thậm chí là số KHÔNG to lớn và tròn trịa: KHÔNG đăng quang, KHÔNG ngai vàng, KHÔNG bệ rồng, KHÔNG long bào, KHÔNG bảo kiếm,… chỉ có đám dân đen tôn Ngài làm Vua, cái mà chúng ta gọi là “ngai vua” đối với Ngài là chính “ngai khổ” Thập Giá.

Ngay trong khi dân chúng tôn vinh Ngài, cả bốn Phúc Âm đều nói rõ rằng lòng kính trọng Chúa Giêsu khi Ngài vào Thành Giêrusalem được thể hiện nhưng không phải tất cả đều là cư dân Giêrusalem. Thánh Mátthêu cho biết: “Khi Đức Giêsu vào Giêrusalem, cả thành náo động, và thiên hạ hỏi nhau: ‘Ông này là ai vậy?’ Dân chúng trả lời: ‘Ngôn sứ Giêsu, người Nadarét, xứ Galilê đấy.” (Mt 21:10-11)

Thấy Chúa Giêsu làm nhiều thứ quá tuyệt vời, quá kỳ diệu, vượt ngoài sức tưởng tượng của loài người, thế nên họ muốn tôn Ngài làm vua, dân chúng đã nhận biết Ngài là ai, họ lũ lượt theo nhau và reo hò vang dội: “Hoan hô Con vua Đavít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Hoan hô trên các tầng trời.” (Mt 21:9) Ngài được dân chúng reo hò chúc tụng, nhưng chẳng bao lâu thì họ vội lật mặt nhanh hơn trở bàn tay. Phàm nhân thật tồi tệ! Nhưng sự thật mãi mãi là sự thật.

Có những điều bình thường mà khác lạ. Cây càng cao, gió càng lay. Càng làm lớn càng đau khổ. Khổ từ khi đăng quang và vinh quy bái tổ. Vua chúa, hoàng đế hoặc quốc vương nào cũng có lễ đăng quang. Ngay cả giáo hoàng cũng có lễ đăng quang. Còn Chúa Giêsu thì không! Người ta thường nói: “Khổ ải trần gian,” hoặc “Đời là bể khổ.” Đúng vậy, “biển khổ” chứ không phải “sông khổ” hoặc “ao khổ.” Điều đó cho thấy kiếp người không ngừng nối tiếp đau khổ, là một hành trình đau khổ triền miên. Có lẽ do vậy mà khi sinh ra không ai cười mà lại “cất tiếng khóc chào đời.” Lạ thật! Biết chấp nhận thì có thể “hóa giải” đau khổ thành niềm vui, nếu không thì càng chồng chất thêm đau khổ mà thôi.

Muốn thoát đau khổ không gì hơn là đi xuyên qua đau khổ. Chúa Giêsu cưỡi lừa vào thành Giêrusalem, được người ta tung hô khi tay họ cầm lá thiên tuế chào đón. Nhưng đó cũng là lúc Ngài khởi đầu “hành trình đau khổ.”

  1. CON NGƯỜI ĐAU KHỔ

Đã nhiều lần ngôn sứ Isaia tiên báo về “người tôi tớ đau khổ.” Ông cảm thấy Đức Chúa là Chúa Thượng đã cho ông nói năng như một người môn đệ, để ông biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức. Ông xác nhận: “Sáng sáng Người đánh thức tôi để tôi lắng tai nghe như một người môn đệ.” (Is 50:4) Ông cho biết thêm: “Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui.” (Is 50:5)

Là hình bóng của Đức Kitô, ngôn sứ Isaia “không cưỡng lại” và “không thoái lui” dù ông phải “đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu” và “không che mặt khi bị mắng nhiếc, phỉ nhổ.” (Is 50:6) Ông tin mình “có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ,” vì thế, ông “không hổ thẹn” mà cứ “trơ mặt ra như đá.” Thế nên ông biết mình sẽ “không phải thẹn thùng.” (Is 50:7) Ông là hình ảnh của Đức Kitô, con người của đau khổ, khởi đầu “hành trình đau khổ” từ Giêrusalem, ngay khi được người ta cầm những cành thiên tuế tung hô là vua.

Thánh vịnh gia mô tả về tình trạng chịu nhục nhã ê chề: “Thấy con ai cũng chê cười, lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai: Nó cậy Chúa, mặc Người cứu nó! Người có thương, giải gỡ đi nào!” (Tv 22:8-9) Người-Tôi-Tớ-Đau-Khổ không chỉ bị khiêu khích, bị đau khổ về tinh thần mà còn bị đau khổ về thể lý: “Quanh con bầy chó đã bao chặt rồi. Bọn ác đó trong ngoài vây bủa, chúng đâm con thủng cả chân tay, xương con đếm được vắn dài; chúng đưa cặp mắt cứ hoài ngó xem.” (Tv 22:17-18)

Con Người Đau Khổ bị đau khổ đến tận cùng, nhưng vẫn luôn trông cậy vào Thiên Chúa: “Áo mặc ngoài chúng đem chia chác, còn áo trong cũng bắt thăm luôn. Chúa là sức mạnh con nương, cứu mau, lạy Chúa, xin đừng đứng xa.” (Tv 22:19-20) Đồng thời vẫn muốn tôn vinh Thiên Chúa trong chính những đau khổ của mình: “Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho anh em tất cả được hay, và trong đại hội dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương.” (Tv 22:23)

