Lời Chúa Năm C Các bài suy niệm Chúa Nhật 33 Thường niên_ C

Các bài suy niệm Chúa Nhật 33 Thường niên_ C

CHÚA NHẬT 33 THƯỜNG NIÊN_C

Lời Chúa: Ml 3,19-20a; 2Tx 3,7-12; Lc 21,5-19

——-

Mục lục

  1. Anh Em Đừng Lo(Bông Hồng Nhỏ, MTG.Thủ Đức)
  2. Có tình có lý  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)
  3.  Kẻo bị lừa dối  (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)
  4. Ngày sẽ đến  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)
  5.  Ai không làm thì đừng ăn (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương)
  6. Cơ hội chọn Chúa  (Bông Hồng Nhỏ, MTG.Thủ Đức)
  7. Đừng để mất cơ hội (Anna Cỏ May, MTG.Thủ Đức)
  8. Tình yêu và lòng kiên trì (Teresa Phan Huyền, MTG.TĐ)
  9. Kiên nhẫn sẽ được ơn cứu rỗi (Teresa Tuyết Ngọc,  MTG.TĐ)
  10. Diễn từ về Giêrusalem đổ nát  (Lm. Giuse Nguyễn An Khang)
  11. Kiên trì trước sức tàn phá (Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)
  12. Ngày tận thế  (Lm. Minh Vận, CRM)
  13. Giữ linh hồn  (Lm. Bùi Quang Tuấn)
  14. Biết tin vào ai?  (Lm. Nguyễn Ngọc Long)
  15. Bền đỗ sẽ được ơn cứu độ (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
  16. Trắc nghiệm đức tin (Thiên Phúc)
  17. Phán xét người lành kẻ dữ (Lm. Hồng Phúc, CSsR)
  18. Tầm nhìn  (Trầm Thiên Thu)
  19. Diễn từ về Giêrusalem đổ nát.  (Học viện Giáo Hoàng Pi-ô X Đà Lạt)

 

Mục lục

1. Phần thưởng cho người trung tín  (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên)

2. Niềm tin Phục sinh (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

3. Trung thành và bình an (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

4. Chỉ một bước chân  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

5. Làm chứng cho tình yêu (Lm. GB. Trần Văn Hào, SDB)

6. Danh nghĩa  (Trầm Thiên Thu)

7. Chúa chính là lẽ sống, nguồn ơn cứu độ của chúng con  (P.Trần Đình Phan Tiến)

8. Ngày của Chúa  (JM. Lam Thy, ĐVD)

9. Mạt thế  (AM. Trần Bình An)

10. Thời gian  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

11. Tín thác trong ngày thế tận (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

12. Kiên quyết không bỏ Đạo yêu thương (Lm. Inhaxiô Trần Ngà)

13. Kiên trì đón chờ Chúa lại đến  (Lm. Đan Vinh)

14. Chúa Nhật 33 Thường niên_C (Lm. Antôn)

.

ANH EM ĐỪNG LO

Bông hồng nhỏ

Hôm nay, nhân có mấy người nói về vẻ đẹp tráng lệ của Đền Thờ và những đồ dâng cúng, Thầy Giêsu đã tiên báo về sự sụp đổ của thành Giêrusalem. Họ hỏi Người về ngày giờ sự việc sẽ xảy ra. Thầy Giêsu đã cho biết những điềm báo trước, Người cũng khẳng định rằng trước khi các sự ấy xảy ra thì các môn đệ sẽ bị ngược đãi, bắt bớ, tù đày. Trước những điều ấy, Người trấn an các ông đừng sợ hãi; tất cả sẽ là cơ hội để các ông làm chứng cho Chúa. Người căn dặn các ông hãy kiên trì giữ vững đức tin, có thế họ mới giữ được mạng sống mình.

Thế giới có nhiều biến động, sống giữa một thế giới ấy, con người dễ rơi vào lo lắng, bất an. Người môn đệ của Chúa cần có thái độ tỉnh thức để khi đứng trước những gian nan khốn khó của thời cuộc, họ sẽ không đánh mất đức tin và niềm hy vọng, không bị lôi kéo bởi những ngôn sứ giả. Nhiều người sẽ mạo danh Thầy Giêsu để loan báo thời kỳ đã đến gần, nhưng người môn đệ của Chúa không được nghe theo họ. Để có thể nhận ra đâu là tiếng nói đến từ Thiên Chúa, người môn đệ cần có một tương quan gắn bó với Chúa, với Lời Chúa, và với Giáo Hội của Người. Một người gắn bó với Chúa, với mẹ Giáo Hội sẽ không ngừng được nuôi dưỡng và trưởng thành trong đức tin.

Trải qua dòng lịch sử, thế giới đã kinh qua biết bao cuộc chiến tranh và các thảm họa thiên tai, … những điều ấy phải xảy ra trước nhưng không phải là chung cục. Chúa Giêsu trấn an các môn đệ là đừng sợ hãi. Vì danh Thầy, các ông sẽ bị bắt bớ, tù đày và phải chết, đây chính là cơ hội để các ông làm chứng cho Chúa. Các ông không tin vào một Đấng mà các ông không biết, nhưng các ông tin vào Thiên Chúa là Thiên Chúa của các tổ phụ, Thiên Chúa của một dân được tuyển chọn và là Thiên Chúa trong tương quan với chính mình. Đấng hằng yêu thương các ông sẽ cho các ông ăn nói thật khôn ngoan. Vì Nước Chúa, các ông sẵn sàng chịu bách hại. Chúa Giêsu mời gọi các ông hãy ghi tạc vào tâm trí mình điều này, để không một thử thách nào có thể quật ngã các ông: “… anh em đừng lo nghĩ phải bào chữa cách nào. Vì chính Thầy sẽ cho anh em ăn nói thật khôn ngoan, khiến tất cả địch thủ của anh em không tài nào chống chọi hay cãi lại được” (Lc 21,14-15). Không ai tự mình bào chữa nhưng họ sẽ nói bằng tiếng nói của chính Đấng đang cư ngụ trong lòng. Chính Đấng đã yêu thương họ đến cùng sẽ cho họ biết đón nhận mọi thử thách gian nan, sẽ ban cho họ được mạnh mẽ đến cùng trong đức tin, vững vàng trong đức cậy và bền bỉ trong đức mến. Không một hy sinh nào trở nên vô nghĩa, tất cả đều được Thiên Chúa ghi nhận và đáp trả bằng tình yêu.

Lạy Chúa Giêsu! Chúa biết con thường khó kiên trì đi đến cùng trong mọi việc. Xin giúp con mỗi ngày cố gắng hơn, thêm một chút kiên trì trong từng việc nhỏ mọn, để lòng kiên trì của con được lớn lên. Vì Chúa luôn đoái nhìn đến con, Chúa biết rõ con sẽ đi đứng ra sao, sẽ chọn lựa thế nào. Xin gìn giữ con trong tình yêu của Chúa. Mỗi ngày, xin cho con lặp lại lời Chúa khắc ghi vào tâm khảm của con: “Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình.” Amen.

Về mục lục

.

CÓ TÌNH CÓ LÝ

Lm. Jos. DĐH.

Trong khi xã hội ngấm ngầm với chủ trương: mạnh được yếu thua, khéo mồm miệng đỡ chân tay ; thực tế tại gia đình, mỗi thành viên đều thấy: sống có tình có lý, chính là thước đo của bình an, hạnh phúc. Cơm áo gạo tiền, công danh sự nghiệp, có thể là mối bận tâm của nhiều bậc làm cha mẹ, trong khi đó, sống hiếu thảo, sống nghĩa tình, vẫn là đáp án chung cho tất cả những ai đang hướng tới niềm an vui hạnh phúc. Suy nghĩ và hành động của mỗi người rất tự do, vô chừng mực: được tới đâu, hay tới đó ; có hoa mừng hoa, có nụ mừng nụ, hoặc được ăn cả, ngã về không… ! Có phải hạnh phúc lớn nhất ở đời là khi người ta biết để tai mắt tới những vẻ đẹp của vũ trụ vạn vật, để tâm trí hoà hợp với các thành viên gia đình, xã hội, và đưa đến thực hành bằng sự nhạy bén của con tim khối óc ?

Trước “cái biết” giới hạn mong manh, những người Do-thái hôm đó trầm trồ khen ngợi vẻ đẹp nguy nga của Đền thờ Giêrusalem, phản ứng trung thực của Đức Giêsu, Ngài hướng mọi người đến tính cao đẹp và vững chắc phải là Đền thờ tâm hồn, cần thiết và quan trọng hơn. Đền thờ vật chất được xây dựng bằng những thứ vật liệu quý hiếm đắt tiền, chúng chỉ là gạch vữa dễ hư nát với thời gian, như lời tiên báo: “những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó, sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào”. Bằng mắt thường, bằng sự đụng chạm của giác quan, có ai lý giải được vì sao Tiền-nhân chúng ta không sợ đau khổ, không sợ cực hình, không sợ máu chảy đầu rơi ? Một tinh thần khoẻ mạnh, một ý chí sắt đá, một đền thờ tâm hồn vững chắc, có phải mỗi Vị tử đạo được nhào nắn, huấn luyện, nên viên đá sống động, trường tồn, trong ơn gọi theo Đức Kitô ?

Sống có tình có lý, chính là cư xử tốt với đồng loại, là tương quan vừa tốt vừa đẹp với tha nhân, nhất định phải đúng, phải phù hợp với thánh ý Chúa, khi mà lý trí và tự do đang liên kết, làm nên một nhịp đập trong tình yêu của Đức Kitô, Đấng đã chết và sống lại vì yêu. Người đời không khỏi thắc mắc về các anh hùng tử đạo của Kitô giáo: người mạnh mẽ là gì, người không sợ đau khổ chết chóc là vì sao ? Thưa, không phải vì sự cứng rắn bề ngoài, nhưng là do tinh thần các ngài thấm nhuần tình yêu của Đấng đã yêu họ. Tiền nhân của chúng ta dám chết vì tình yêu Đức Kitô, không ai nghĩ là các ngài mình đồng da sắt, chính xác hơn, cha ông chúng ta đã biết sống đúng ý Chúa, sống chuẩn mực với Tin-mừng mà các ngài đã nhận lãnh.

Từ câu chuyện Đền-thờ xinh đẹp với kiến trúc nguy nga tráng lệ, được trang hoàng lộng lẫy bằng vàng bạc châu báu, Chúa Giêsu gợi lên một chân lý: vạn vật ở thế trần bất toàn, tất cả rồi sẽ hư hỏng theo quy luật thời gian. Từ câu chuyện các bậc anh hùng tử đạo: không tham sống sợ chết, các thế hệ tiếp nối truyền thống đức tin của cha ông, không thể chối bỏ một sự thật: linh hồn bất tử. Đền-thờ vật chất dù kiên cố, đồ sộ, dù là niềm kiêu hãnh của số đông đã từng cả nghĩ, nhưng mấy chốc chúng sẽ đổ xập ! Từ những tiên tri giả, những hiện tượng lạ trên trời dưới đất, khiến muôn dân thiên hạ phải hoang mang sợ hãi, nhưng đó chính là cơ hội mỗi người sẽ minh chứng thế nào là sống có tình, có lý, đối với đức tin ta đã nhận lãnh. Đâu phải tự nhiên mà tiền nhân chúng ta biết chỉ dạy con cháu: ta có lỗi với người là hoạ, người có lỗi với ta là phúc !

Chúa Giêsu không phủ nhận vẻ đẹp của Đền-thờ, Ngài gián tiếp nhắc nhớ con người cần phải tin tưởng vào Đấng đã tác tạo nên muôn loài muôn vật: “anh em hãy ghi lòng tạc dạ, anh em đừng lo nghĩ phải bào chữa cách nào. Vì chính Thầy sẽ cho anh em ăn nói thật khôn ngoan, khiến tất cả thù địch của anh em không tài nào chống chọi hay cãi lại được”. Trong khi các đấng bậc lưu ý con cháu: muốn thành công trên đường đời phải làm chủ lấy thời cuộc, muốn làm chủ lấy thời cuộc phải làm chủ lấy những người xung quanh, nhưng muốn làm chủ những người xung quanh ta phải làm chủ lấy mình. (Vitor Pauchet). Chúa Giêsu thì có ý nhắc: hãy tin tưởng vào tình yêu thương của Ngài và tập trung để cùng Chúa xây dựng Đền-thờ tâm hồn của mình trước.

Sống có tình có lý, phải chăng là được không kiêu, thua không nản, hoặc là chúng ta đang thể hiện việc sống niềm tin kitô giáo: mến Chúa yêu người ? Các Thánh tử đạo Việt Nam hôm xưa bị coi là khờ là dại, cùng lắm một số suy nghĩ tích cực hơn: những vị ấy thật xứng bậc anh hùng ; trước thánh nhan Thiên Chúa, tiền nhân chúng ta quả là khôn ngoan, bởi các ngài có dư cách để thoát thân. Đúng như lời Chúa Giêsu căn dặn: “có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình”. Cuộc sống có chiến tranh, loạn lạc, chia rẽ, thù hận, phản ánh một cuộc sống tạm, đầy nguy nan ; cuộc sống bền vững, ngập tràn yêu thương an bình, chính là cuộc sống mà các tương quan gia đình, xã hội, mọi thành viên đều ý thức phải sống có lý, có tình. Amen.

Về mục lục

.

KẺO BỊ LỪA DỐI

Lm Giuse Hoàng Kim Toan

Hàng giả, hàng nhái, fake news, những giả dối dường như đang bao vây con người, dẫn dụ nhiều người vào những sai lầm, những món nợ, những thiệt hại. Trong Tin Mừng Chúa Giê su cũng nói tới những tiên tri giả, những người tự xưng mình là đấng cứu thế, giả danh, giả nghĩa, trục lợi những người tin vào chúng. Đâu là sự thật, để có thể đứng vững?

Sàng lọc đức tin.

Chúa Giêsu nói cần đứng vững và trải qua thử thách. Giữa những giả dối, điều quan trọng hơn bao giờ hết, cần bình tâm, suy xét và phán đoán theo sự khôn ngoan. Nếu tự mình không biết đâu là sự thật, nên tìm hiểu và hỏi những người hiểu biết hơn. Có một nơi tin cẩn nhất để biết, đó là nơi Chúa. Cầu nguyện và tìm nơi Chúa câu trả lời.

Sự thật là gì? Câu hỏi của Philatô trong phiên xét xử Chúa Giê su ở toà án, luôn được nhắc đi nhắc lại để phân định, Chúa Giêsu là ai? Chúa Giêsu là sự thật con người cần tìm kiếm trong mọi thời đại.

Sự thật đối với người Do Thái hiểu là người trung tín trong lời nói và việc làm. Thiên Chúa, Đấng Trung Tín như đã mạc khải cho Môi sê: “Yavê! Yavê! Thiên Chúa chạnh thương, huệ ái, bao dung và đầy nhân nghĩa, tín thành.” (Xh 34, 6). Đấng trung tín hiện thân bằng xương, bằng thịt nơi Chúa Giê su, theo nghĩa sự thật có thể gặp và đụng chạm được của người Hy Lạp. Trong Thánh Kinh, sự thật như Chúa Giêsu mạc khải: “Sự sống đời đời tức là: chúng nhận biết Cha, Thiên Chúa độc nhất và chân thật, và Ðấng Cha đã sai, Yêsu Kitô.” (Ga 17, 3).

Nhận biết Chúa Cha và Chúa Giêsu là sự thật, một đòi hỏi sự trung tín trong tình yêu được mời gọi. Đó là một tương quan sống với hơn là một sự thật nắm giữ. Do vậy, khi Chúa Giêsu nói: “Sự thật sẽ giải thoát anh em” (Ga 8, 32) nghĩa là “Anh em trung tín trong tình yêu, tình yêu sẽ biến đổi anh em”. Trong tình yêu của Chúa, con người được ban sức mạnh để tránh xa tội lỗi, và giữ gìn khỏi những bất trung.

Thử thách trong tình yêu

Trong tình yêu luôn có những thử thách, đó là kinh nghiệm của con người qua mọi ơn gọi yêu thương: Hôn nhân, đời tu, bạn hữu… Thử thách lòng yêu thương đi cùng nhau qua năm tháng.

Sự trung tín cần có một điểm tựa chắc chắn, có câu ngạn ngữ viết rằng: “Đừng dựa vào cành cây, cành cây sẽ gẫy, đừng dựa vào con người, con người sẽ chết”. Dựa vào sự thật được mặc khải trong Lời Chúa là khôn ngoan. Đức Hồng Y Bruno Forte gợi ý rằng: “Cần đọc lịch sử trong Lời Chúa và đọc Lời Chúa trong lịch sử”. Mỗi người là một lịch sử được ghi dấu trong tình yêu của Chúa, lịch sử đó như lời mời gọi: Cầm lấy Lời Chúa mà đọc, “để nghiệm xem Chúa tốt lành, nhân hậu dường bao” (Tv 34, 9).

Sự trung tín cũng cần được thực hiện trong tình yêu. Lời Chúa trong Tin Mừng Mat thêu 25, 33, nói khi Chúa xét xử, Người không xét xử gì khác ngoài tình yêu. Sống bác ái yêu thương trong từng lời nói, hành động với nhau; chia sẻ với người nghèo khó, ân cần đón tiếp kẻ cơ bần. Chúa hiện diện nơi người anh chị em và nơi người nghèo khó. Như một bài hát thường hát: “Đâu có tình yêu ở đó có Đức Chúa Trời”. Yêu thương là chu toàn lề luật (Rm 13, 10).

Trông cậy vào Chúa để có sức mạnh, có đủ tình yêu vượt qua những thử thách. Nghiệm thấy mình trong Lời Chúa như trang Tin Mừng dành cho chính mình trong công trình cứu độ của Chúa, niềm vui và hạnh phúc.

Về mục lục

.

NGÀY SẼ ĐẾN

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Trầm trồ khen ngợi đền thờ,
Trang hoàng đá quí, không ngờ phá tan.
Giê-su báo trước ngày tàn,
Đá tường bình địa, kêu than thấu trời.
Chừng nào biến cố tới nơi?
Dấu nào nhận biết, những lời Thầy đây.
Coi chừng lừa dối bao vây,
Mạo danh Chúa đến, để gây ưu phiền.
Chiến tranh loạn lạc mọi miền,
Các con đừng sợ, thiên nhiên chuyển vần.
Xảy ra động đất xa gần,
Trên trời điềm lạ, từng phần xảy ra.
Mọi nơi ôn dịch mưa sa,
Con người đói khát, sa đà chiến tranh.
Ngục tù bắt bớ tranh dành,
Hội đường cấm cách, phạm danh Chúa Trời.
Quan quyền uy hiếp người đời,
Chứng nhân sự thật, gọi mời hy sinh.
Cầu xin ân sủng Thánh Linh,
Khôn ngoan đối đáp, bình sinh an hòa.

Bước gần vào cuối năm Phụng vụ, Giáo Hội cho chúng ta nghe bài Phúc âm về những sự sẽ xảy ra ngày cuối đời. Chúa Giêsu tiên báo về ngày sụp đổ của Thành Thánh Giêrusalem. Chúa phán rằng: Những gì các con nhìn ngắm đây, sau này sẽ đến ngày không còn hòn đá nào mà chẳng bị tàn phá. Thành Giêrusalem đã bị phá đổ và cháy rụi vào năm 70 sau Công Nguyên. Nhiều người đương thời muốn biết dấu chỉ để nhận ra ngày đó. Chúa chỉ nhắc nhở: Các con hãy ý tứ kẻo bị người ta lừa dối.

Tòa Soạn tờ báo Tiếng Chuông, tại New Jersey, có một bài viết về Ngày tận thế đã được khẳng định. Họ là những chuyên viên Kinh Thánh và Mục sư, học giả cho rằng ngày tận thế sẽ là ngày 31 tháng 12 năm 1999. Đây không phải là lần đầu tiên người ta tiên báo về ngày tận thế. Ngày đó đã qua hơn 15 năm vẫn chưa thấy gì xảy ra. Chúng ta đã nghe biết bao lời sấm, tiên báo về ngày cùng tận nhưng thời gian vẫn cứ trôi và trái đất vẫn xoay tròn tiếp tục. Vậy ngày tận thế bao giờ sẽ đến? Câu hỏi lôi cuốn rất nhiều người muốn tò mò tìm xem để biết về tương lai. Ngày đó chắc chắn sẽ đến. Chúng ta không biết ngày nào và giờ nào. Chưa xảy ra nhưng sẽ xảy ra, ngày đó không ai biết trước.

Việc quan trọng mà Chúa muốn chúng ta là luôn ở trong tư thế sẵn sàng. Nếu chúng ta chuẩn bị tâm hồn và sẵn sàng thì ngày tận thế sẽ là ngày đang mong đợi để kết hợp với Chúa. Truyện kể: Có một ông cụ ngoài 70 tuổi đang trên giường bệnh đau đớn chờ chết. Tâm hồn không được thanh thản, ông dằn vặt, lo lắng và không tâm sự được. Qua những cuộc viếng thăm và an ủi, ông đã lên tiếng phá vỡ bầu khí yên lặng, ông nói rằng: Ngày trước, khi tôi còn trẻ, tôi thường chơi ở cánh đồng gần giao lộ. Nơi đó có tấm bảng chỉ đường, tôi thường nghịch xoay các bảng chỉ đường làm biết bao nhiêu người đã bị lạc và nguy hiểm. Còn nhiều việc khác nữa, tôi đã làm gương mù, gương xấu cho con cháu qua cách sống của tôi, Giờ đây tôi hối hận. Không biết bao nhiêu người vì tôi mà đã bị lầm lạc trong cuộc sống.

Điều quan trọng không phải là ngày nào hay giờ nào tận thế đến, nhưng là chúng ta có sẵn sàng để đón Chúa đến hay không. Lạy Chúa, xin Chúa cho chúng con tỉnh thức và sẵn sàng để bất cứ khi nào Chúa đến, chúng con sẽ sẵn sàng cầm đèn cháy sáng trong tay chờ đợi Chúa.

Về mục lục

.

AI KHÔNG LÀM THÌ ĐỪNG ĂN

Lm Phêrô Nguyễn Văn Hương

Chỉ còn hai tuần nữa chúng ta sẽ kết thúc năm phụng vụ. Khi nói về ngày tận cùng của thế giới, Lời Chúa hôm nay hướng chúng ta tới bổn phận phải xây dựng cuộc sống hiện tại qua các bài đọc, đặc biệt là trong bài đọc II, thánh Phaolô quả quyết: “Ai không làm thì đừng ăn!”

Có lẽ cộng đoàn Thêxalônica là một trong những cộng đoàn đầu tiên, có những tín hữu đã có những kết luận sai lầm về huấn từ ngày cánh chung của Chúa Giêsu. Họ cho rằng thật là vô ích để cố gắng hết mình, làm lụng vất vả hay làm bất cứ điều gì nếu ngày Chúa xảy đến. Vì thế, họ lơ là bổn phận lao động hằng ngày, và vì sự “ở nhưng” là mẹ đẻ của mọi tật xấu, nên họ ngồi lê đôi mách. Họ chỉ sống cho qua ngày mà không còn dấn thân cho những dự phóng lâu dài, chỉ làm việc tối thiểu để đủ sống thôi.

Thánh Phaolô trả lời cho họ trong bài đọc II: “Thế mà chúng tôi nghe nói: trong anh em có một số người sống vô kỷ luật, chẳng làm việc gì, mà việc gì cũng xen vào. Nhân danh Chúa Giêsu Kitô, chúng tôi truyền dạy và khuyên nhủ những người ấy hãy ở yên mà làm việc, để có của nuôi thân” (2 Tx 3,11-12). Ở phần đầu của đoạn này, thánh Phaolô nhắc lại luật mà ngài đã truyền cho các Kitô hữu trong cộng đoàn Thêxalônica: “Ai không làm thì cũng đừng ăn” (2 Tx 3,10).

Điều này là một sự mới mẻ đối với con người thời đó. Bởi lẽ, nền văn hóa thời đó mà họ thuộc về là văn hóa coi thường việc lao động chân tay. Người ta nhìn những công việc tay chân là những việc làm đê hèn, thấp kém, chỉ dành cho những người nô lệ và những người ít học.

Nhưng Kinh Thánh có một cái nhìn khác. Từ những trang đầu tiên, Kinh Thánh giới thiệu Thiên Chúa làm việc trong sáu ngày và ngày thứ Bảy Người nghỉ ngơi. Trong Kinh Thánh, tất cả những điều này xảy ra trước khi tội lỗi xuất hiện. Chính Chúa Giêsu cũng quả quyết: “Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc” (Ga 5,17). Trong thời gian sống ẩn giật tại Nadarét, Chúa Giêsu cũng đã chăm chỉ lao động cùng với thánh Giuse và đức Maria.

Vì thế, lao động tự bản chất thuộc một phần bản tính của con người. Mỗi công việc lao động tự nó đều có giá trị. Lao động chân tay cũng giá trị và cao trọng như lao động tri thức và tâm linh.

Trong Thông Điệp Laborem exercens (1981), Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trình bày về giá trị của lao động theo cái nhìn Kitô giáo, được tóm tắt trong ba điểm sau đây:

1- Lao động giúp mỗi người hoàn thiện bản thân

Lao động là một điều tốt của con người, bởi vì nhờ lao động mà con người không chỉ cải tạo thiên nhiên, nhưng còn giúp con người thực hiện ơn gọi của mình xét như là một nhân vị. Theo nghĩa này, con người càng trở nên chính mình, nên hoàn thiện mình nhờ lao động. Khi lao động, ngoài những hiệu quả khách quan và mang lại sản phẩm, còn là một hành vi cá nhân mà toàn thể con người tham dự, cả thể xác lẫn tinh thần. Như thế, lao động không phải là gánh nặng, là hình phạt và sự rủi ro, nhưng là bổn phận, quyền lợi, và là sự chúc lành của Thiên Chúa để chúng ta hoàn thiện chính mình, thi thố tài năng và rèn luyện các nhân đức. Nhờ lao động, con người nên hoàn thiện và ai tích cực lao động sẽ nên thánh nhờ lao động.

2- Lao động là cộng tác với Thiên Chúa

Giá trị thứ hai của lao động là con người được tham dự và cộng tác vào hoạt động sáng tạo của Thiên Chúa, Đấng đã giao phó công trình của người cho con người để con người tiếp tục phát triển và sinh lợi cho mọi người. Vì điều này, một người lao động là một người sáng tạo. Ý thức rằng lao động của con người là sự tham gia vào công trình của Thiên Chúa, nên khi lao động con người phải hướng tới những mục đích mà Công Đồng dạy:

“Thật vậy, trong khi mưu sinh cho mình và cho gia đình, tất cả những người nam cũng như nữ hoạt động để phục vụ xã hội một cách hữu hiệu đều có lý để tin rằng nhờ lao công của mình, họ tiếp nối công trình của Đấng Tạo Hóa, phục vụ anh em, đóng góp công lao mình vào việc hoàn thành ý định của Thiên Chúa trong lịch sử” (GS 34).

3- Lao động phục vụ tha nhân

Đức tin Kitô giáo không cho phép cho người tín hữu sao nhãng bổn phận trần thế là xây dựng thế giới xã hội cũng như có thái độ vô tâm đối với tha nhân, nhưng ngược lại, Đức tin đòi buộc chúng ta phải dấn thân để phát triển xã hội và giúp đỡ tha nhân bằng lao động của mình. Bởi vậy, mỗi người được mời gọi phải hướng lao động của mình tới việc phục vụ con người sống trong xã hội. Khi lao động, chúng ta tạo ra nhiều sản phẩm, gia tăng sự giàu có vật chất và phát triển khoa học kỹ thuật, phát triển văn hóa, nhờ đó, giúp con người phát triển phẩm giá, sống đúng phẩm giá trong đoàn kết, hiệp thông và tôn trọng tự do lẫn nhau.

Tuy nhiên, các bậc thầy tu đức vĩ đại dạy chúng ta rằng phải biết kết hợp giữa lao động với cầu nguyện: “Ora et labora.” Bổn phận mỗi ngày của chúng ta là phải cố gắng hết mình để làm cho lời cầu trong Kinh Lạy Cha được thực hiện: “Xin cho Nước Cha ngự đến.” Mỗi người được mời gọi lao động tích cực, nhưng đồng thời cũng không quên bổn phận cầu nguyện mỗi ngày, như là linh hồn cho công việc chúng ta. Như thế, mỗi lần chúng ta tới nhà thờ dâng lễ, chúng ta dâng lên Thiên Chúa bánh và rượu của chúng ta, đó là hoa màu ruộng đất và lao công con người cũng như những thành quả lao động. Thánh Thể trở thành biểu tượng sự kết hợp giữa lao động và cầu nguyện. Nhờ đó, cuộc sống mỗi người sẽ có ý nghĩa hơn cho mình và cho người khác. Nhờ lao động, chúng ta chuẩn bị cho cuộc sống mai hậu. Vì thiên đàng chỉ dành cho những ai làm việc tích cực. Amen!

Về mục lục

.

CƠ HỘI CHỌN CHÚA

Bông hồng nhỏ

Con người luôn mong chờ cơ hội để được đổi đời: muốn thoát khỏi kiếp nghèo để trở nên giàu sang, muốn được nổi tiếng để được người ta vị nể, muốn có chức quyền để dương oai… Hôm nay, Chúa Giêsu đã nói đến một cơ hội đặc biệt, cơ hội để làm chứng cho Ngài.

Cuộc sống thường ngày vẫn diễn ra và luôn đặt người môn đệ trong một tâm thế phải luôn sẵn sàng để đương đầu với những thử thách. Thử thách đến từ chính cuộc sống này, những gian nan khốn khổ, những mời gọi ngọt ngào của chước cám dỗ, danh vọng, giàu sang. Chính khi đối diện với Lời Chúa hối thúc trong tâm hồn, ta có sẵn sàng để sống Lời Chúa không? Nếu ta không đủ nhạy bén với Lời của Chúa, không cảm thấy Lời Chúa rất thân quen, thì ta sẽ khó để nhận biết đâu là Lời của Chúa. Chúa Giêsu đã báo trước sẽ có những ngôn sứ giả xuất hiện (x. Lc 21,8).  Mỗi ngày, ta hãy năng đọc và suy gẫm Lời Chúa, để Lời Chúa dần dần thấm vào tâm hồn ta, trở nên nguồn lương thực giúp ta vượt qua những khó khăn và giúp ta tìm ra những câu trả lời cho cuộc sống vốn dĩ vẫn luôn có đầy những bế tắc. Đồng thời, ta hãy luôn sống gắn bó với Hội Thánh, sống theo các giáo huấn và huấn quyền của Hội Thánh.

Mỗi ngày, ta phải quyết liệt chọn Chúa trên hết mọi người và mọi sự. Chọn Chúa không chỉ là dám từ bỏ những vật chất, những danh vọng giả trá, nhưng hơn hết, chọn Chúa là dám từ bỏ chính cái tôi của mình. Từ bỏ mình luôn luôn là một chọn lựa đầy thách đố, đó là chọn lựa đầu tiên và liên tục mỗi ngày. Chọn từ bỏ mình đồng nghĩa với việc chọn Chúa là gia nghiệp, là chủ của mình.

Vì danh Chúa, người môn đệ sẽ bị bắt bớ, tù đày. Đây chính là cơ hội để ta làm chứng cho Chúa. Chúa Giêsu đã hứa chính Ngài sẽ cho ta ăn nói thật khôn ngoan, khiến cho tất cả địch thủ không tài nào chống chọi hay cãi lại được (x. Lc 21, 12-15). Trong những chọn lựa của cuộc sống hằng ngày, ta có tin rằng, khi ta dám phó thác đời sống của mình và cả chính mạng sống mình cho Chúa thì chính Ngài sẽ sống trong ta không? Được mọi người thương mến là điều tuyệt vời nhưng vì danh Chúa, ta có chấp nhận bị mọi người thù ghét không, chấp nhận cả cái chết không? Trước muôn vàn thử thách để thanh luyện đức tin và lòng mến của ta, ta có nhận ra đây là cơ hội tuyệt vời không? Chúa Giêsu đã khẳng định: “Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình” (Lc 21, 19). Kiên trì trong niềm tin tưởng vào Chúa luôn luôn là ơn ban của Chúa. Tự sức mình, ta không thể nào đứng vững và không đủ sức để thoát khỏi mọi cám dỗ kéo ta xa rời đức tin và từ bỏ Chúa.