Dù có thế nào cũng vẫn luôn trung tín với Thiên Chúa, Con Người Đau Khổ tự nhủ và động viên người khác: “Hỡi những ai kính sợ Đức Chúa, hãy ca tụng Người đi! Hỡi toàn thể giống nòi Giacóp, nào hãy tôn vinh Người! Dòng dõi Ítraen tất cả, nào một dạ khiếp oai!” (Tv 22:24)

  1. CON NGƯỜI CHỊU ĐỰNG

Người có sức chịu đựng là người mạnh mẽ – mạnh mẽ tinh thần chứ không về thể lý. Những người vạm vỡ, cao lớn, khỏe mạnh, chưa chắc có sức chịu đựng đau khổ. Thánh Phaolô vừa phân tích vừa xác định: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế.” (Pl 2:6) Đạo cũng như đời, người quyền cao chức trọng hiếm thấy ai dám “vi hành” để hiểu rõ cảnh khổ của người dân!

Thế mà có một giám mục rất đặc biệt. Trong tác phẩm “Authority: Its Use and Abuse” Authority: Its Use and Abuse (Sử Dụng và Lạm Dụng Quyền Bính, tác giả LM C.P. Varkey, NXB The Bombay Saint Paul Society, 1999) có kể một số “điểm son” của cố GM Irumpen, GP Palakkad (Ấn Độ) về phong cách đa không:

Mỗi Chúa Nhật, ngài đến một giáo xứ nào đó mà KHÔNG BÁO TRƯỚC, ngồi tòa giải tội khoảng 15-20 phút, dâng lễ, giảng lễ, dạy giáo lý, rồi chuyện trò với giáo dân và linh mục quản xứ; ngài KHÔNG BAO GIỜ cho phép người ta tổ chức tiếp tân chào mừng ngài tại các giáo xứ. Và tại tòa giám mục hay ở bất cứ nơi đâu mà ngài ghé thăm, ngài KHÔNG NHẬN BẤT CỨ SỰ BIỆT ĐÃI NÀO DÀNH CHO MÌNH; ngài cho rằng sự hào nhoáng bên ngoài (kiểu như đoàn xe đưa rước trong những dịp đặc biệt) KHÔNG PHẢI LÀ CHỨNG NHÂN TIN MỪNG mà là chứng nhân của văn hóa thế tục; hằng ngày ngài dành thời gian từ 9 giờ đến 12 giờ để TIẾP BẤT CỨ AI đến gặp, KHÔNG CẦN HẸN TRƯỚC; ngài KHÔNG BAO GIỜ nghỉ trưa; ngài chỉ dự những lễ kỷ niệm chịu chức hay khấn dòng nếu những lễ ấy tổ chức ở nhà thờ chính tòa; ngài KHÔNG tổ chức mừng ngày kỷ niệm thụ phong giám mục của mình. Năm nào ngài cũng mừng lễ bổn mạng, dịp các linh mục tĩnh tâm tháng vào ngày 19-3 (Lễ Đức Thánh Giuse Phu Quân Đức Maria). Linh mục đoàn cùng nâng ly chúc mừng và nhâm nhi chút bánh ngọt; ngài KHÔNG đưa lên bảng thông tin giáo phận các tin về hoạt động hay đi lại của ngài trong giáo phận, mà chỉ thông tin cho mọi người biết trước về những trường hợp ngài phải ra ngoài giáo phận quá một ngày, chẳng hạn khi ngài sắp đi dự họp Hội Đồng Giám Mục,…; ngài KHÔNG BAO GIỜ đi nước ngoài, trừ phi đó là bổn phận bắt buộc – như dịp Ad Limina.

Ngài KHÔNG BAO GIỜ đi nước ngoài để quyên tiền. Ngài nói rằng các nhu cầu căn bản của giáo phận cần phải được gánh vác bởi chính giáo dân trong giáo phận; KHÔNG BAO GIỜ có chuyện “phạt treo,” chẳng hạn không cấp giấy chứng chỉ hôn phối vì người ta chưa đóng góp quỹ; ngài luôn ĂN MẶC GIẢN DỊ, ĂN CHAY TRƯỜNG, và chẳng ai thấy hình ảnh của ngài trên báo chí; ngài hưu trí tại nhà hưu của các linh mục cao niên. Cuộc đời ngài thật đơn giản, tất cả đồ đạc xếp gọn trong một chuyến xe nhỏ; giáo phận tặng ngài một ô tô dịp ngài về hưu, nhưng ngài KHÔNG NHẬN, chỉ muốn được trợ cấp hưu bổng đúng theo mức hưu dưỡng như các linh mục khác trong giáo phận; ngài KHÔNG MUỐN XIN VIỆN TRỢ từ bên ngoài để xây các nhà thờ to lớn. Nếu ai dâng hiến đất, ngài sẽ xây một nhà thờ vừa phải với sự hỗ trợ của chính các giáo dân địa phương; văn phòng của ngài là một gian phòng nhỏ trong một ngôi nhà cũ kỹ, không có bất cứ món trang trí nào; ngài là một chứng nhân Tin Mừng, sống điều ngài rao giảng, cách sống của ngài cho thấy rõ QUYỀN BÍNH LÀ ĐỂ PHỤC VỤ.