Lạy Chúa Giêsu! Chúa biết rõ con không thể làm gì nếu không có ơn Chúa. Con xin Chúa cho con mỗi ngày biết chọn Chúa trong những thử thách nhỏ, để khi thử thách lớn lao đến, con không hoảng sợ nhưng vững tin có Chúa đang ở ngay bên. Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu xin đốt lòng con yêu mến Chúa! Amen.

Về mục lục

.

ĐỪNG ĐỂ MẤT CƠ HỘI

Anna Cỏ May

Có lúc nào chúng ta đã làm chứng cho Đức Giêsu chưa? Đó là một câu hỏi không dễ trả lời nhưng sẽ trả lời bằng chính cuộc sống của mỗi người. Chúng ta có rất nhiều cơ hội và nhiều hình thức để làm chứng cho Đức Giêsu, ngay cả lúc chúng ta phải đối diện với cái chết.

Trong Tin Mừng Luca, nhân khi mấy người nói về Đền Thờ lộng lẫy nguy nga với những phiến đá đẹp và những đồ dâng cúng, Đức Giêsu bảo: “Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào”. Họ hỏi Người: “Thưa Thầy, vậy bao giờ các sự việc đó sẽ xảy ra, và khi sắp xảy ra, thì có điềm gì báo trước”( Lc 21, 6-7). Đức Giêsu không trả lời cho họ về thời gian. Ngài cho họ biết những sự việc và hiện tượng sẽ xảy ra trước khi thời đó đến. Sẽ có nhiều người mạo danh Ngài để lôi kéo dân chúng theo họ; dân này sẽ nổi dậy chống đối dân kia, nước này chống nước nọ; sẽ xuất hiện những trận động đất lớn, nhiều ôn dịch và đói kém xảy ra; những người theo Đức Giêsu sẽ bị người ta tra tay bắt và ngược đãi. Đó là cơ hội để họ làm chứng cho Ngài (x.Lc 21,8-11). Lúc này, mọi người sẽ làm chứng bằng cách hiến thân xác mình thành của lễ hy sinh, biến ngược đãi thành của lễ yêu thương, biến khổ hình thành thánh giá. Đây cũng là cơ hội để mọi người nên giống Đức Giêsu.

Là Kitô hữu, chúng ta có cảm nhận được Lời Chúa như đang vén mở ra trong cuộc sống này không? Hằng ngày, chúng ta được nghe, được nhìn thấy những con người xuất hiện với lời giảng khác với giáo lý và Lời Chúa mà chúng ta đã được thừa hưởng từ Đức Giêsu. Quan sát tự nhiên, chúng ta có nhận thấy thời tiết đang khác đi mỗi ngày không? Chúng ta cũng đã nhìn thấy sự đau thương, tan vỡ trong gia đình giữa anh em với nhau chỉ vì một miếng đất, một suy nghĩ hay quan điểm khác nhau. Chúng ta có cảm nhận được con người đang dần xa Thiên Chúa khi rơi vào những làn sóng hào nhoáng trong các chương trình giải trí cuối tuần không? Chúng ta hãy thử dừng lại nhịp sống để nhìn xem những gì đã đang xảy ra xung quanh? Nhìn lại chính mình, chúng ta đang ở đâu, ở vị trí nào? Chúng ta có để cho mình có cơ hội làm chứng cho Đức Giêsu ngay trong cuộc sống này không? Thiên Chúa vẫn khao khát tìm kiếm con người, Ngài chờ đợi họ. Con người sẽ làm chứng cho Ngài theo như Ngài muốn. Hơn thế nữa, Ngài mong cho con cái Ngài đứng vững trong niềm tin và kiên trì trong mọi hoàn cảnh, vì có kiên trì mới giữ được mạng sống.

Lạy Chúa Giêsu! Xin cho chúng con nhìn thấy được những gì đang xảy ra xung quanh chúng con. Xin cho chúng con nghe được tiếng Chúa nói: “Thầy đây, đừng sợ!”; để chúng con vững tin sống trong tình yêu của Chúa và trở nên chứng nhân của Chúa từng ngày. Amen.

Về mục lục

.

TÌNH YÊU VÀ LÒNG KIÊN TRÌ

Têrêsa Phan Huyền

Tình yêu là gì vậy?

Đó vẫn mãi là một câu hỏi có muôn vàn định nghĩa khác nhau. Nhưng chỉ trong Thiên Chúa, ta sẽ nhận ra và tìm được một câu trả lời xác đáng. Như thánh Gioan đã nói: “Thiên Chúa là tình yêu”, một tình yêu tự hiến, yêu cho đến cùng để cho muôn người được sống. một tình yêu bao la rộng lớn bao chùm mọi thành phần. Nhưng câu hỏi đặt ra trong khuôn mẫu tình yêu của Chúa vẫn thường bị chất vấn rằng: “Tại sao, Chúa yêu ta mà Ngài không cất khỏi những nỗi khổ đau nơi ta?”.

Và bài Tin Mừng hôm nay đã trả lời cho câu hỏi ấy, đã mở ra cho ta một cái nhìn rộng hơn, xa hơn về sức mạnh của tình yêu. Chúa đã mô tả những khó khăn sẽ xảy ra trước khi Ngài đến trong vinh quang: động đất phá hủy, chiến tranh xảy ra, con người sẽ bị bắt bớ và sẽ bị giết chết,… Chúa muốn nói cho ta biết Ngài sẽ không lấy đi những rắc rối, những khổ đau đang xảy ra trong thế giới này. Nhưng “một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị lấy đi, (Lc 21,18). Những nghịch cảnh chúng ta gặp vì Đức tin là cơ hội để ta làm chứng tá, làm men muối cho tình yêu Chúa . Những điều ấy không làm ta xa Chúa nhưng thúc đẩy ta càng phó thác vào bàn tay quan phòng đầy yêu thương của Chúa. Đó cũng là những điều giúp ta cậy trông vững vàng hơn và kiên trì hơn nữa để tìm được sự sống vĩnh cửu.

“Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống” (Lc 21, 19). Những lời trên của Chúa chứa đầy tình yêu. Đó là lời mời gọi ta sống tín thác, hy vọng, kiên nhẫn chờ đợi những thành quả của ơn cứu độ nơi Chúa. Những khó khăn và thử thách ta gặp phải đến từ Chúa và đó là một kế hoạch rộng lớn của Chúa. Có thể, chúng ta sẽ chưa thể hiểu ngay và hiểu hết đường lối khôn dò, khôn thấu của Chúa, nhưng hãy tin Chúa sẽ ban Thánh Thần Ngài hướng dẫn, ban sự khôn ngoan và nhạy bén để chúng ta biết phải làm gì cho đẹp Thánh ý.

Dẫu cho cuộc sống có khó khăn, biến đổi thế nào, có bao nhiêu khó khăn xảy đến nhưng Chúa vẫn luôn bên cạnh soi dẫn bước đường ta đi. Vì thế, để tìm được một sự sống đích thật, thì niềm tin và lòng kiên trì trong tình yêu với Chúa không bao giờ được ngừng lại. Đó là khi ta sống yêu thương tha thứ và biết tận dụng ơn Chúa trong từng ngày sống, để nỗ lực sống hết mình và làm tròn đầy giây phút hiện tại.

Lạy Chúa, xin giúp con luôn biết hoàn toàn vững tin, phó thác vào Ngài con để khi gặp khó khăn con luôn biết rằng đó là cách Chúa thanh luyện bản thân con để con được lớn lên trong ân nghĩa Chúa. Amen.

Về mục lục

.

KIÊN NHẪN SẼ ĐƯỢC ƠN CỨU RỖI

Têrêsa Tuyết Ngọc

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã báo trước cho chúng ta một số những tai nạn khủng khiếp sẽ xảy ra. Và có cả sự kiện thành Giêrusalem sẽ bị phá hủy. Nhưng sau cùng Ngài đã cho ta nghe những lời rất hoan lạc: hãy tin tưởng, đừng lo nghĩ và hãy kiên trì.

Chúa Giêsu báo trước những điều khủng khiếp như vậy, phải chăng là để chúng ta đặt niềm tin vào chính Thiên Chúa. Lời cảnh tỉnh của Ngài vẫn mang tính thời sự cho chúng ta, là những con người đang sống trong thế kỉ XXI này. Và chúng ta cần phải phân định, đâu là lối sống và là tinh thần của Chúa, đâu là mưu mô của ma quỷ. Những gì mà Chúa Giêsu tiên báo đã, đang và chắc chắn sẽ xảy ra. Các biến cố như chiến tranh, phản động, nước này chống nước kia, đói khát,… đang không ngừng ập đến trong nhân loại từ nơi này đến nơi khác dưới mọi hình thức.

Như thế, điều Chúa Giêsu tiên báo cho chúng ta không phải là dọa nạt, mà là dấu chỉ để thức tỉnh chúng ta, hướng chúng ta về cuộc sống an bình, hạnh phúc trong sự đợi chờ kiên tâm trong đức tin và lòng trông cậy vững vàng vào sự quan phòng của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng: “Dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu” (Lc 21,18). Chúng ta hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa và ở trong vòng tay Ngài. Những khó khăn hay những nghịch cảnh mà chúng ta gặp phải thì đó là cơ hội để chúng ta được thanh luyện bản thân và làm chứng tá cho đức tin và tình yêu của Thiên Chúa. Những khó khăn, thử thách đó sẽ không thể làm chúng ta xa lìa Thiên Chúa, nhưng làm cho ta càng gắn bó và phó thác vào Thiên Chúa, vào tình yêu và ơn thánh của Ngài.

Chính Chúa Giêsu nói: “Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình”(Lc 21,19). Lời của Ngài chứa chan niềm hy vọng, lời ấy mời gọi chúng ta sống tin tường và kiên nhẫn, cùng chờ đợi niềm vui của ơn cứu độ, tín thác vào nơi Thiên Chúa chính nguồn tình yêu. Những khó khăn và nghịch cảnh là một trong những kế hoạch của chính Chúa. Dầu có tai ương hay những xáo trộn làm chao đảo thế giới này, nhưng tình yêu Thiên Chúa vẫn hằng tín trung.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, chính tiền tài, danh vọng, quyền lực và những đam mê lạc thú làm cho tâm hồn chúng con luôn cảm thấy bất an. Xin cho chúng con biết sáng suốt xác định cùng đích cuộc đời chúng con là Nước Trời mai sau. Xin cho chúng con biết chu toàn bổn phận của mình và sẵn sàng đón Chúa đến bất cứ lúc nào để dù sống hay chết chúng con xứng đáng được đón nhận ơn cứu độ của Chúa. Amen.

Về mục lục

.

DIỄN TỪ VỀ GIÊRUSALEM ĐỔ NÁT

Lm. Giuse Nguyễn An Khang

Đứng trên sườn đồi núi Cây Dầu nhìn xuống, các môn đệ trầm trồ khen ngợi vẻ đẹp lộng lẫy và hùng tráng của đền thờ, óng ánh trong nắng vàng. Đền thờ Giêrusalem quả là đẹp. Nó được vua Hêrôđê Cả xây từ năm 20 trước Công Nguyên và chỉ hoàn tất vào năm 63 sau Công Nguyên. Nền móng của nó được xây bằng những tảng đá khổng lồ, mà một trong những khối đá cân nặng không dưới 370 tấn.

Theo lời sử gia Lamã, Tacite: “Đền thờ giầu sang chưa từng thấy, những đá cẩm thạch, đồ vàng, màn trướng, đồ gỗ ốp tường chạm trổ và những đồ vật quý dâng cúng, làm cho các khách hành hương phải thán phục. Người ta nói: “Người nào không nhìn thấy Giêrusalem trong vẻ huy hoàng của nó, người ấy không bao giờ thấy niềm vui. Người nào chưa bao giờ nhìn thấy đền thờ, người ấy chưa bao giờ nhìn thấy một thành phố thực sự đẹp”.

Có thể đây là những lời hơi quá, nhưng dầu sao người Dothái rất tự hào về sự tráng lệ của đền thờ. Hơn nữa, đối với họ, đền thờ còn là một dấu chỉ minh nhiên sự hiện diện của Thiên Chúa, Thiên Chúa ở với dân Người nơi đền thờ. Còn đền thờ, còn giao ước; mất đền thờ, dân tộc họ cũng sẽ diệt vong.

Trước sự ngưỡng mộ chính đáng đó, Đức Giêsu bảo: “Những gì anh em đang chiêm ngưỡng sẽ có ngày bị tàn phá, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào”. Chính vì lời này, Thượng Hội Đồng đã kết án tử (Mt 26,61). Đức Giêsu biết điều đó nhưng Người không hòa theo sự thán phục của các môn đệ, Người phi bác sự tin tưởng của con người cho rằng, các công trình của họ luôn trường tồn bền vững. Người cho biết mọi sự chỉ là tạm bợ, dù là những công trình đẹp nhất của nhân loại: Mọi sự sẽ bị tàn phá, đền thờ sẽ bị phá hủy.

Các môn đệ muốn biết khi nào xảy ra và có điềm gì báo trước? Đức Giêsu không cho biết, Người chỉ giúp họ can đảm và bình thản đón nhận biến cố bằng cách cảnh giác ba điều:

  1. Đừng tin những kẻ mạo danh Người

Trong thời gian giữa cái chết của Hê-rô-đê năm thứ tư trước công nguyên và những tàn phá Giêrusalem vào năm 70 rồi năm 135, nhiều người Dothái tự cho mình là ngôn sứ cuối cùng, hoặc Đấng Messia. Sử gia Joseph Flavius gọi họ là những tên bịp bợm, những tên cướp cạn có tham vọng thành lập vương quốc của Đấng Messia. Luca trong sách công vụ có kể tên hai người trong bọn họ: Theodas, người Dothái đã lôi cuốn được chừng 400 đồ đệ (Cvsđ 5,36). Và một người Aicập đã lôi cuốn được 4000 người đi theo (Cvsđ 21,38).

Đức Giêsu cảnh giác phải đề phòng những kẻ mạo danh Ngài, khi họ nói: “chính Ta đây”, đừng tin.

  1. Đừng tin ngày thế mạt đã đến gần

Ngày 30-8-70, tướng Titus đem đại quân đến vây thành Giêrusalem. Sau một thời gian vây hãm, hàng triệu người bị giết và chết đói, một tên lính cầm một dùi lửa, ném vào trong khuôn viên đền thờ, lửa bốc cháy kinh khủng, không sao dập tắt được, Đền thờ Giêrusalem bị phá huỷ. Trước biến cố đó, nhiều người nghĩ, ngày thế mạt đã đến gần. Đức Giêsu cảnh giác: Đừng tin, Người loại bỏ mọi tương quan giữa hai sự kiện. Theo Luca, nếu người ta gắn liền biến cố đền thờ bị phá huỷ với ngày thế mạt, đó là một hiểm họa, vì sẽ làm cho các Kitô hữu háo hấc nghe theo ảo giác của những ngôn sứ giả, của những kẻ bịp bợm cho rằng ngày thế mạt đã gần kề, Nước Thiên Chúa sắp tỏ hiện trong vinh quang, Con Người sẽ ngự xuống trên mây trời. Các lời loan báo như thế tạo nên một cơn sốt tạm bợ, sẽ gây thất vọng và khủng hoảng đức tin, người ta sẽ sống trong chờ đợi, không làm gì, vì thế Đức Giêsu nói: Đừng tin họ.

Thực vậy, sau khi đền thờ Giêrusalem bị tàn phá, vua Adrien ra lệnh đào tận gốc vết tích đền thờ cũ và xây lên trên một ngôi chùa thờ thần Jupiter. Năm 363, vua Giulianô, một người bỏ đạo, cháu Constantin Đại Đế, muốn cho lời Chúa hết linh nghiệm đã cho phép người Dothái xây lại đền thờ, nhưng có lửa từ dưới nền móng bốc lên thiêu rụi thợ xây. Công việc bỏ dở và ngày nay trên nền Đền thờ cũ là một giáo đường Hồi giáo, đền Omar. Đã 2005, Đền thờ Giêrusalem bị tàn phá, ngày thế mạt chưa đến, chỉ biết rằng, giữa hai thời kỳ đó là thời của dân ngoại dầy xéo lên đền thờ, bao giờ tận cùng, không ai biết.

  1. Đừng sợ những kẻ bách hại

Đức Giêsu không giấu gì các môn đệ. Người nói với họ, mọi sự rồi sẽ rất khó khăn. Khi nói về thế giới, Người rất thực tế, Người nói đến chiến tranh loạn lạc, động đất, dịch bệnh, đói kém. Khi nói về công việc rao giảng Tin mừng, Người cho biết, họ sẽ bị bách hại, tù đầy, phản bội thù ghét, giết chóc, và kẻ thù có thể chính là người nhà. Trước những thảm hoạ và tai ương đó, có thể dễ dàng khiến các Kitô hữu thất vọng và cho rằng họ là những nạn nhân.

Nhưng Đức Giêsu bảo, đó không phải là tai hoạ, song là cơ hội để người tín hữu làm chứng cho Người và cho Tin mừng. Trong cảnh tối tăm cần có ánh sáng, trong sai lầm cần có chân lý, trong thù hận cần có yêu thương, trong chiến tranh cần có hoà bình, và trong bách hại cần có chứng tá của Tin mừng. Trước những bách hại, người Kitô hữu đừng lo phải đương đầu thế nào? Hãy ghi lòng tạc dạ: “Chính Thầy sẽ ở cùng anh em, sẽ cho anh em nói thật khôn ngoan, khiến tất cả địch thù của anh em không tài nào chống chọi hay cãi lại được”(Lc 21,14-15).

Lạy Chúa, chúng con đang sống trong một thế giới luôn thay đổi, đầy những thảm hoạ, xin cho chúng con luôn an tâm trong tình yêu Chúa và được hưởng sự bình an mà thế giới này không thể mang lại. Chúng con cầu xin.

Về mục lục

.

KIÊN TRÌ TRƯỚC SỨC TÀN PHÁ

Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm

Trong tác phẩm ngư ông và biển cả, văn hào Hemingway mô tả một ông lão nghèo khổ, khô gầy, chân tay nứt nẻ vì cọ sát dây câu… Hàng chục ngày câu cá, không được con nào. Lão còn bị bọn dân chài chế nhạo. Lão không nản chí, quyết câu được cá to. Lão ra tít mù khơi, thả câu, chờ tới chiều, bỗng dây câu giựt mạnh. Lão xuýt té, bám lấy mạn thuyền, thuyền bị kéo chạy phăng phăng. Lưng, vai, tay lão bị dây xiết chặt, lão vừa đói khát, vừa mệt lử. Có lúc lão thiếp đi. Ba ngày sau, cá đuối sức, lão đâm, chém, đập xiên xọc cho cá chết, rồi buộc vào mạn thuyền, lôi về. Con cá kiếm dài hơn thuyền, nặng tới sáu bảy tấn. Lão vui mừng, khỏe hẳn lại. Ngờ đâu bọn cá mập đánh hơi thấy mùi máu tanh nhào lại rúc rỉa. Lão chống trả quyết liệt với bọn sư tử biển này. Bọn cá mập bỏ chạy. Nhưng cá kiếm của lão chỉ còn lại bộ xương. Lão kéo lên bờ. Người ta trầm trồ trước bộ xương vĩ đại với đuôi cá khổng lồ. Còn lão, lão ngủ thiếp đi trong giấc mộng lởn vởn lũ sư tử biển.

Mỗi người chúng ta là một lão ngư ông trên biển đời mà Đức Giêsu đãdiễn tả trong bài Tin Mừng cho chúng ta thấy những sức mạnh tàn phá kinh khủng của nó.

1- Trước hết là sức mạnh tàn phá của thời gian: thời gian sẽ tàn phá hết mọi sự trên đời, mà đền thờ Giêrusalem là một điển hình. Người ta trầm trồ khen ngợi đền thờ Giêrusalem kiên cố, đồ sộ, còn mới nguyên, được trang hoàng bằng cẩm thạch bóng loáng, chạm vàng óng ánh và trầm hương thơm ngát. Nhưng Đức Giêsu bảo: “Những gì anh em chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết. Không còn tảng đá nào trên tản đá nào”.

Lịch sử đền thờ Giêrusalem đã trải qua những bước thăng trầm để rồi bị tàn phá hết. Đền thờ thứ nhất được Vua Salômôn xây cất kỳ công kiệt tác để rồi Vua Nabucôđônôsô kéo quân đến tàn phá và bắt dân Do Thái đi đầy ở Babilon. Đến thời Vua Kyrô và Darius nước Ba tư cho dân về xây cất lại đền thờ dưới quyền chỉ huy của Zorababen (năm 520-515), đây là đền thờ thứ hai rất sơ sài, sau lại bị quân Anticô IV chiếm cứ tế thần Zeus Olympic, năm 169 anh em Juda Macabê nổi lên đánh đuổi bọn xâm lăng tà thần và tẩy uế đền thờ năm 164.

Đến thời Hêrôđê đại đế xây lại nguy nga lớn hơn đẹp hơn, để rồi quân Rôma do tướng Titus đến đốt sạch, phá hết vào năm 70 sau Đức Giêsu.

Cuộc đời con người còn mong manh, mỏng dòn, dễ bị tàn phá hơn đền thờ rất nhiều.

2- Thứ đến là sức tàn phá của lừa gạt, giả dối, giả mạo. Mấy anh Việt kiều kể: Có giáo phái giúp đỡ những Việt kiều rất tử tế để theo họ, khi theo rồi phải đóng thuế nặng như đóng thuế cho nhà nước. Nhiều người đã mắc bẫy lừa gạt như vậy.

Lịch sử còn cho biết: Bao nhiêu dân lành đã thiêu thân trong những cuộc chiến đẫm máu vì những lời lừa gạt; chiến đấu vì bảo vệ tôn giáo, chiến đấu để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ dân tộc, chiến đấu cho tự do, dân chủ … Những khẩu hiệu đẹp đẽ lừa gạt đó ngầm chứa những tham vọng cá nhân làm bá chủ, độc tài, gia đình trị như Napolêon, Hitler, Polpôt…

Thời xưa, tiên tri Mikayahu cảnh báo Vua Akhab chớ xâm chiếm thành Ramat Galaat. Akhab không nghe, ông triệu tập được bốn trăm tiên tri giả đã nịnh bợ bảo vua: “Tiến lên, Đức Chúa sẽ nộp thành trong tay đức vua”. Akhab đi đánh bị quân Ramat bắn chết (1V. 22, 5-37)

Tiên tri Gêrêmia cũng nói thật với vua Sêđêquia chớ liên minh với Ai Cập. “Nhưng các tiên tri giả vô đạo, ngoại tình, dối trá, chúng củng cố lũ ác ôn của nhà vua bằng những lời lừa gạt rằng: “Thành Giêrusalem sẽ được bình an vô sự, không có tai họa nào cả”. Chẳng bao lâu quân của vua Nabucôđônôsô kéo đến phá tan thành vì đã liên minh với Ai Cập chống lại Babilon. Và tất cả dân chúng bị bắt đi đầy sang Babilon.

Người ta vẫn nói: “Nhất ngôn hưng bang, nhất ngôn tán bang” – Một lời nói làm cho đất nước hưng thịnh, một lời nói có sức phá tan nát đất nước. Trước sức mạnh tàn phá của lời nói lừa gạt, Đức Giêsu dậy các môn đệ và chúng ta phải hết sức đề phòng những tiên tri giả, những lời dụ dỗ đường mật, những lời mị dân, những lời nịnh bợ, lôi cuốn chúng ta vào mê hồn trận, khiến chúng ta kiêu ngạo, lầm lạc nâng mình lên, sẽ bị ngã nhào: “Anh em hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt, vì sẽ có nhiều kẻ mạo danh Thầy đến nói rằng: Chính Ta đây, anh em chớ theo họ”.

3- Sức tàn phá thứ ba là sự khủng bố của con người: Sau giai đoạn lừa gạt thì đến khủng bố. Theo kẻ lừa gạt hay không theo thì cũng chết: “Anh em sẽ bị mọi người thù ghét”. Người ta sẽ bắt và ngược đãi anh em … Họ sẽ giết một số trong anh em. Sự khủng bố này được mô tả bằng thù ghét, bắt bớ, ngược đãi, xét xử, tù đầy và giết đi. Sự khủng bố này do tất cả mọi hạng người từ vua chúa quan quyền, các người của hội đường, của nhà tù, và đau xót hơn nữa, có cả những người thân yêu ruột thịt như cha mẹ, anh chị em, bà con và bạn hữu nhúng tay vào bắt nộp. Họ khủng bố anh em chỉ vì lý do anh em đã được theo Thầy, vì danh Thầy. “Đó sẽ là cơ hội để anh em làm chứng cho Thầy”. Đây là cơ hội bằng vàng để anh em nên giống Thầy: Thầy đã biến thân xác loài người nên thân xác Đấng Cứu thế, đã biến khổ giá thành giá cứu chuộc, khiến lưỡi đòng thâu qua trái tim cho máu và nước chảy ra rửa sạch tội loài người, cho trái tim mở ra yêu thương loài người, cho mạo gai thành triều thiên, cho sự chết thành sự sống lại. Anh cũng phải biến thân xác mình thành của lễ hy sinh, biến ngược đãi thành yêu thương, biến khổ hình thành Thánh giá, để làm chứng về Thầy. Cố kiên trì làm chứng như thế, anh em mới giữ được mạng sống mình trong vinh quang.

Lạy Chúa Giêsu cuộc đời con lênh đênh giữa những sức tàn phá của biển đời. Xin cho con luôn nghe được tiếng Chúa nói: “Thầy đây đừng sợ” để con vững tin sống xứng đáng là chứng nhân của Người. Amen.

Về mục lục

.

NGÀY TẬN THẾ

Lm. Minh Vận

Julian Apostate là Hoàng Đế Roma năm 360. Mặc dầu đã chịu Phép Thánh Tẩy và học giáo lý Công Giáo; thế mà ông lại là người hoàn toàn chống lại Chúa Kitô và Giáo Hội. Ông đã giết chết nhiều người Công Giáo để tế lễ các tà thần, biến nhiều Thánh Đường thành chùa miếu thờ thần, cấm truyền bá Tin Mừng và hủy bỏ tất cả những gì liên quan đến Đạo Công Giáo. Ông ta cố gắng làm cho lời tiên tri của Chúa Kitô đã nói về sự điêu tàn đổ nát của thành Jerusalem sau đây: “Khi ngày đó đến thì sẽ không còn hòn đá nào chồng trên hòn đá nào”, hết giá trị. Nhưng thực ra lời tiên tri này đã được ứng nghiệm trăm phần trăm vào năm 70, năm mà thành Jerusalem bị phá hủy bình địa. Trong khi sự việc chưa xảy ra, thì Hoàng Đế Julian đã ra lệnh triệt để bảo vệ Đền Thờ và làm cho thực kiên vững. Nhưng khi vừa khởi công đổ móng thì, theo một sử gia ngoại giáo viết: “Có những khối lửa ghê sợ bùng lên phá sập móng, thiêu đốt các người thợ, làm cho không ai có thể tới gần chỗ đó được nữa; vì thế, công việc xây lại Đền Thờ hoàn toàn thất bại”. Những sự kiện lịch sử này chứng minh lời tiên tri của Chúa Kitô hoàn toàn đã được ứng nghiệm. Vậy, không biết dự tính của người Do Thái sẽ xây lại Đền Thờ Jerusalem nay mai sẽ ra thế nào?

  1. CÁC LỜI TIÊN TRI CỦA CHÚA CỨU THẾ

Các lời tiên tri về Chúa Cứu Thế trong Cựu Ước đã hoàn toàn được thực hiện. Trong Tân Ước, chính Chúa Kitô cũng đã nói nhiều lời tiên tri về Người, như bị Juda phản bội, bị Phêrô chối bỏ, bị các Tông Đồ bỏ trốn, bị bắt, bị giết chết và sau 3 ngày sống lại… Chúa cũng đã nói tiên tri về Giáo Hội của Người sẽ phát triển mạnh mẽ, lan tràn khắp thế giới, và không cuộc bách hại nào có thể ngăn cản được sự bành trướng đó. Suốt 2000 năm qua những lời tiên tri đó vẫn còn ứng nghiệm đúng như lời Chúa đã khẳng định: “Dù quyền lực hỏa ngục cũng không thể thắng được”. Tất cả các lời tiên tri đó đã thực hiện đúng từng chi tiết nhỏ mọn, sát khít với lời Chúa: “Dù một nét, một chấm cũng không bỏ qua, cho tới khi mọi sự được hoàn thành”. Như vậy, lời tiên tri Chúa nói về Ngày Tận Thế, giờ phán xét, thưởng phạt (Mt 25) trong bài Tin Mừng hôm nay, cũng sẽ được ứng nghiệm. Chúng ta đã tuyên xưng trong Kinh Tin Kính: Tôi tin “Người sẽ trở lại trong vinh quang, để phán xét kẻ sống và kẻ chết, Nước Người sẽ không bao giờ cùng”. Trong Thánh Lễ, sau khi truyền phép, chúng ta cũng tuyên xưng: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa lại đến”.

2. NGÀY TẬN CÙNG CỦA MỖI NGƯỜI CHÚNG TA

Ngoài ngày tận cùng của thế giới, mỗi người chúng ta đều có ngày sẽ từ giã cõi trần khi giờ chết đến, vì mỗi người đều phải chết; nhưng chết cách nào, chết ở đâu, vào giờ nào thì không ai có thể biết được. Vì thế, Chúa Kitô đã căn dặn chúng ta: “Các con hãy sẵn sàng, vì bất ngờ Con Người sẽ đến” (Mt. 24:44). Trần gian chỉ là nơi tạm cư, là cuộc lữ hành, là đường tiến về Quê Hương Vĩnh Cửu; vật chất chỉ là phương tiện giúp chúng ta đạt tới cùng đích và hạnh phúc trường tồn. Dầu muốn dầu không, một ngày kia, chúng ta cũng phải để lại tất cả để ra đi về thế giới bên kia, nơi Chúa đang chờ đợi chúng ta. Vì Chúa dựng nên chúng ta có mục đích để chúng ta tôn thờ, yêu mến, phụng sự Ngài, để khi kết thúc cuộc đời, chúng ta được Chúa ân thưởng, cho tận hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Ngài trên Nước Trời, là quê hương hạnh phúc vĩnh cửu Người đã sắm sẵn cho những ai yêu mến phụng sự Người.

Kết Luận

Chúa đã truyền dạy: “Các con cứ bền đỗ đến cùng, các con sẽ giữ được linh hồn các con”. Trung thành với ơn Chúa kêu gọi, là chắc chắn chúng ta sẽ đạt tới cùng đích, là chiếm hữu được chính Chúa là nguồn hạnh phúc vĩnh cửu của chúng ta.

Lạy Mẹ, xin Mẹ giúp chúng con được luôn trung thành với Chúa, để chúng con đạt tới cùng đích, đúng như thánh ý Chúa khi tạo dựng nên chúng con giống hình ảnh Chúa và đã thương tuyển chọn chúng con làm con cái Chúa.

Về mục lục

.

GIỮ LINH HỒN

Lm. Bùi quang Tuấn

“Các con cứ bền đỗ, các con sẽ giữ được linh hồn các con.”

Vào khoảng năm 538 trước Công nguyên, sau khi được Hoàng đế Ba tư là Kyrô ban sắc chỉ ân xá, con cái Israen rời đất lưu đày Balylon, tiến về thánh điện, khởi công tái thiết quê hương xứ sở giữa muôn vàn gian nan khốn khó.

Đứng trước cảnh đổ nát hoang tàn của đền thờ, đất đai bị ngoại bang lấn chiếm, tinh thần của dân Do thái hồi hương không khỏi lao đao. May nhờ có sự hổ trợ của Ezra và Nêhêmia là hai người giàu có, thế lực dưới triều vua Artaxerxes, dân Israen đã xây lại được một phần nhỏ đền thờ Giêrusalem và thánh hiến nó vào koảng năm 516 trước Công nguyên (BC).