Việt Nam cũng có gương sáng nhưng KHÔNG là người Việt, mà là ngừi Pháp. Đó là cố GM Cassaigne (quen gọi cha Sanh, nguyên giám mục GP Saigon), vị tông đồ của người cùi. Khi còn là giám mục Saigon, ngài cũng đã từng rong ruổi khắp khu dân cư nghèo để thấy rõ thực tế, cửa tòa giám mục cũng luôn rộng mở đón tiếp mọi người. Người Việt còn thua xa người ngoại quốc!

Thật đáng khâm phục các chứng nhân như vậy, bởi vì họ đúng là những mục tử của Chúa, dám quên mình vì đoàn chiên, những chủ chăn đích thực và sống động, chứ không nói suông qua các văn bản hoặc bài giảng.

Chúa Giêsu không chỉ là Con Người Đau Khổ mà còn là Con Người Khiêm Nhường: “Ngài lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (Pl 2:7) Cái chết của Ngài khác thường là “chết trên thập giá,” loại khổ hình nhục nhã nhất thời đó. Chính vì Ngài chịu đau khổ đến tột cùng mà “Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu,” (Pl 2:9) danh hiệu ấy cao cả và quyền năng đến nỗi “khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ.” (Pl 2:10) Để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giêsu Kitô là Chúa.” (Pl 2:11)

Không ai muốn đau khổ, chắc chắn như vậy. Nghĩa là ai cũng muốn sung sướng, muốn tận hưởng hạnh phúc – tận hưởng bằng mọi cách và càng nhiều càng tốt. Vì thế mà con người không ngừng tìm kiếm hạnh phúc. Đau khổ luôn bí ẩn đối với loài người. Thậm chí những người chấp nhận đau khổ có thể bị coi là “ngu xuẩn,” là “dại dột,” là “điên khùng.” Tuy nhiên, với người tin vào Đức Kitô, đau khổ là sự mầu nhiệm, đưa người ta tới hạnh phúc trọn vẹn.

Khi một bị cáo đứng trước vành móng ngựa thì có luật sư bào chữa. Trong Giáo hội Công giáo, trước khi phong thánh cho ai thì cũng có 2 “phe,” một phe đưa ra các điều tốt và một phe đưa ra các điều xấu – được gọi là “luật sư của quỷ,” phe luật sư này sẽ đưa ra mọi thứ “bất lợi” cho ứng viên đến khi “chịu thua” mới thôi. Chẳng hạn trường hợp của Thánh GH Gioan XXIII, “luật sư của quỷ” đã hết cách nên đành “tố cáo” Đức Gioan XXIII hay chơi diều thuở thiếu thời. Đúng là hết nước nói!

Tuy nhiên, từ cổ chí kim, chỉ có một tử tội đặc biệt KHÔNG CÓ LUẬT SƯ BÀO CHỮA, cũng CHẲNG CÓ AI BÊNH VỰC một lời nào, đó là ĐỨC GIÊSU KITÔ. Mới ít ngày trước người ta vừa tôn làm vua thì vội lật mặt và đòi đóng đinh vào Thập giá, đến cả những người thân cận nhất cũng sợ liên lụy mà bỏ rơi Ngài, người mà mình luôn tâm phục khẩu phục, ca tụng hết lời và thề hứa đủ điều. Ôi, những lời nói có cánh!

  1. GIỜ ĐÃ ĐIỂM

Điều gì đến sẽ đến. Đúng lúc. Đúng nơi. Đức Giêsu vào bàn cùng các tông đồ và nói: “Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với anh em trước khi chịu khổ hình.” (Lc 22:15) Ngài đưa ra lý do: “Thầy sẽ không bao giờ ăn lễ Vượt Qua này nữa, cho đến khi lễ này được nên trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa.” (Lc 22:16)

Vì yêu thương đến cùng và không muốn xa những người Ngài yêu thương, Ngài đã thiết lập Bí tích Thánh Thể, dùng chính Máu Thịt Ngài để nuôi sống chúng ta và ở với chúng ta tới tận thế. Ngài tiên báo mọi chuyện sắp xảy ra như lời trăn trối, để cảnh báo mọi người, và phân tích về cách cai trị: “Vua các dân thì dùng uy mà thống trị dân, và những ai cầm quyền thì tự xưng là ân nhân. Nhưng anh em thì không phải như thế, trái lại, ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ. Bởi lẽ, giữa người ngồi ăn với kẻ phục vụ, ai lớn hơn ai? Hẳn là người ngồi ăn chứ? Thế mà, Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ. Còn anh em, anh em vẫn một lòng gắn bó với Thầy, giữa những lúc Thầy gặp thử thách gian nan. Vì thế, Thầy sẽ trao Vương Quốc cho anh em, như Cha Thầy đã trao cho Thầy, để anh em được đồng bàn ăn uống với Thầy trong Vương Quốc của Thầy, và ngự tòa xét xử mười hai chi tộc Israel.” (Lc 22:25-30)