Thế nhưng, chưa hưởng trọn niềm vui tự trị và tự do, người Do thái lại bị các quốc gia hùng mạnh như Ai cập và Hy lạp quấy phá. Đến năm 169 BC, người Xyria do vua Anticô II dẫn đầu, đã tiến vào đánh chiếm cướp phá đền thờ. Một lần nữa đền thánh Giêrusalem lại rơi vào cảnh hoang tàn đổ nát.

Mãi đến năm 63 trước Công nguyên, sau khi người Rôma chiếm đóng Palestine và đặt Hêrôđê làm quan tổng trấn cai trị vùng đất Giuđê, đền thờ mới được tái thiết nguy nga và được thánh hiến vào năm 19 BC.

Biết bao cẩm thạch, vàng bạc, gỗ quí, và công sức được đổ ra cho việc xây cất một đền thờ lộng lẫy, làm nên niềm tự hào và sức sống của cả dân tộc Israen. Trong cuốn sách “Những Cuộc Chiến của Người Do Thái”, sử gia Josephus đã mô tả về “niềm tự hào” đó như sau: “Mặt tiền của Đền thờ đủ làm choáng ngợp tâm trí và đôi mắt người ta. Nó được bọc bằng những miếng vàng lớn. Khi ánh thiều dương vừa tỏa sáng ở chân trời, thì cả đền thờ rực lên bởi những tia sáng phản chiếu, khiến những ai muốn nhìn thẳng vào đó cũng bị lóa mắt, đến nỗi họ phải quay đi. Đối với khách lạ, thì từ đàng xa, Đền thờ nổi bật lên như một núi tuyết trằng xóa. Không có phần nào mà không được chạm trổ hay bọc vàng.”

Đứng trên núi Cây Dầu nhìn xuống đền thờ rực rỡ trong ánh nắng huy hoàng, các môn đệ không khỏi buông lời trầm trồ khen ngợi. Nhưng, thay vì hòa điệu với những rung cảm trước vẻ hoa lệ của Đền thờ, Đức Giêsu lại tiên báo về một sự sụp đổ không tránh khỏi. Những gì thế gian cho là vững chắc và xinh đẹp chỉ là những thứ mỏng dòn và tạm bợ. Tất cả sẽ bị tàn phá. Ngay như công trình và “niềm tự hào” của Israen đây cũng sẽ bị sụp đổ, “không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào” (Lc 21:6). Đức Giêsu đã tiên báo như thế.

Và sự gì đã xảy ra?

Năm 70 sau khi Chúa Giêsu sinh ra, tướng Titô đem đại quân Rôma đến vây hãm thành Giêrusalem. Dân chúng bị đói khát đến nỗi phải ăn thịt lẫn nhau. Kẻ nào tìm cách trốn khỏi vòng vây đều bị giết chết. Tính ra số người bỏ mạng lên đến 1.100.000, và số người bị bắt sau khi thành thất thủ là 97.000. Đền thờ bị lính Rôma phóng hỏa tan tành. Tướng Titô chỉ cho chừa lại một mảng tường thành để sau này con cháu Israen đến đó mà than khóc. Như thế, lời tiên báo của Chúa Giêsu đã ứng nghiệm.

Nhưng sự sụp đổ của thànnh Giêrusalem chỉ là hình bóng của ngày thế tận. Rồi đây, sẽ chẳng còn thứ gì tồn tại. Thời gian sẽ hủy diệt tất cả. Sự sống, sắc đẹp, sức lực, sung sướng… của cuộc đời này đều mỏng dòn và ngắn ngủi. Mọi sự đều tiến về cái chết, dù nhanh hay chậm.

Vì thế, thánh Anphong từng nhắc đi nhắc lại: “Chỉ có một việc ta phải lo là việc rỗi linh hồn, vì mỗi người chỉ có một linh hồn mà thôi.” Thánh Phanxicô Saviê cũng nói: “Mỗi người chỉ có một linh hồn. Nếu được rỗi thì được hưởng thiên đàng, nếu bị mất thì phải sa hỏa ngục.” Xưa Vua Đavít suy về điều này mà thốt lên lời nguyện cầu: “Tôi chỉ ước trông một điều, đêm ngày tôi khấn xin, là cho tôi được vui sống trong nhà Chúa trọn đời” (Tv 26:4)

Nhưng để được ở trong nhà Chúa, tức là để chiếm được Nước Trời, người ta phải nỗ lực chiến đấu. Chính Đức Giêsu đã nói: “Nước Trời ở dưới sức cường bạo,và những kẻ cường bạo chiếm đoạt lấy.” (Mt 11:12) Không gắng công chống trả ba thù, thiếu quyết tâm đi vào cửa hẹp, làm sao có thể tìm được thiên đàng đích thực.

Lạy Chúa, xin trợ lực chúng con chống trả ba thù, kiên vững niềm tin, hầu mai kia được hưởng niềm vui trường sinh trong Nước Chúa. Amen.

Về mục lục

.

BIẾT TIN VÀO AI?

Lm Nguyễn Ngọc Long

Cả thế giới hoảng hốt kinh hoàng khi nhìn qua màn ảnh truyền hình, cảnh khu phố Manhattan ở Newyork và khu Pentagon ở Washington bị không tặc dùng phi cơ đâm bổ xuống hôm 11.09.2001, gây cảnh đổ nát, cháy thiêu rụi, chết chóc hoang tàn. Có những phóng viên diễn tả cảnh tượng hãi hùng này như cảnh ngày tận thế trong sách Khải Huyền. Tất cả trở nên đổ nát bình địa. Lòng người ly tán hoang mang tưởng như mất luôn cả niềm tin. Vì đã mất tất cả, ngay cả mạng sống cũng bị đe dọa và không còn gì là bảo đảm an toàn nữa ngay trong một xứ hoà bình, giầu có thịnh vượng với nền văn minh kỹ thuật tân tiến hàng đầu trên thế giới!

Có những người tự hỏi về ý nghĩa và mục đích của đời sống là gì? Không lẽ cuộc đời chỉ là cảnh tượng kinh hoàng chết chóc như vậy sao? Con người có thể tìm thấy một điểm tựa nơi niềm tin trong giờ phút hoang mang kinh hoàng không? Ai là người hướng dẫn, nâng đỡ cuộc đời con người?

Có những tâm hồn tuy sống hoang mang sợ hãi cùng tột, nhưng đã tìm thấy cho mình và cho người khác những lời an ủi gây niềm tin tưởng phấn chấn, như lời nguyện than thở:

Lạy Cha, niềm tin vào Cha dạy con: đời sống con phát nguồn từ nơi Cha và sau cùng qua ngưỡng của sự chết, tất cả trở về với Cha. Trong vòng tay Cha, tất cả tìm được nguồn an vui. Vì Cha là tình yêu vô bờ bến của đời sống con người! Cho dù bây giờ con người chúng con đang trong cảnh hoang mang lo âu, buồn sầu và không sao hiểu được sự gì đã đang và sẽ xảy ra…

Lời cầu khẩn này là nhân chứng của một tâm hồn tràn đầy niềm tin tưởng, niềm hy vọng vào tình yêu của Đấng Vô Hình, người hằng đồng hành với trong cuộc đời.

Lời cầu khẩn đầy tin tưởng và chan chứa niềm hy vọng này là ánh sáng soi chiếu cho ta, khi đọc hay nghe đoạn Tin Mừng nói về cảnh tượng thành Giêrusalem bị tàn phá hoang tàn đổ nát (Lc 21, 5-19). Đó chưa phải là ngày tận thế đâu. Tất cả nằm trong bàn tay quan phòng của Thiên Chúa. Không có sự gì xảy ra mà không nằm trong sự quan phòng của Ngài.

Lời của Chúa là ánh sáng cho trần gian trong đêm tối của hoang mang lo sợ. Lời của Chúa mang lại cho tâm hồn sức sống niềm an ủi hy vọng.

Con người không nên nghĩ đến ngày tận thế, đến hoang tàn đổ nát, nhưng hãy nghĩ đến sự sống. Sự sống con người bắt nguồn từ nơi Thiên Chúa. Và trong suốt dọc cuộc sống, Ngài hằng yêu thương đồng hành với. Nơi ngài có nguồn an ủi và nguồn bình an.

Đó là mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa mà tâm hồn ta chỉ cảm nghiệm thấy, mà trí khôn không hiểu thấu được.

Về mục lục

.

BỀN ĐỖ SẼ ĐƯỢC ƠN CỨU ĐỘ

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Không có đền thờ nào đẹp bằng đền thờ Giêrusalem. Một công trình nguy nga tráng lệ xây cất ròng rã 46 năm, được trang hoàng bằng đá tốt và những lễ vật quý với các cột và đồ gỗ chạm khắc, rèm thêu, sơn sơn thiếp vàng.

Chúng ta cần phân biệt 3 giai đoạn khác nhau việc xây dựng đền thờ: Đền thờ do vua Salomon xây cất đã bị quân Chaldéa phá cùng với thành Giêrusalem năm 587. Sau đó được vua Zorobabel khởi công xây lại đền thờ (năm -525), với sự cổ võ của tiên tri Zacharia và Agiê, nhưng quân Rôma đô hộ làm hư hại đền thờ. Vua Herodê cả sửa lại vào năm 17, vào thời Đức Giêsu đang trên đường hoàn thành và sẽ kết thúc nào năm 64 sau Công nguyên.

Năm 70 sau CN, vị tướng La mã Titus đem đại quân vây thành. Ông ra lệnh không được đốt phá. Một quân nhân như bị thúc đẩy bởi một sức kỳ lạ đã cầm bó đuốc đang cháy ném vào bên trong Đền thờ, lửa bốc cháy nhanh, không chữa được. Sau khi đám cháy tàn lụi, Titus ra lệnh phá huỷ thành và Đền thờ.

Khi đi qua, các môn đệ tự hào chỉ cho Đức Giêsu thấy sự huy hoàng của Đền thờ, nhưng Ngài lại nói: “Những gì các con nhìn ngắm đây, sau này sẽ đến ngày không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào mà chẳng bị tàn phá”. Đối với người Do Thái, những từ này là báng bổ: Tiên Tri Giêrêmia đã suýt chết vì điều đó. Những lời trên sẽ là động lực khiến họ chống lại Ngài.

Nói thế là Đức Giêsu đã tách biệt chúng ta ra khỏi sự mơ mộng về quyền năng tối thượng và sự bất tử trên trái đất này, đưa chúng ta trở lại với thực tế của một thế giới mà tất cả là hư không.

Những người nghe Đức Giêsu nói tưởng rằng Thầy nói về ngày tận thế, nên hỏi dồn và bắt Ngài mạc khải cho biết thời gian và dấu chỉ của ngày ấy! Biết ý họ, Ngài đã không đáp ứng yêu cầu, nhưng cảnh báo, điều đó không thuộc quyền của Ngài: chỉ có Chúa Cha là Đấng biết ngày và giờ chung cuộc của thế giới. Đức Giêsu nói với họ “ Các ngươi hãy coi chừng đừng để ai lừa gạt các ngươi”. Vì sẽ có nhiều kẻ đội danh Ta mà nói rằng Đức Kitô, chính là Ta! Và họ sẽ lừa gạt được nhiều người. Các ngươi sẽ nghe có giặc giã và tin đồn giặc giã. Coi chừng! Chớ khiếp sợ! Vì là sự phải xảy đến, nhưng chưa phải là cùng tận. Vì dân này sẽ dấy lên chống dân kia, nước này chống nước nọ. Và đó đây sẽ có đói kém và động đất.

Mọi sự ấy là khởi điểm của đau cồn chuyển cữ” (Mt 24, 4-8). Bởi vì cuộc chiến thực sự không phải là “ quốc gia chống lại quốc gia, và vương quốc chống lại vương quốc “, nhưng là: vì “ Danh Thầy” họ sẽ trao nộp các con.

Trở lại sách Công vụ, Thánh Luca gợi lên những cuộc bách hại các môn đệ Đức Kitô phải chịu. Nếu họ không trốn tránh và lún sâu vào tuyệt vọng, là vì Chúa đã cảnh báo trước về những gì đang chờ đợi họ. Tất cả những thảm kịch đó đổi mới người môn đệ chân chính, những cuộc bách hại phải được chọn như là “ cơ hội để làm chứng “ cho Đấng đã sống lại vinh quang, chắc chắn đã cứu chúng ta khỏi sự sợ hãi cái chết.

Khi thử thách xảy đến với Giáo hội, Thiên Chúa đích thân đến cứu giúp các nhân chứng của Ngài: “ Chính Thầy sẽ khơi dậy trong anh em những lời cần phải nói cùng với sự không ngoan khiến cho đối phương không thể chống lại và phản biện được anh em” (x. Mt 10, 17-22). Thiên Chúa không thay đổi tiến trình của các sự kiện mà không xâm lấn vào trách nhiệm thuộc phương diện con người; người Kitô hữu có những dữ kiện sống động để chứng tỏ rằng sự sống của họ ở nơi Thiên Chúa, chứ không nằm trong tay của người đời.

Sử gia người Rôma Tacitus đã viết rằng các Kitô hữu đã trở thành “ sự ghét bỏ của nhân loại! “ Điều ấy đã không ngăn cản họ làm chứng cho đức tin, Tertullian đã viết: “ Máu các vị tử đạo là hạt giống trổ sinh các Kitô hữu.”

Chúa chúng ta rất rõ ràng: “Nếu họ bắt bớ Thầy, họ sẽ bắt bớ các con” (x. Ga 15,18-21). Chúng ta đừng quên rằng thế kỷ 20 đã có nhiều vị tử đạo hơn hai mươi thế kỷ trước của Kitô giáo. Những chứng nhân của Đức Giêsu không sống trên mặt đất, phi thời gian, lời giảng của Chúa Giêsu khuyến khích chúng ta quảng đại phục vụ việc rao giảng Tin Mừng, theo Chúa Kitô, và theo con đường Ngài đã mở ra trước mắt chúng ta. Đường hẹp của Thập Giá mỗi ngày trên trái đất này. Chúng ta có thể trở thành những người biết biện phân, và thành các tiên tri đầy khôn ngoan của cây Thập giá, để có thể tố cáo những sợ hãi gò bó cằn cỗi, hướng tới anh em chúng ta, sống đời sống thực tế và chiến đấu. “Đây sẽ đến ngày bừng cháy lên như lò lửa” (Bài đọc 1).

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết được những dấu chỉ của Nước Trời, để chúng con can đảm làm chứng cho Chúa mà không sợ bị trả thù. Vì như lời Chúa phán: “ những kẻ kính sợ thánh danh Ta, sẽ được Mặt Trời công chính mọc lên soi sáng, mang theo sự cứu chữa trong cánh Người “. Xin giúp chúng con bền đỗ đến cùng để chúng con được ơn cứu rỗi. Amen.

Về mục lục

.

TRẮC NGHIỆM ĐỨC TIN

Thiên Phúc

Một hôm vua Ai cập đang đứng chiêm ngưỡng những công trình mà ông cho xây dựng tại thành phố Eliôpôli, bỗng có cụ già râu tóc bạc phơ không biết từ đâu tới đã cười ngạo nghễ và thách thức nhà vua:

– Hãy bỏ lại tất cả và cút đi!

Nhà vua giận tím gan, nhưng ông ta đã nén giận và hỏi:

– Hỡi lão già, ngươi là ai mà dám ra lệnh cho ta cách hỗn xược như thế? Không lẽ ngươi quyền thế hơn ta?

Ông lão quả quyết:

– Đúng thế! Vì ta là thời gian.

Nghe đến tên thời gian, vua Ai cập tái mặt, té nhào khỏi ngai vàng. Cùng với ông, cả đế quốc Ai cập cũng sụp đổ.

Lão già thời gian cũng rảo qua khắp các đế quốc trên địa cầu. Lão đi đến đâu, các đế quốc đều rơi như sung rụng.

Nhưng ngày kia, người ta bỗng thấy xuất hiện, tại đồi Vatican một cụ già khác. Lão già thời gian cũng một giọng điệu vô cùng hách dịch đến trước thành Vatican gầm lớn:

– Ta là thời gian đây!

Tiếng gầm thét đó làm rung chuyển trái đất, nhưng lại không làm cho cụ già trên đồi Vatican mảy may lo sợ. Cụ bình tĩnh đáp:

– Còn ta, ta chính là vĩnh cửu! Xuyên qua các thế hệ ta phải đại diện cho lòng chung thủy của Thiên Chúa đối với con người.