Ngài cảnh báo riêng về sự dữ đối với Phêrô: “Simon, Simon ơi, kìa Satan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo. Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững mạnh.” (Lc 22:31-32) Chúa Giêsu thân thiện gọi ông là Simon, gọi tên thật chứ không gọi là Phêrô. Ông thưa: “Lạy Chúa, dầu có phải vào tù hay phải chết với Chúa đi nữa, con cũng sẵn sàng.” (Lc 22:33) Đức Giêsu nói ngay: “Này anh Phêrô, Thầy bảo cho anh biết, hôm nay gà chưa kịp gáy, thì đã ba lần anh chối là không biết Thầy.” (Lc 22:34)

Mặc dù tính nóng như lửa, thế mà Phêrô cũng chỉ biết gãi đầu và im lặng, không thể nói gì. Nói dễ, làm khó. NÓI và LÀM là hai việc khác nhau, có một khoảng cách rất gần mà cũng rất xa. Thế nên người ta nói rằng “khoảng cách xa nhất là từ miệng tới bàn tay.” Thật chí lý thay!

Chúa Giêsu rất quan tâm mọi người vì biết không bao lâu nữa sẽ phải xa họ: “Anh em có thiếu thốn gì không?” (Lc 22:35) Các ông trả lời “không.” Các ông tưởng sắp có chiến tranh và đổ máu nên cùng nói: “Lạy Chúa, đã có hai thanh gươm đây.” (Lc 22:38a) Nhưng Chúa Giêsu bảo họ: “Đủ rồi!” (Lc 22:38b)

Khi Ngài đi ra núi Ôliu, các môn đệ cũng đi theo. Đến nơi, Ngài bảo: “Anh em hãy cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ.” (Lc 22:40) Cầu nguyện là điều cần thiết lắm, thứ nhất là cầu nguyện, thứ nhì mới là hành động. Ngài đi xa các ông một quãng, rồi quỳ gối cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà làm theo ý Cha.” (Lc 22:42) Lúc này Ngài lâm cơn xao xuyến bồi hồi, nên càng khẩn thiết cầu xin. Chúa Giêsu vừa lo vừa sợ, vừa buồn vừa cô đơn, đến nỗi mồ hôi Ngài như những giọt máu rơi xuống đất. (Lc 22:44)

Cầu nguyện xong, Ngài quay lại chỗ các môn đệ, nhưng họ đang ngon giấc. Ngài nói: “Sao anh em lại ngủ? Dậy mà cầu nguyện, kẻo sa chước cám dỗ” (Lc 22:46). Lần thứ hai Ngài nhắc các ông cầu nguyện và xác định việc cầu nguyện rất cần thiết. Ngay lúc đó, Giuđa lại gần Đức Giêsu để hôn Ngài, và để chỉ điểm cho bọn thủ ác đến vây bắt Ngài. Chúa Giêsu ôn tồn: “Giuđa ơi, anh dùng cái hôn mà nộp Con Người sao?” (Lc 22:48) Cách nói nhẹ nhàng mà thấm thía.

Ngày nay, chúng ta cũng vẫn dùng “dấu tốt” để bán Chúa, để mưu hại tha nhân, để làm những điều phi nhân nghĩa. Nhưng người ta vẫn cho là mình hành động đúng đắn! Người ta muốn dùng gươm giáo để chiến đấu, như Phêrô đã tuốt gươm chém người khác, nhưng có lẽ ông run tay nên chỉ đứt tai một tên lính chứ nếu không thì đầu lìa khỏi cổ rồi.

Thấy vậy, Đức Giêsu lên tiếng: “Thôi, ngừng lại.” (Lc 22:51) Và Ngài gắn lại liền tai cho khổ chủ. Phép lạ nhãn tiền thế mà bọn thủ ác vẫn lì lợm, vẫn cứng lòng, vẫn cố chấp! Chúng dẫn Chúa Giêsu đi. Khi đi ngang qua Phêrô, Ngài nhìn ông với ánh mắt sâu thẳm, vừa buồn trách vừa xót thương, ông giật mình vì ông vừa chối Thầy đúng như lời Thầy nói trước. Tiếng gà gáy xoáy sâu vào lòng ông khiến ông vừa xấu hổ vừa ăn năn, ông chạy ra ngoài và bật khóc, khóc như con trẻ, khóc như chưa bao giờ khóc, tiếng khóc rất thảm thiết. (Lc 22:62)

Kẻ ác lắm mưu nhiều chước. Họ bịt mắt Ngài, thốt ra nhiều lời xúc phạm Ngài, rồi hành hạ Ngài đủ kiểu, thâu đêm suốt sáng, không chút xót thương. Khi trời sáng, mọi người đều nói: “Vậy ông là Con Thiên Chúa sao?” (Lc 22:70a) Ngài thản nhiên: “Đúng như các ông nói, chính tôi đây!” (Lc 22:70b) Họ liền vào hùa: “Chúng ta cần gì lời chứng nữa? Chính chúng ta vừa nghe miệng hắn nói!” (Lc 22:71) Sau đó, họ bắt đầu tố cáo Chúa Giêsu đủ thứ, từ chuyện nhỏ tới chuyện lớn, cái gì cũng hóa thành trọng tội, dù là việc làm tốt.