Không có gì là vĩnh cửu dưới bầu trời này. Nhiều người Do thái nhìn ngắm và khen ngợi đền thờ Giêrusalem nguy nga tráng lệ, được xây cất bằng đá cẩm thạch nguyên khối, mỗi cây cột cao hơn 12 mét. Đền thờ được trang trí với cây nho lớn bằng vàng ròng, quyên góp từ các tín hữu. Mặt tiền đền thờ được dát bằng vàng lá, mỗi khi mặt trời lên, nó phản chiếu ánh sáng chói lòa rực rỡ. Nhìn từ xa, đền thờ trông như một núi tuyết khổng lồ vì màu trắng toát của đá cẩm thạch. Chính vẻ huy hoàng lộng lẫy của đền thờ mà người ta tưởng nó sẽ tồn tại vĩnh viễn.

Chúa Giêsu đã đánh đổ quan niệm sai lầm đó. Người loan báo đền thờ sẽ bị tàn phá một cách thảm hại, không còn hòn đá nào chồng trên hòn đá nào. Quả thật, tiên báo này đã hoàn toàn ứng nghiệm năm 70 sau Công nguyên, khi vua Titô đem quân bao vây, tàn sát dân chúng, bắt những tù binh, và thiêu hủy đền thờ thành ra hoang vu tiêu điều.

Mọi người kinh hoàng sợ hãi khi nghe Chúa Giêsu loan báo việc đền thờ bị phá hủy. Họ xin Người cho biết thời gian và điềm báo trước. Nhưng Người không cho biết gì thêm lại còn dựa vào lời tiên báo trên để nói về ngày tận thế. Trước ngày đó, sẽ có những thử thách đức tin.

Có thể có những ngôn sứ giả hiệu, mạo danh Chúa để mê hoặc tín hữu, hay loan báo thời gian đã đến gần để làm mất niềm hy vọng nơi những kẻ tin.

Có thể có những cuộc bách hại các tín hữu, thậm chí cả sự chia rẽ trong các gia đình.

Nhưng Người khuyên họ: “Đừng sợ”. Hãy tin tưởng trong phó thác và bền đỗ trong đức tin. Vì Thiên Chúa luôn quan phòng chở che cho những ai cậy trông nơi Người.

Đối với Chúa Giêsu, bách hại và thử thách không phải là điều đáng sợ mà là một cơ may, để người tín hữu có dịp “làm chứng”: để cho kẻ bách hại hiểu biết đức tin của người tín hữu, và để người tín hữu chứng tỏ lòng tin vào Thiên Chúa trong cơn thử thách.

Quả thật, Thiên Chúa muốn niềm tin phải là một hành động tín nhiệm sâu xa nơi Người, một biểu lộ tín thác tuyệt đối vào Người, cho dù có phải chịu thử thách đớn đau nhất, kể cả sự chết. Đức Tổng Giám mục Fulton Sheen có viết: “Để trắc nghiệm đức tin của ta, cần phải xem phản ứng lúc đau khổ và thử thách, chứ không phải lúc thuận buồm xuôi gió”.

Lạy Chúa, đức tin không giữ cho chúng con khỏi chết, cũng không cứu chúng con thoát đau khổ, nhưng đức tin chính là hiến dâng mạng sống.

Xin ban thêm đức tin cho chúng con, để trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng con vẫn luôn kiên trì giữ vững niềm tin vào Chúa. Amen.

Về mục lục

.

PHÁN XÉT NGƯỜI LÀNH KẺ DỮ

Lm. Hồng Phúc

Trong Chúa nhật áp chót của niên lịch phụng vụ, ngày cánh chung được nhắc đến.

Nhà tiên tri khi đứng bên bờ hiện tại nhìn về tương lai, có thể ví như một khán giả nhìn diễn tiến một vở kịch trên sân khấu. Qua màn thứ nhất đang diễn ra họ nhìn thấy màn thứ hai ở đàng sau đang khởi đầu. Đó là bối cảnh của bài phúc âm hôm nay, trong đó Chúa Giêsu tiên báo về ngày tàn của Giêru-salem và đàng sau lộ hiện những gì sẽ xảy ra trong ngày tận thế.

Trước hết về ngày tàn của Đền thờ Giêru salem. Đứng trên sườn đồi núi cây dầu nhìn xuống, các môn đệ trầm khen ngợi vẻ đẹp lộng lẫy và hgùn tráng của Đền thờ óng ánh trong nắng vàng. Các ông nói: “Thầy xem Đền thờ đẹp thật.” Chúa Giêsu ngước mắt nhìn, vẻ mặt buồn buồn và nói: “Những gì chúng con nhìn thấy đây, sẽ đến ngày không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào?” Các môn đệ kinh ngạc vô cùng. Nhưng lời tiên tri ấy đã ứng nghiệm trong từng chi tiết. Và đó là màn thứ nhất.

Năm 70, tướng Titus đem đại quân đến bao vây thành. Một tên lính cầm một dùi lửa, ném vào trong khuôn viên Đền thờ, lửa bốc cháy kinh khủng không sao dập tắt được. Sau đó, vua Adrien ra lệnh đào tận gốc vết tích đền thờ cũ và xây lên một ngôi chùa thờ thần Jupiter. Năm 363, vua Giudianô, một người bỏ đạo, cháu Constantino đại đế, muốn cho lời Chúa hết linh nghiệm đã cho phép người Do thái xây lại đền thờ nhưng có lửa từ dưới nền móng bốc lên thiêu rụi thợ xây. Công việc bỏ dở và ngày nay trên nền Đền thờ cũ là một giáo đường Hồi giáo, đền Omar. “Trời đất sẽ qua đi, nhưng lời Ta sẽ không bao giờ qua” (Mc 13,31).

Qua màn thứ nhất, ẩn hiện bên sau, những gì sẽ diễn ra trong gnày tận thế. Đó là màn thứ hai. Trong ngày thế mạt ấy, sẽ có chiến tranh loạn lạc, nhất là “Ngời ta sẽ bắt bớ” các con. Nếu người ta đã bắt bớ thầy thì họ cũng sẽ bắt bớ các con. Người ta sẽ điệu các con đến trước vua quan và các con sẽ là chứng nhân của Thầy. “Rồi sẽ có những điềm lạ trên trời, mặt trời ra tối tăm, mặt trăng mất sáng, tinh tú rơi xuống, mọi tần trời lay chuyển” (Mc 13,24). Có giả thuyết khoa học cho rằng trái đất sẽ đụng phải một tinh tú và nổ tung. Bấy giờ mọi người sẽ xem thấy Chúa ngự xuống oai nghi trên mây trời để phán xét người lành kẻ dữ.

Giáo hữu tiên khởi khi đọc đoạn này lo sợ đến nỗi có người không làm gì cả. Thánh Phaolo trong bài đọc II, đã khuyên họ phải làm việc. Ai không làm thì đừng có ăn. Cuộc sống của Giáo Hội là một cuộc trông đợi Chúa đến, giữa những cơn bắt bớ cấm cách. Ai bền đỗ thì cứu được linh hồn mình. Đó là bài học cho chúng ta.

Xin Chúa cho chúng ta hiểu bài học ấy.

Về mục lục

.

TẦM NHÌN

Trm Thiên Thu

Thấy Thời Tiết Biết Mưa Hay Nắng

Nhìn Sự Đời Suy Trước Đoán Sau

Theo kinh nghiệm, người ta có kết luận: “Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay.” Điều đó cho thấy rằng con mắt và đôi tay rất cần thiết trong sinh hoạt hằng ngày. Đặc biệt là con mắt, khác một chút thôi cũng thấy khổ sở lắm rồi – như bụi vô mắt hoặc đau mắt.

Con mắt cần có thị lực mạnh để thấy rõ ràng, thấy để biết, biết để hiểu, hiểu rồi hành động. Thị lực càng mạnh thì tầm nhìn càng xa và rộng, về tầm nhìn tinh thần hoặc tâm linh cũng tương tự.

Rất quan trọng về khả năng nhìn – thể lý, tinh thần và tâm linh. Khả năng nhìn về thể lý là “thị lực” của đôi mắt. Cần thiết lắm! Tầm nhìn về tinh thần và tâm linh là sự nhận xét tinh tế đối với sự kiện hoặc tình huống nào đó. Càng quan trọng hơn!

Hellen Keller (1880–1968, văn sĩ người Mỹ) so sánh: “Sự ích kỷ và sự phàn nàn khiến tha hóa tâm hồn, tình yêu và niềm vui làm cho tầm nhìn trở nên rõ ràng và sắc nét.” Robertson Davies (1913–1995, tiểu thuyết gia, ký giả, kịch tác gia, nhà phê bình văn học người Canada) xác định: “Mắt chỉ nhìn thấy những gì trí óc sẵn sàng lĩnh hội.” Phẩm chất của người lãnh đạo tùy vào tầm nhìn, năng lực và kiên cường.

Điều đó được Kinh Thánh nói rõ: “Thủ lãnh khôn ngoan thì giáo dục dân mình, và uy thế của người thông minh thật là vững chắc. Thủ lãnh dân thế nào, các viên chức thừa hành cũng thế, người đứng đầu một thành làm sao, toàn thể dân cư cũng vậy. Một ông vua dốt nát làm cho dân nước phải suy vong, một thành hưng thịnh là nhờ trí thông minh của các nhà cầm quyền.” (Hc 10:1-3) Còn Thánh Phêrô cho biết: “Tin Mừng đã được loan báo ngay cho cả những kẻ chết, để tuy bị phán xét về phần xác theo cách nhìn của loài người, họ được sống về phần hồn theo ý định của Thiên Chúa.” (1 Pr 4:6)

Con mắt có thể thấy nhiều thứ, một trong các điều quan trọng là điềm báo – điềm lành hoặc điềm gở (xấu, xui). Có khi điềm báo xuất hiện trong giấc chiêm bao, cũng có khi xảy ra ở ngoài đời, thậm chí có thể qua linh tính. Người ta cho rằng “gương vỡ” là điềm gở về sự chia ly nào đó. Liệu chúng ta có thể thay đổi hoặc “giải” nó? Hay đó là “số mệnh” mà chúng ta không thể làm gì, chỉ biết thụ động, miễn cưỡng? Cụ Nguyễn Du nói: “Có trời mà cũng có ta.” Ý nói chúng ta phải cố gắng “vượt qua chính mình” để vươn lên không ngừng. Thiên Chúa chỉ muốn điều tốt lành cho chúng ta, nếu có gì xấu xa là do con người mà thôi. Lời cầu nguyện và lòng sám hối có thể thay đổi số phận.

Thật vậy, cổ nhân đã từng trải nghiệm và xác định: “Đức năng thắng số” – phúc đức có thể vượt lên số mệnh, hoặc “Nhân lực thắng Thiên” – khả năng con người có thể cải mệnh Trời. Và tiền nhân cũng dạy: “Tiên tích đức, hậu tầm long” – phải lo tích đức rồi mới lo tìm đất (ý nói về “phong thủy”). Hoặc như tục ngữ nói: “Tiên học lễ, hậu học văn.” Quả thật, cái ĐỨC rất quan trọng, hơn hẳn mọi thứ khác (tài năng, của cải, địa vị, chức tước, danh vọng,…), như chúng ta vẫn thường nói: “Sống để đức cho con cháu.” Tại sao phải để “đức” mà không cần để “của” lại cho chúng? Rõ ràng người ta duy tâm chứ chẳng duy vật hoặc vô thần, nhưng vì tự ái mà muốn loại bỏ Thiên Chúa mà thôi.

Cách tin cũng quan trọng. Điềm báo có thể do mê tín dị đoan, có thể do quan niệm, nhưng cũng có thể là dấu lạ điềm thiêng. Dân gian có kinh nghiệm này: “Quầng cạn, tán mưa,” hoặc “Vàng gió, đỏ mưa.” Nông dân biết rõ điều đó. Xưa nay đều có điềm báo, dù người ta có tin hay không tin. Trong Cựu Ước, ông Ghít-ôn đã “dùng lông cừu để nhận biết điềm báo,” (Tl 6:36-40) và ông cũng nhận biết “điềm báo thắng trận” qua giấc mơ. (Tl 7:9-15) Nhiều chỗ trong Phúc Âm cũng ghi lại các điềm báo. Đặc biệt nhất, Thập Giá là điềm báo hoặc biểu tượng của đau khổ, nhưng cũng là điềm báo hoặc biểu tượng của hạnh phúc: Ơn Cứu Độ. Đó là cái họa hóa cái phúc.

Các điềm báo có thể dễ nhận thấy hoặc khó nhận biết, dự đoán có thể đúng một chút hoặc sai hoàn toàn, đôi khi lại chỉ là… đoán mò! Khi dự báo thời tiết, người ta thường nói chung chung: “Ít nắng, nhiều mưa,… Vùng này hoặc miền nọ có thể có mưa giông… Bão (hoặc áp thấp) biến chuyển rất phức tạp.” Cụ thể là đầu tháng 11-2013, người ta dự báo cơn bão số 13 sẽ dữ dội đổ bộ vào Saigon, thế nhưng rốt cuộc lại không hề có bão. Dự đoán sai có thể do “trình độ” của con người yếu kém, nhưng cũng có thể tại con người đã “làm rối” thiên nhiên nên thời tiết biến động thất thường, và con người không còn biết đường nào mà dự đoán “kế hoạch” của Trời như trước đây nữa. Con người thật nhỏ bé trước thiên nhiên mà lại dám “chống thiên tai” hoặc “chống lũ lụt” thì đúng là uống “thuốc liều” quá mức. Liệu có “chống” được không mà dám có động thái xấc xược và hỗn láo với Tạo Hóa? Rõ ràng là nhân tai mà cứ bảo là thiên tai. Cái gì tốt thì vội vã vơ vét vào, cái gì xấu thì đổ lỗi cho Ông Trời. Ích kỷ như vậy là khôn hay khốn?

Về thời điểm Đức Giêsu Kitô quang lâm, tức là Ngày Tận Thế, có những “điềm báo” rất đặc biệt. Các điềm báo đó đã và đang xảy ra đúng như Chúa Giêsu đã tiên báo. Do đó, chính Ngài đã khuyến cáo: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người.” (Lc 21:36) Thánh Bede nhận xét: “Mọi phương cách của trần gian này thất thường và bất trắc như một cơn giông tố giữa biển khơi.” Vì thế, rất cần tỉnh thức để nhận biết những gì xảy ra là ý Chúa hay chỉ là mưu ma chước quỷ.

Tất nhiên không phải là chuyện dễ, nhưng nếu cứ nhẹ dạ cả tin thì chắc là không ổn chút nào, không chỉ nguy hiểm cho mình mà còn “liên lụy” người khác. Chính Thiên Chúa đã tuyên phán: “Ngày Ấy đến, đốt cháy như hoả lò. Mọi kẻ kiêu ngạo và mọi kẻ làm điều gian ác sẽ như rơm rạ. Ngày Ấy đến sẽ thiêu rụi chúng, không còn chừa lại cho chúng một rễ hay cành nào.” (Ml 3:19) Thế là coi như “trắng tay” vào lúc cuối cùng đó. Một cách ví von rất bình dân và thực tế, Chúa chẳng hề bóng gió bao giờ, và ai cũng có thể hiểu. Hình ảnh tiếp theo hoàn toàn tương phản: “Nhưng đối với các ngươi là những kẻ kính sợ Danh Ta, mặt trời công chính sẽ mọc lên, mang theo các tia sáng chữa lành bệnh. Các ngươi sẽ đi ra và nhảy chồm lên như bê xổng chuồng.” (Ml 3:19-20) Rất rõ ràng và chính xác với các động từ MỌC, NHẢY CHỒM và XỔNG CHUỒNG. Đó là niềm vui tột đỉnh của những người công chính.