Philatô nhát gan vì sợ mất chức quyền, không dám hành động theo lương tâm, rửa tay để chứng tỏ mình chí công vô tư. Ông ta muốn cho đánh đòn Chúa Giêsu rồi thả ra, nhưng dân chúng không chịu, họ đồng thanh la ó: “Giết nó đi, thả Baraba cho chúng tôi!” (Lc 23:18) Baraba đã bị tống ngục vì một vụ bạo động đã xảy ra trong thành, và vì tội giết người. Họ coi Chúa Giêsu không bằng một tên tử tội tàn ác khét tiếng. Thấy dân chúng nhất quyết xin tha Baraba mà giết Chúa Giêsu, Philatô đành chiều theo ý họ. Thật đê tiện!

Con đường từ dinh Philatô tới Đồi Canvê quanh co, đồi dốc và lởm chởm. Chúa Giêsu phải tự vác thập giá mà đi, biết bao vất vả, sức yếu dần vì bị đòn roi với đủ nhục hình và còn bị đói khát, Ngài đã ngã xuống 3 lần vì sức nặng của Thập giá. Đến Đồi Sọ, họ đóng đinh Ngài vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian phi, một tên bên phải, một tên bên trái. Chịu đủ loại nhục hình, từ lời nhục mạ tới hành động đóng đinh, loại tử hình nặng nhất thời đó, và dù đang bị treo trên Thập giá, Đức Giêsu vẫn đại lượng: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” (Lc 23:34)

Kể từ xưa tới nay, và đến mãi về sau, chắn chắn không thể có sự tha thứ nào lớn hơn. Thậm chí tên gian phi cùng bị đóng đinh với Ngài, với chỉ một lời “xin nhớ tới hắn” thôi, thế mà Ngài liền cho hắn đồng hành vào Thiên quốc, và trở thành vị thánh đầu tiên của Tân Ước. Hạnh phúc thay cho Dismas!

Cái chết là kết thúc cuộc sống trần gian, trút hơi thở cuối cùng là ranh giới giữa sự sống và sự chết. Đức Giêsu kêu lớn tiếng: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” (Lc 23:46) Nói xong, Ngài tắt thở. Viên đại đội trưởng thấy sự việc xảy ra như vậy liền cất tiếng tôn vinh Ngài: “Người này đích thực là người công chính!” (Lc 23:47) Những người đến xem cảnh tượng ấy và thấy sự việc xảy ra thì đều đấm ngực trở về. (Lc 23:48) Đó là những biểu hiện sám hối, họ còn may mắn và kịp nhận ra tội mình – không trực tiếp thì cũng gián tiếp giết chết người vô tội, làm khổ tha nhân, sát hại Đức Kitô.

Được tôn làm vua mà không được đăng quang, cũng chẳng có ngai vàng, thay vào đó lại là nhục hình Thập giá. Không có nỗi đau khổ nào bằng nỗi khổ của Chúa Giêsu của chúng ta!

Lạy Thiên Chúa, xin cảm tạ Ngài đã ban Con Ngài đến cứu độ chúng con. Chúng con thật may mắn và hạnh phúc vì được tận hưởng Lòng Thương Xót vô biên nhờ cái chết của Đức Kitô, Mặc dù chúng con nhẫn tâm trực tiếp hoặc đồng lõa sát hại Con Ngài, nhưng chúng con vẫn được tha thứ. Xin ban Thánh Thần giúp chúng con can đảm sống xứng đáng với Ơn Cứu Độ, kiên trì đi trọn hành trình đau khổ và làm chứng nhân của Lòng Thương Xót của Ngài. Lạy Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại, chúng con thành tâm sám hối, xin thương xót, tha thứ, và giúp chúng con cùng chết với Ngài để cũng được phục sinh với Ngài. Amen.

Về mục lục

SỐNG CHO TÌNH YÊU

Lm. Jos DĐH.

Đau khổ và hạnh phúc, sống và chết, có đáng để chúng ta phải nặng lòng, phải chi phối, về chúng không ? Vui buồn sướng khổ, chúng đến rồi đi, lúc ẩn lúc hiện nơi cuộc sống này, nếu chưa đối diện, có thể thiên hạ xem ta là người “cõi trên”. Có hay không khi né tránh được khổ đau, xã hội sẽ ghi nhận ta là bậc khôn ngoan ? Phải chăng giữ mãi được nét xinh đẹp trẻ trung, hội đồng thẩm định cho ta danh hiệu “hoa hậu”, hoặc “người hùng” ? Một người luôn tươi cười không có nghĩa là họ không có nỗi buồn, điều đó có nghĩa là họ có khả năng đối phó với khó khăn. (Shakespeare). Trong khi đó “Xuân Diệu” thì nói: rồi một ngày nao tôi sẽ đi, vì sao, ai nỡ bỏ làm chi, tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá, chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì ! Các bậc hiền tài cũng để lại kinh nghiệm: bạn chỉ sống một lần, nhưng nếu sống tốt, một lần là quá đủ.

Bước vào tuần thánh, chúng ta cùng suy ngắm việc Đức Giêsu mang vác khổ đau thập giá, hành trình cuộc đời của Ngài đi đến đỉnh điểm mầu nhiệm cứu độ, được diễn tả qua bài thương khó, đậm nét sầu buồn, kỳ bí. Khổ đau hạnh phúc, sống và chết, tình yêu Thiên Chúa, tội lỗi nhân loại, đang phản ánh tính xác thực của niềm tin: có Thiên Chúa cứu độ, có tự do chọn lựa để sống hạnh phúc. Chỉ cần một chút kiến thức cơ bản, ta có thể xác thực: không phải cứ giầu là giỏi, không phải có chức quyền, bổng lộc nhiều, là sai khiến được hết mọi người. Đức Giêsu có đủ tính chất bén nhạy để từ chối thập giá, nhưng Ngài là Con Thiên Chúa, và sẽ sống thánh ý Chúa, dù phía trước đầy hiểm nguy đe doạ. Vâng, cuộc sống giống như một con tầu đi trên đường ray, chỉ có thể tiến về phía trước, không thể lùi, dù ta có tự do.

Để xác thực ta là “con rồng cháu tiên”, ít là phải cho mọi người thấy bạn có tóc đen da vàng, phải chứng thực được tính kỷ luật và tình đoàn kết dân tộc. Đức Giêsu cùng các môn đệ đi Giêrusalem không phải để tỏ ra “tôi” là người Do-thái, đúng hơn, mọi người sẽ cảm nhận rõ hơn Ngài là Vua tình yêu, là Con Thiên Chúa, là Đấng cứu độ. Giá trị của tình yêu không hệ tại bởi quyền cao chức trọng, cũng không phải là không có kẻ ganh người ghét, mà ta luôn có tự do để nói lời thưa vâng, để sống lời thưa vâng. Cha ông chúng ta nói: khôn khéo lấy miệng mà sai, vụng dại lấy vai mà đỡ. Đức Giêsu không chủ trương làm người phải khôn khéo, không chứng minh về một cuộc tình “lãng mạn” sắp xảy ra tại Giêrusalem, nhưng là xác thực Một Thiên Chúa yêu thương, Một Thiên Chúa vâng phục cho đến chết, và chết trên thập giá.

Đức Giêsu đã sống, đang sống và còn sống cho tình yêu, trong khi nhiều người cho rằng: đau khổ càng nhiều thì tình yêu càng lớn, tình yêu đẹp nhất, tuyệt vời nhất, không ai có thể nhìn hay nghe, mà phải cảm nhận bằng trái tim. Đúng, đau khổ sự chết, là điều đáng sợ, hy sinh, từ bỏ, là điều khó hiểu, chỉ khi có sức mạnh của ơn Chúa, người ta mới không cần lý giải: tại sao Đức Giêsu không xuống khỏi thập giá ? Cuộc sống không có tình yêu, có khác gì khu vườn không có nắng ấm, khu vườn tẻ nhạt chỉ có hoa úa tàn. Cuộc thương khó của Đức Giêsu phản ánh tình yêu Thiên Chúa và tội lỗi con người, lòng nhận hậu của Chúa không phân biệt tội to hay tội nhỏ, mà tuỳ lòng ăn năn sám hối nơi mỗi người. Giọt nước mắt của Phêrô, lời khẩn khoản của anh trộm lành, cùng những bê bối trước bổn phận của chúng ta hôm nay, đều được hưởng lòng thương xót, khi ta biết thật lòng sám hối ăn năn.

Các môn đệ, đã bỏ cả mạng sống mình mà theo Chúa, chúng ta và cả nhân loại, đang có cơ hội để tin theo Chúa, tự do và chọn lựa, quyết tâm và sẵn sàng, sẽ là câu trả lời ta sống cho tình yêu nào ? Thế gian tìm kiếm hạnh phúc ở đời này, những ai theo Chúa, tin Chúa là tình yêu, là ơn cứu độ được ban tặng, tất cả đều không phải lăn tăn tại sao vẫn còn đau khổ thập giá, tại sao phải sám hối ăn năn ! Đức Giêsu chết vì yêu, nhân loại tội lỗi chết vì quy luật sinh lão bệnh tử, Đức Giêsu sống lại từ cõi chết để niềm tin của chúng ta sáng rõ hơn: có hy sinh từ bỏ, có sám hối ăn năn, thì có hạnh phúc đời đời. Ngày hôm nay, người ta đang sống cho bản thân, sống cho gia đình, còn khái niệm sống cho tình yêu, chết cho tình yêu, không phải chỉ là nhìn lên thập giá, mà là mang vác khổ đau thập giá theo Chúa đến cùng tận.