Họ là người-của-Chúa, họ sẽ vui mừng rộn rã, và họ lớn tiếng bảo nhau: “Đàn lên mừng Chúa khúc hạc cầm dìu dặt, nương khúc hạc cầm réo rắt giọng ca. Kèn thổi vang xen tiếng tù và, tung hô mừng Chúa, vị Quân Vương!” (Tv 98:5-6) Thậm chí họ còn mời gọi cả muôn vật cùng chung lời chúc tụng: “Gầm vang lên, hỡi biển cả cùng muôn hải vật, địa cầu với toàn thể dân cư! Sông lạch ơi, vỗ tay đi nào, đồi núi hỡi, reo mừng trước tôn nhan Chúa.” (Tv 98:7-8) Tại sao như vậy? Lý do không phức tạp, dễ hiểu: “Vì Người ngự đến xét xử trần gian, Người xét xử địa cầu theo đường công chính, xét xử muôn dân theo lẽ công bình.” (Tv 98:9) Tất cả những người đau khổ đã chịu đựng suốt đời, nay được Thiên Chúa đòi lại công lý, lấy lại nhân vị, phục hồi nhân phẩm và nhân quyền. Thế thì không thể trì hoãn sự vui mừng đó.

Chân thành và nghiêm túc cảnh báo, Thánh Phaolô nói: “Chính anh em thừa biết là anh em phải bắt chước chúng tôi thế nào. Khi ở giữa anh em, chúng tôi đã không sống vô kỷ luật.” (2 Tx 3:7) Và rồi ông tự bạch: “Chúng tôi đã chẳng ăn bám ai, trái lại đêm ngày đã làm lụng khó nhọc vất vả, để khỏi nên gánh nặng cho người nào trong anh em. Không phải là vì chúng tôi không có quyền hưởng sự giúp đỡ, nhưng là để nêu gương cho anh em bắt chước. Thật vậy, khi còn ở với anh em, chúng tôi đã chỉ thị cho anh em: ai không chịu làm thì cũng đừng ăn! Thế mà chúng tôi nghe nói: trong anh em có một số người sống vô kỷ luật, chẳng làm việc gì, mà việc gì cũng xen vào.” (2 Tx 3:8-11) Rất thẳng thắn và rạch ròi. Có sự thật minh nhiên: thùng rỗng kêu to, người dốt ưa chảnh, kẻ ngu thích được nổi bật, kẻ lười biếng chỉ muốn “ngồi mát ăn bát vàng”. Đó là một thực-tế-buồn trong thời gian đầu của Tân Ước, thế nhưng chính những điều đó vẫn đang tiếp tục xảy ra trong xã hội ngày nay, đã hơn hai ngàn năm qua mà vẫn chẳng “tiến bộ” gì. Đó là dạng “điềm gở”, chứng tỏ tầm nhìn thiển cận, có vẻ như không xa hơn cái bóng của chính mình.

Lời khuyên cuối cùng của Thánh Phaolô như một mệnh lệnh: “Nhân danh Chúa Giêsu Kitô, chúng tôi truyền dạy và khuyên nhủ những người ấy hãy ở yên mà làm việc, để có của nuôi thân.” (2 Tx 3:12) Sách Huấn Ca thẳng thắn nói: “Phải thúc nó làm việc kẻo nó ra lười biếng, vì nhàn cư vi bất thiện.” (Hc 33:28)

Một hôm, nhân dịp có mấy người nói về Đền Thờ được trang hoàng bằng những viên đá đẹp và những đồ dâng cúng, Đức Giêsu bảo: “Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào.” (Lc 21:6) Có lẽ họ ngạc nhiên nên liền hỏi Ngài: “Thưa Thầy, vậy bao giờ các sự việc đó sẽ xảy ra, và khi sắp xảy ra thì có điềm gì báo trước?” (Lc 21:7) Hỏi vậy cũng có nghĩa là họ quan ngại với lời cảnh báo của Ngài, thế nhưng lại đòi “điềm báo” thì họ mới tin. Đúng là “hết thuốc chữa” đối với những người cứng lòng. Hầu như không thể giải thoát người ta ra khỏi cái ngu xuẩn thâm căn cố đế của họ. Thật đáng sợ!

Tuy nhiên, có thể chính chúng ta cũng ở trong cái vòng lẩn quẩn đó, thậm chí cũng chẳng hơn gì các kinh sư và Nhóm Biệt Phái. Họ cũng đã từng “xin đểu” với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, chúng tôi muốn thấy Thầy làm một dấu lạ.” (Mt 12:38) Vẫn ra vẻ hợm hĩnh, đểu cáng. Thế nhưng Chúa Giêsu nói thẳng: “Thế hệ gian ác và ngoại tình này đòi dấu lạ. Nhưng chúng sẽ KHÔNG ĐƯỢC dấu lạ nào, ngoài dấu lạ ngôn sứ Giôna.” (Mt 12:39) Sống khôn không dễ, vì phải có “tầm nhìn” vừa xa rộng vừa thâm sâu để có thể kịp chấn chỉnh chính mình, kẻo rồi “dân thành Ninivê sẽ trỗi dậy” và “nữ hoàng Phương Nam sẽ đứng lên” mà lên tiếng tố cáo những kẻ cứng lòng – có thể có chúng ta trong số đó. Nếu như vậy thì rất đáng quan ngại!

Khi nghe họ đặt vấn đề như vậy, Chúa Giêsu căn dặn những người tin theo Ngài: “Anh em hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt, vì sẽ có nhiều người MẠO DANH Thầy đến nói rằng: ‘Chính ta đây’ và ‘Thời kỳ đã đến gần’, anh em chớ có theo họ.” (Lc 21:8) Ngày nay cũng có một số người “tuyên bố” theo kiểu cách như vậy: Giáo chủ, thánh nhân, siêu nhân, nhà ngoại cảm,… hoặc vỗ ngực nhận mình là đạo đức, thánh thiện, tốt bụng,… rồi chê người này, trách người nọ. Ngày nay thấy cái gì cũng giả, ngay cả con người cũng giả đủ kiểu. Thật khó phân biệt vì quá tinh vi!

Tuy nhiên, Chúa Giêsu động viên: “Khi anh em nghe có chiến tranh, loạn lạc, thì đừng sợ hãi. Vì những việc đó phải xảy ra trước, nhưng chưa phải là chung cục ngay đâu. Dân này sẽ nổi dậy chống dân kia, nước này chống nước nọ. Sẽ có những trận động đất lớn, và nhiều nơi sẽ có ôn dịch và đói kém; sẽ có những hiện tượng kinh khủng và điềm lạ lớn lao từ trời xuất hiện.” (Lc 21:9-11) Chắc hẳn ai cũng nhận ra rằng tất cả những điều đó vẫn đang xảy ra từng ngày ở khắp nơi. Người ta cảm thấy run sợ hoặc rúng động, và rồi lại đâu vào đấy. Thế thì vô ích!

Rất chi tiết và cụ thể, Chúa Giêsu cho biết: “Trước khi tất cả các sự ấy xảy ra, người ta sẽ tra tay bắt và ngược đãi anh em, nộp anh em cho các hội đường và bỏ tù, điệu anh em đến trước mặt vua chúa quan quyền vì danh Thầy. Đó sẽ là cơ hội để anh em làm chứng cho Thầy. Vậy anh em hãy ghi lòng tạc dạ điều này, là anh em đừng lo nghĩ phải bào chữa cách nào. Vì chính Thầy sẽ cho anh em ăn nói thật khôn ngoan, khiến tất cả địch thủ của anh em không tài nào chống chọi hay cãi lại được. Anh em sẽ bị chính cha mẹ, anh chị em, bà con và bạn hữu bắt nộp. Họ sẽ giết một số người trong anh em. Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu. Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình.” (Lc 21:12-19)

Chúa Giêsu luôn thẳng thắn, nói rõ ràng và chính xác. Lời Ngài không hề sai lệch, mà ứng nghiệm đến từng dấu chấm, dấu phẩy, (Mt 5:18) dù cho trời đất này có tan biết đi. (Mt 24:35; Mc 13:31; Lc 21:33)

Ngày 17-11-2019 là Ngày Người Nghèo – được ấn định vào CN XXXIII Thường Niên hằng năm, như lời nhắc nhở mọi người mở rộng tầm nhìn để biết thương xót những người kém may mắn hơn mình, yêu thương cụ thể bằng hành động, và biết cầu nguyện cho họ. Bởi vì Chúa Giêsu đã cho biết rằng mọi nơi và mọi lúc đều cò người nghèo ở ngay bên mình. (Mt 26:11; Mc 14:7; Ga 12:8) Cũng nên biết rằng Ngày Người Nghèo đã được ĐGH Phanxicô tổ chức lần đầu tiên ngày 13-11-2016, nhân dịp Năm Thánh Lòng Thương Xót.

Lạy Thiên Chúa, xin mở rộng tầm nhìn để chúng con nhận biết Ý Chúa qua các điềm báo hằng ngày – cả tự nhiên và tâm linh. Xin hướng dẫn chúng con biết cách hành động theo linh hứng của Thần Khí, đủ khôn ngoan để suy trước đoán sau, biết sống đúng bổn phận và trở nên con người mà Ngài muốn. Xin Chúa ban thêm đức tin và sức mạnh cho những người nghèo khổ để họ là nhân chứng sống động của Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

Về mục lục

.

DIỄN TỪ VỀ GIÊRUSALEM ĐỔ NÁT.

Học viện Giáo Hoàng Pi-ô X Đà Lạt

1-. Diễn từ này bắt đầu bằng một lời khuyến cáo (cc. 8-9). Chủ đề chỉ được đề cập với các câu 10-11: mô tả các tai họa trong vũ trụ. Diễn từ này bị gián đoạn vì lời khai triển dài dòng về các biến cố sẽ phải đến “trước tất cả các điều đó”, là các biến cố không có giá trị dấu chỉ tiên báo ngày chung cục sắp đến: một đàng là các cuộc bách hại người Kitô hữu sẽ phải chịu (cc.12-19), đàng khác là hình phạt sắp giáng xuống Giêrusalem (cc.20-24). Lúc đó bài diễn từ mới bàn tiếp các tai họa vũ trụ sẽ phải xảy ra khi đến ngày thế mạt (cc.25-33). Diễn từ kết thúc bằng một lời khuyến cáo mới (cc.34-36). Đây là lược đồ qui tâm (expose concentrique) của diễn từ.

A. Lời khuyến cáo đầu tiên (cc. 5-9)

B. Các tai họa vũ trụ (cc. 10-11)

C. Điều xảy ra trước:

a) bách hại người Kitô hữu (12-19)

b) hình phạt Giêrusalem (20-24)

B’. Các tai họa vũ trụ ngày thế mạt (25-33)

A’. Lời khuyến cáo cuối cùng (34-36)

Như vậy đoản văn chúng ta chú giải dừng lại ở giữa bài diễn từ. Tuy nhiên đừng quên rằng mỗi một thành tố đều có ý nghĩa trong toàn thể.

2-. Câu người ta hỏi Chúa Giêsu ở câu 7 có hai phần: trước hết hỏi về thời gian (“khi nào?”), đoạn hỏi rõ ràng hơn về dấu chỉ để nhận ra biến cố thực sự đang xảy ra. Cách đặt câu hỏi như thế giống với hai phúc âm nhất lãm kia. Nhưng biến cố Lc nhắm đến là việc phá hủy đền thờ, còn Mt và Mc đi từ việc phá hủy đền thờ sang ngày thế mạt. Rõ ràng hơn Mc 13,4, Mt đặt câu hỏi như sau: “Khi nào các điều đó xảy ra và đâu là dấu chỉ điềm báo ngày Ngài quang lâm và ngày thế mạt đến?” (Mt 24,5). Việc phá hủy Giêrusalem, việc Con Người đến và ngày thế mạt liên hệ mật thiết với nhau. Lc hủy bỏ mối liên hệ đó. Việc phá hủy đền thờ không là thành tố của các biến cố đó. Trong suốt bài diễn từ, Lc cố ý tách rời việc phá hủy đền thờ khỏi biến cố thế mạt, loại bỏ mọi tương quan giữa hai sự kiện đó. Ngay từ đầu, ông đã muốn tránh mọi lầm lẫn giữa hai biến cố. Ông tạm thời lưu tâm đến số phận đền thờ và chỉ đề cập đến ngày thế mạt khi ông có thể minh chứng thế mạt không liên hệ gì đến biến cố năm 70. Câu hỏi trong câu 7 rõ ràng nhắm đến số phận đền thờ, và toàn bộ bố cục diễn từ cũng xác quyết điểm đó.

3-. Chúa Giêsu nói lời cứng rắn mạnh mẽ chống lại đền thờ và nói đó được xem như là thời điểm cao nhất trong việc rao giảng phúc âm, vì lời đó tiên báo Israel sẽ bị kết án và loại bỏ. Theo Lc, Chúa Giêsu nói lời đó ngay chính trong đền thờ, sau khi đã thanh tẩy đền thờ, điều đó cho thấy Ngài thực sự quản lý vật sở hữu của Ngài. Đền thờ là dấu chỉ cụ thể Thiên Chúa đang hiện diện giữa dân Người; Israel thấy đền thờ là lý do tồn tại của mình trong tư thế là dân được tuyển chọn. Việc phá hủy từ đây ám chỉ họ đã bị bỏ rơi và cùng khổ, nhục nhã, là những điều mà tiên tri Malakia đã tiên báo (3,21). Trong lúc mọi người hết lời ca tụng, ngưỡng mộ vẻ đẹp đền thờ, Chúa Giêsu chỉ thấy đổ nát thiêu hủy. Qua sự kiện này, Ngài tiếp nối sự nghiệp các tiên tri liên tục tiên báo các sự đổ nát đã xảy ra (Mi 3,9-12; Giêr 7,14; 26,18; Ez 2,21). Đến lượt mình, Chúa Giêsu nói tiên tri và hoàn tất sự đổ nát, vì từ đây Ngài là dấu chỉ duy nhất về sự hiện diện của Thiên Chúa giữa nhân loại.

4-. Chúa Giêsu không trả lời câu hỏi về ngày giờ và dấu chỉ cuộc phá hủy Giêrusalem. Thay vì trả lời như thế, c.8 đề phòng các Kitô hữu coi thường các kẻ gian manh sẽ tìm cách đánh lừa họ. Lc trước hết lấy lại phương cách mà Lc đã gán cho họ: họ là những kẻ tự xưng là đến “nhân danh” Chúa Giêsu, họ nói: “chính ta đây”, và tìm cách làm thiên hạ kính trọng họ như là Đấng Kitô. Mc chú tâm nhiều đến hiểm họa Kitô giả, đến nỗi đã nhắc lại trong phần cuối bài diễn từ (Mc 13,21-23); họ sẽ làm nhiều dấu chỉ và phép lạ, và lừa gạt được nhiều người. Lc loại bỏ lời khuyến cáo thứ hai, và việc đề phòng của ông, ở c.8 không xác quyết là họ sẽ thành công trong việc lừa gạt thiên hạ.

Ngược lại Lc thấy trước một hiểm họa khác, đối với ông xem ra khẩn trương hơn: hiểm họa các người gian manh loan báo “thời giờ đã đến gần đến”. Theo Lc, đó là “thời giờ” nào? Dựa vào câu hỏi ở c.7, người ta có thể nghĩ đó là thời gian tàn phá đền thờ. Nhưng chắc chắn Lc không nghĩ đến điều đó. Ta thấy được điểm này nhờ câu thiếp theo, là câu nói đến tai ương mà người ta chỉ có thể kết luận là “ngày tàn” của các tai ương đó sắp chấm dứt. Diễn từ tiếp tục đề cập đến các dấu chỉ, theo đó có thể biết là “sự cứu thoát các con đã gần kề” (c.28), và “Nước Thiên Chúa đã gần đến” (c.31). Sai lầm mà Lc muốn người Kitô hữu đề phòng là sai lầm trong ông lưu ý trong 19,11: “Chúa Giêsu lại nói thêm một dụ ngôn nữa, vì Ngài đã đến Giêrusalem, và người ta tưởng rằng liền ngay đó nước Thiên Chúa sẽ xuất hiện”. Đây là hiểm họa làm Lc lo lắng: là các Kitô hữu háo hức nghe theo ảo giác của những kẻ tưởng giờ thế mạt đã gần kề, rằng Nước Thiên Chúa sắp tỏ hiện trong vinh quang, rằng Con Người sẽ ngự xuống trên đám mây. Các lời loan báo như thế tạo nên một cơn sốt tạm bợ và sẽ gây thất vọng và khủng hoảng đức tin: người ta sẽ thôi chờ đợi, không sống trong hy vọng nữa. Chính vì thế Lc nhấn mạnh: “Các con chớ nghe theo chúng”.