Có một vị thầy hỏi các học trò: nếu phía trước chúng con đầy dẫy kẻ thù đang chờ đợi để bắt giết chúng con, đằng sau chúng con cũng bị mai phục, khó có cơ hội thoát chết, vậy chúng con chọn giải pháp nào ? Người thì trả lời phải anh dũng tiến lên, trước sau gì cũng chết, kẻ thì bảo nên đầu hàng để được sống, duy có một học trò trả lời: con sẽ thinh lặng và chờ lệnh của thầy, vì dù sống dù chết, con vẫn là đệ tử của thầy. Đức Giêsu đã nói với Phêrô: tinh thần thì nhanh nhẹn mà xác thịt thì yếu đuối, hẳn chúng ta đã nghe, đã có ít nhiều kinh nghiệm. Đức Giêsu cũng từng nói với các học trò: ai tin Ta dù có chết cũng sẽ sống, nhưng vẫn có kẻ chối Chúa, bán Chúa. Đức Giêsu cũng từng nói: Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế, nhưng khi gặp bất trắc, ta sống niềm tin có Chúa thế nào ? Niềm tin kitô giáo không hướng ta tới sức mạnh quyền lực, nhưng mời gọi ta sống cho tình yêu, hiệp thông với Đấng đã chiến thắng cám dỗ, chiến thắng thế gian. Amen.

Về mục lục

CHÚA GIÊSU CẦU NGUYỆN

Bông hồng nhỏ

Suy niệm CUỘC THƯƠNG KHÓ CHÚA GIÊSU THEO TM THÁNH LUCA

Chúa Giêsu đã loan báo đến ba lần cho các môn đệ về cái chết và sự phục sinh của mình. Cũng là con người như ta, Chúa Giêsu đã cảm thấy kinh hoàng trước cái chết. Trong vườn Cây Dầu, Người cầu nguyện với Chúa Cha, mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống. Người yêu Chúa Cha đến cùng và Người cũng yêu nhân loại bằng một tình yêu trọn hảo, Người tự nguyện bước vào cuộc thương khó với tâm tình phó thác hoàn toàn cho Chúa Cha.

Cùng Chúa Giêsu bước vào cuộc thương khó, ta được cùng Người ăn bữa Tiệc Ly. Trong bữa Tiệc Ly, Người đã thực hiện những cử chỉ tràn đầy tình yêu, Người đã nêu gương cho các môn đệ của Người, Người đã nêu gương cho ta về sự khiêm nhường phục vụ. Người cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Đầu của Người cúi xuống, chạm vào đầu gối các môn đệ, bàn tay của Người rửa sạch những bụi bặm bám trên đôi chân của họ. Các ông sẽ được cùng với Thầy bước với con đường hẹp, con đường thương khó. Và cũng chính những đôi chân ấy sẽ vấp ngã vì Thầy, nhưng Thầy đã cầu nguyện cho họ khỏi mất đức tin. Ông Simon Phêrô được Thầy tiên báo về việc ông sẽ chối Thầy ba lần, nhưng ông vẫn quả quyết là dù có phải chết, ông cũng trung thành với Thầy. Thầy đã cầu nguyện cho ông để ông không mất đức tin, để khi ông trở lại, ông sẽ làm cho các anh em khác được vững tin. Rồi khi Thầy bị bắt, ông đã chối Thầy như lời Thầy báo trước. Ông vừa chối Thầy đến lần thứ ba thì có tiếng gà gáy. Chỉ đến khi ông nghe tiếng gà gáy, ông mới chợt nhớ lại lời Thầy đã nói. Thầy Giêsu quay lại nhìn ông. Bắt gặp ánh mắt của Thầy, nhớ lại lời Thầy nói, ông nhận ra tội của mình. Ông ra ngoài khóc lóc thảm thiết. Những giọt nước mắt của đau khổ và sám hối chảy ra, ông nhận ra tình thương của Thầy đong đầy trong ánh mắt ấy, ẩn chứa trong lời của Thầy. Thầy đã hứa với ông là sẽ cầu nguyện để ông khỏi mất đức tin. Nhờ thế, sau khi vấp ngã, ông vẫn một lòng vững tin vào tình yêu thương xót của Thầy Giêsu.

Khi ở vườn Cây Dầu, Thầy Giêsu đã tha thiết cầu nguyện với Chúa Cha: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà làm theo ý Cha. Người lâm cơn xao xuyến bồi hồi, nên càng khẩn thiết cầu xin. Và mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất (Lc 22, 42-44). Người đi ra và thấy các môn đệ ngủ vùi vì mệt mỏi và buồn sầu. Người liền đánh thức các ông và bảo: “Sao anh em lại ngủ? Dậy mà cầu nguyện, kẻo sa chước cám dỗ” (Lc 22, 46). Người luôn một lòng một ý tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa. Người nêu gương cho các ông về việc kiên trì cầu nguyện, kết hợp mật thiết với Thiên Chúa, nhất là trong những lúc gặp thử thách gian nan. Con người vốn yếu đuối và bất toàn. Chỉ với ơn Chúa, họ mới có thể đi theo Chúa trên con đưuòng Người đi.

Khi bị đóng đinh trên cây thánh giá, Người phải hứng chịu nhiều lời sỉ nhục, nhiều sự thách thức của những người biệt phái và người Pharisêu, của đám lính và của cả một tên tử tội bị đóng đinh cùng với Người. Người đã cầu nguyện cho những kẻ đóng đinh mình, cầu nguyện cho những kẻ nhục mạ mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34). Tình yêu của Người rộng lớn, sâu thẳm và cao vời dường bao, tình yêu ấy vượt lên trên cả muôn vàn tội lỗi của nhân loại. Không những Người sẵn sàng tha thứ, mà Người còn bênh vực cho những tội nhân, và cầu xin Thiên Chúa tha tội cho họ. Như thế, Người mời gọi ta hãy noi gương Người, cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ, vu khống và làm hại ta. Chính khi thành khẩn cầu nguyện cho ai là ta đang diễn tả tình yêu giống như Chúa Giêsu đã yêu, ta yêu họ không còn bằng tình yêu tự nhiên trong ta nhưng ta đang yêu họ bằng tình yêu của Chúa Giêsu. Tình yêu của con người giới hạn và ích kỷ lắm. Chỉ có tình yêu của Chúa Giêsu mới có khả năng vượt lên trên những hận thù, tha thứ tất cả mọi tội lỗi của con người.

Lạy Chúa Giêsu! Cảm tạ Chúa đã dạy con cầu nguyện và sống tinh thần phó thác trong tay Thiên Chúa mỗi khi con gặp thử thách gian nan. Xin tình yêu Chúa thúc bách con, giúp con biết mở rộng trái tim đón nhận và yêu thương người khác như Chúa mời gọi. Con tạ ơn Chúa đã luôn cầu nguyện cho con, ban Thánh Thần để hướng dẫn con trong từng ngày sống. Xin cho con vững tin rằng, dù con bất toàn và tội lỗi, con vẫn luôn được sống trong tình yêu bao la của Chúa và được Người dõi mắt đoái thương. Amen.

Về mục lục

ĐỨC VUA CỦA NGƯƠI ĐANG ĐẾN

Thiên San

Trải qua gần bốn mươi ngày Chay Thánh, chúng ta bước vào Chúa Nhật lễ Lá, tưởng niệm biến cố Chúa Giêsu tiến vào Thành thánh Giêrusalem, như vị vua của hòa bình, khiêm cung cưỡi trên lưng lừa như lời của ngôn sứ Dacaria: “Nào thiếu nữ Xi-on, hãy vui mừng hoan hỷ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ” (Dc 9, 9). Vị vua ấy sẽ đi vào cuộc khổ nạn như Người đã tiên báo.

Cùng với Hội Thánh, chúng ta cử nghi thức kiệu lá, tưởng niệm biến cố Chúa Giêsu tiến vào thành thánh Giêrusalem. Hình ảnh Đức Giêsu ngồi trên lưng lừa thật đẹp. Người đã mong đợi ngày này từ lâu, không phải để cho mọi người ca tụng tung hô nhưng là để hoàn tất những gì được chép trong Kinh Thánh về Người. Nói đúng hơn, lần này Người tiến vào thành thánh để cứu chuộc nhân loại bằng giá máu châu báu của Người trên thánh giá. Sau khi cử hành nghi thức kiệu lá, dân thánh Chúa tiếp tục cử hành thánh lễ với Bài Thương Khó kể về những cực hình mà Chúa chúng ta đã chịu vì yêu thương chúng ta. Giờ của Người đã đến. Người đi vào thành cách chủ động, tự do và yêu thương đến cùng, hoàn toàn theo thánh ý Chúa Cha.

Khi bước vào cuộc thương khó, Chúa Giêsu đã thực hiện và hoàn tất mọi điều Người đã nói và mọi điều đã được ghi trong Kinh Thánh. Người đã cho nhân loại thấy tình yêu tột đỉnh của mình, một tình yêu dám chết cho người mình yêu. Khi nghe bài Thương Khó, chúng ta có thể thấy được phần nào những cực hình Chúa phải chịu. Chúng ta có nghe thấy tiếng “yêu” của Người dành cho mình? Tiếng yêu ấy không chỉ dừng lại ở hôm nay nhưng là mọi ngày trong đời ta. Đức Giêsu đã trao hiến thân mình làm của lễ đền tội cho chúng ta, nhờ đó chúng ta được giao hòa cùng Thiên Chúa. Người là của lễ vẹn toàn, không tì tích, là của lễ đẹp lòng Chúa Cha hơn hết.

Nhân loại hôm nay vẫn còn đó biết bao người không nhận biết Chúa, từ chối tình yêu của Người. Họ chẳng có kinh nghiệm reo mừng hớn hở khi nhìn thấy Đức Vua Giêsu khiêm cung ngồi trên lưng lừa và đến trong cuộc đời họ. Biết bao người đã không biết đến ân phúc lớn lao, tình yêu lớn lao Thiên Chúa dành cho mình qua Con Một yêu dấu. Còn chúng ta, chúng ta? Chúng ta có đang sống trong ân sủng của Người? Chúng ta đã làm gì để đáp lại tình yêu lớn lao Người dành cho mình? Xin Chúa giúp chúng ta biết đón nhận tình yêu của Người, can đảm đi theo con đường Người đã đi. Chúng ta cũng cầu nguyện cho nhân loại biết đón nhận tình yêu cứu chuộc của Người. Vì Người là Vua của chúng ta.

Về mục lục

 

Exit mobile version