Câu 9 cũng cản giác một nguy hiểm tương tự: nguy hiểm giải thích các biến cố (không chút liên hệ đến thế mạt) như là dấu chỉ ngày thế mạt đã gần kề. Theo Mc, người ta sẽ nghe nói về chiến tranh giặc giã; Lc xác định rõ hơn: “Có chiến tranh và hoan lạc”, là chữ chỉ các cuộc nổi dậy, phản động, và người ta nghĩ ngay đến cuộc nổi dậy của dân Do thái. Lúc bấy giờ chớ sợ hãi. Mc giải thích: “các điều đó sẽ phải xảy ra, nhưng chưa phải là tận thế”. Ở đây Lc cũng xác định và nhấn mạnh rõ: “Các điều đó phải đến trước, nhưng chưa phải là tận cùng ngay đâu”. Đối với Mc, chiến tranh giặc giã chỉ là dấu chỉ xa của ngày tận thế thì ra chúng biểu hiện “giờ đau khổ đã điểm” (Mc 13,8). Trong Lc, chiến tranh, nổi loạn không có giá trị dấu chỉ tiền phong, dù là dấu chỉ xa; chúng không liên hệ gì với ngày tận thế. Chúng phải xảy ra trước, nhưng không phải là lời loan báo về ngày tận thế.

Lc biết ngày tận thế không thể đến ngay. Ông sợ các ảo giác về vấn đề này sẽ làm lung lạc đức tin của Kitô hữu, khiến họ phải thất vọng. Lời khai mào diễn từ cánh chung đã bị ảnh hưởng bởi mối ưu tư về nguy hiểm trên.

Vì chính vì biết ngày tận thế không đến ngay, nên Lc đã không mô tả các dấu chỉ tiền phong của ngày tận thế: chỉ cần hai câu để mô tả là đủ (cc.10-11). Vả lại, các dấu chỉ đó không cho biết thêm điều gì. Các đối thoại viên của Chúa Giêsu đã xin một dấu chỉ, nhưng không phải dấu chỉ về ngày thế mạt, nhưng là dấu chỉ về việc tàn phá Giêrusalem. Chúa Giêsu không cho một dấu chỉ, nhưng nhiều dấu chỉ và các dấu chỉ này không liên hệ tới việc tàn phá Giêrusalem, nhưng liên hệ tới ngày thế mạt. Hơn nữa, các dấu chỉ này mơ hồ đến nỗi bất cứ thời nào cũng cảm thấy bị chúng ảnh hưởng. Nhưng ngoài bối cảnh lu mờ đó, có một điều rõ ràng: ngày tận thế sẽ không đến ngay.

5-. Càng nói phớt qua và không minh xác các dấu chỉ tiền phong đó, Lc càng nhấn mạnh đến thái độ người Kitô hữu phải có cho đến ngày thế mạt. Vì thế ngày thế mạt xa dần trong một tương lai bất định, người Kitô hữu càng cần phải sống trong thời gian, đương đầu với lịch sử. Đặc biệt họ phải anh dũng đối đầu với các cuộc bách hại. Và trong lúc Lc ghi lại diễn từ này, các lời Chúa Giêsu tiên báo về việc bách hại trong tương lai đã thực sự thể hiện trong lịch sử; sách Cvsđ đã minh chứng điều đó (Cvsđ 8 và 12).

Lc đã lưu tâm đến đoản văn liên hệ đến các cuộc bách hại đó. Người ta có cảm tưởng ông muốn khích lệ các người bị bách hại khi nhấn mạnh đến các lý do nhằm làm họ tin tưởng cậy trông trong các cuộc thử thách đó. Như thế lòi tiên báo đã biến thành lời mời gọi tin tưởng phó thác. Và Lc làm nổi bật tất cả những gì đem lại lợi ích cho người bị bách hại.

“Điều đó sẽ giúp các con làm chứng” (c.13). Cách dịch này chẳng để ý gì đến việc thay đổi nhãn quan. Ông đặt mình về phe người bị bách hại, để cho thấy lợi ích của các cuộc thử thách họ phải chịu: đây là bằng chứng chắc chắn cho thấy họ sẽ được cứu rỗi. Do đó đúng hơn phải dịch là: “Điều đó sẽ là dịp để các con làm chứng”. Đây là một lời khuyến khích chịu đựng các đau khổ, chúng là chiến tích hùng hồn biện hộ cho họ trước tòa án Thiên Chúa.

Phải đặt lời khuyên đừng lo lắng phải biện hộ thế nào trước mặt vua chúa quan quyền trong chiều hướng khuyến khích đó, vì lời khuyến khích là sứ điệp thiết yếu của diễn từ. Không những Thiên Chúa sẽ lo liệu bằng cách ban khôn ngoan và miệng lưỡi, nhưng còn lo liệu cho lời nói đó đừng trở nên cớ vấp phạm. Không gì có thể thắng nổi lời nói đó. “Ta sẽ cho các con miệng lưỡi và khôn ngoan, làm kẻ nghịch các con hết thảy đều vô phương chống lại hay bắt bẻ các con” (c.15). Cuối cùng Lc thêm lời hứa: “Dù một sợi tóc trên đầu các con cũng chẳng hư mất” (c.17). Câu này được gặp lại ở chỗ khác, trong một bối cảnh khác hẳn (x. Lc 12,7; Mt 10,30) được đặt ở đây, trong cuối đoản văn mô tả các cuộc bách hại, câu đó đưa ra một viễn ảnh đen tối và nặng nề; nó nhắc lại sự che chở đã được hứa trước. Đây cũng là lời mời gọi mới để tín hữu thêm can đảm và tín thác ngay khi gặp phải cảnh bắt bớ gian truân.

6-. “Các con sẽ giữ mạng sống nhờ biết bền đỗ” (c.19). Đây là một câu ngắn của Lc, có một nghĩa tổng quát: nó không còn liên hệ với hoàn cảnh lịch sử của những người sống ngay trước ngày thế mạt. Nó có giá trị trong mọi thời. Thực ra, Lc đã không ám chỉ đến ngày sau hết có trong Mc: “Ai bền đỗ đến cùng sẽ được cứu thoát” (Mc 13,13). Lc biết ngày sau hết không phải là gần đến; ông kết án là gian manh những kẻ chủ trương như thế (c.8). Đó là tất cả ý nghĩa việc Lc đọc lại viễn ảnh cánh chung học của Mc: các cuộc bách hại không liên hệ với thời sau hết. Đúng hơn chúng biểu thị thân phận người Kitô hữu trong thế giới, trong lịch sử nhân loại đang còn tiếp diễn.

Sự bền đỗ đó là sự kiên tâm bền chí giúp người Kitô hữu can đảm tin tưởng đương đầu với những vô vị của cuộc sống thường nhật cũng như các hoàn cảnh đặc biệt của thời bách hại. Đó là quộc thử thách đức tính kiên nhẫn mà Giêremia đã nói, ông là người đã hết lòng tin tưởng vào Chúa, nhưng rồi cũng đã thất vọng vì đó: “Lạy Giavê, Ngài đã dụ dỗ tôi, và quả thật tôi đã bị dụ dỗ, Ngài đã bắt tôi và đã thắng tôi. Mỗi ngày tôi biến thành trò cười, nọi người ai cũng chế nhạo tôi” (Giêr 20,7). Sự bền đỗ theo phúc âm biểu thị “những người nghe lời với thái độ tốt, đã đào sâu lời đó và mang lại nhiều hoa quả nhờ kiên tâm bền chí” (Lc 8,15); sự bền đỗ đó chắc chắn giúp ta được sống cũng như được vào vương quốc (x. Cvsđ 14,22). Nó được Thiên Chúa hứa và minh chứng lòng tín thác vào đấng hoàn tất lời hứa.

KẾT LUẬN

Thời của giáo hội là thời bách hại. Thời gian này đang tiếp tục. Việc giải phóng và ơn cứu độ hoàn toàn chỉ bắt đầu với việc Con Người đến nhưng Ngài chưa đến gấp. Do đó phải kiên nhẫn và bền chí đứng vững.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1-. Đứng bên Chúa Giêsu, có nhiều người trầm trồ khen ngợi Đền thờ và lấy làm hãnh diện sung sướng về các viên đá tốt và các lễ vật quí người ta dâng cúng. Thật thỏa mãn và vui mừng biết bao khi thấy ở chính Giêrusalem có một dấu chỉ minh nhiên sự hiện diện của Chúa. Nhất là hãnh diện biết bao, vì đền thờ nguy nga lộng lẫy là công trình của toàn dân, đồng thời nói lên lòng trung tín của các tín hữu cũng như sự che chở của Đấng toàn năng. Tất cả điều đó khiến họ hài lòng thỏa mãn.

Trước sự ngưỡng mộ chính đáng và quan yếu đó, Chúa Giêsu phán: “những gì các ngươi nhìn ngắm đây, sau này sẽ đến ngày không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào, tất cả sẽ bị tàn phá”. Nghe vậy chắc các thính giả xôn xao lo lắng lắm. Đền thờ bị phá hủy thì còn đâu sự che chở của đấng Tối Cao, đâu còn chứng tích của lòng trung tín?

Chính vì thế, họ tò mò và quan ngại: “Thưa thày, bao giờ những sự ấy sẽ xảy ra, và cứ dấu nào mà biết những sự đó sắp xảy đến ?”

Qua câu hỏi này, thính giả Chúa Giêsu cho thấy họ đã nhận thức tầm quan trọng của việc chuẩn bị sống các biến cố đó. Phải khắc phục các tai ương đó, chứ đừng bị chúng bắt chợt. Niềm tin vào đền thờ, nơi Đấng tối cao đang hiện diện, càng sống động. Đền thờ càng trở nên quan trọng vì là dấu chỉ hữu hình của sự hiện diện này, do đó người ta càng khó chịu khi thấy đền thờ bị tàn phá.

Ngày nay phải chăng người ta cũng có một tâm tưởng như thế, khi nghĩ là giáo hội đang trên đường diệt vong? Trước những biến đổi sâu xa do công đồng đem đến, nhiều người tức tối, nuối tiếc phụng vụ cổ xưa, các bài giảng ngày trước, việc bình thản nhàn hạ đã có từ lâu. Niềm tin của các bạn trẻ hôm nay, được biểu lộ một cách khác xưa, có còn là niềm tin nữa không? Các linh mục liên hệ với cộng sản là vô thần, có còn là linh mục nữa không? các nữ tu đến sống với các những nghèo trong các ổ chuột tồi tàn có còn là nữ tu nữa không? Cuối cùng, dù với những ý tưởng ngay lành của thế giới, người ta sẽ chẳng phá hủy giáo hội sao? Cũng như dân Do thái ngày xưa muốn bảo trì đền thờ Giêrusalem của họ, ngày nay người ta cũng muốn giữ gìn giáo hội và những cái gọi là truyền thống của giáo hội, nhưng giáo hội mới cứu người tín hữu.

2-. Sau các câu hỏi mà giờ đây chúng ta đã hiểu rõ, Chúa Giêsu mới bắt đầu lên tiếng. Ngài không cho biết khi nào sẽ xảy ra cuộc tàn phá Giêrusalem, cũng như các dấu chỉ tiên báo cuộc tàn phá đó. Ngài không bao giờ trả lời để thỏa mãn tính tò mò hay xoa dịu nỗi ưu tư xao xuyến. Ngài giúp ta can đảm và bình thản đón nhận biến cố. Chính vì thế, Ngài nói trước các nguy hiểm, các sai lệch hoặc các cuộc đào tẩu bội phản có thể xảy ra; đoạn cho biết phải sử dụng năng lực của mình như thế nào cho hợp lý.

Trước tiên là các nguy hiểm và ảo tưởng. Chúa Giêsu canh chừng thính giả khỏi mắc mưu các Messia giả. Vào thời hoan lạc, con người quá xao xuyến đến nỗi phải tìm đến người có thể trấn an và hướng dẫn họ cách quyền uy. Chúa Giêsu cảnh giác họ đừng vội tin những người bịa đặt những phép lạ dễ dãi và những thày phù thủy chữa bệnh tâm tư phiền muộn; đừng vội theo những ai đơn giản hóa sự việc bằng cách đồng hóa đức tin với các hệ thống kinh tế hoặc chính trị của họ.

Chúa Giêsu đề phòng chống lại các ngày thế mạt giả mà chúng ta thường tin cách dễ dàng: chiến tranh, động đất, ôn dịch, đói kém… đó là những lệnh báo động giả, nhiều khi rất đánh động, nhưng chúng ta đừng vì đó mà xao lãng hoặc quên mất điều cốt yếu.

Điều cốt yếu là sống đức cậy trông Kitô giáo trong thế giới, là giữ vững đức tin. Niềm tin luôn làm thế giới chống đối: Chúa Giêsu nói đó là điều không thể tránh được. Môn đệ không hơn thày. Người Kitô hữu có thể bị cám dỗ hoảng sợ và kinh hãi những tội phạm vì lòng yếu đuối của mình. Chúa Giêsu cho họ biết là trong họ có một sự hiện diện siêu phàm đang ngự trị. Khi đến giờ làm chứng tá, người Kitô hữu không phải chuẩn bị đối phó, tự vệ: chính Chúa Giêsu sẽ linh ứng cho họ điều phải nói. Do đó ngay bây giờ phải sống hiện tại cách tin tưởng hoàn toàn phó thác vào Chúa: không một sợi tóc trên đầu chúng ta rụng đi mà không có sự thỏa thuận đồng ý của Ngài. Điều quan hệ là hôm nay hãy sống đời môn đệ Chúa Kitô cách trung tín ngày qua ngày, luôn kiên trì trong đời Kitô hữu. Đó là đường duy nhất đưa đến cứu rỗi.

Về mục lục

.

 

PHẦN THƯỞNG CHO NGƯỜI TRUNG TÍN

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Hôm nay, Chúa nhật 13-11-2016, một số giáo phận cử hành lễ kính trọng thể các thánh Tử đạo Việt Nam, vì Chúa nhật sau sẽ là lễ Chúa Giêsu Kitô Vua vũ trụ. Dù cử hành lễ kính các thánh Tử đạo hay lễ Chúa nhật 33 thường niên, Phụng vụ Lời Chúa đều mang nội dung giáo huấn về thân phận con người trong một thế giới đang dần qua đi, để từ đó, chúng ta kiếm tìm những giá trị vĩnh cửu là ân ban của Thiên Chúa và cố gắng sống trung tín với Ngài.
 
Con người sẽ ra sao sau khi chết? đó là câu hỏi không ngừng ám ảnh mọi thời đại. Trong cuộc sống trần thế, con người trồng tỉa, xây cất, tích trữ. Thế rồi, một lúc nào đó, họ nhận ra rằng những điều mình tích trữ ấy trở thành vô nghĩa, vì chẳng ai sống mãi mà hưởng thụ. Cuộc sống này có khởi đầu và có kết thúc. Ai cũng phải chết, và khi chết, họ phải để lại hết mọi sự. Đức tin Kitô giáo đã cho chúng ta câu trả lời: Sau khi chết, người trung tín sẽ được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu bên Chúa, những tội nhân sẽ phải trừng phạt đau khổ muôn đời.
 
Kinh Thánh, Cựu ước cũng như Tân ước, gọi ngày tận thế là “Ngày của Chúa” và được trình bày với lối văn chương khải huyền, tức là đi kèm với động đất, khói, lửa, chiến tranh bạo lực và tai ương ập đến. Những gì được coi là bền vững và vĩnh cửu như đền thờ Giêrusalem cũng sẽ có ngày sụp đổ. Tuy vậy, đối với những ai yêu mến Chúa và thực thi điều công chính, thì thời điểm đó lại là lúc họ được giải thoát và lĩnh phần thưởng (Bài đọc I). Họ tin Chúa là vị Thẩm phán công minh. Ngài xét xử vừa với sự công bằng vừa với lòng thương xót. Những ai mến Chúa yêu người sẽ được Ngài thưởng công.
 
Một câu hỏi khác luôn được đặt ra: “Khi nào thì tận thế xảy đến?”. Thiên Chúa khôn ngoan không cho con người biết trước lúc tận cùng của cuộc đời. Bởi lẽ, nếu họ biết trước ngày giờ của cái chết, họ sẽ khủng hoảng tinh thần, lo lắng bấn loạn và tiêu cực bất mãn. Có người mất tiền đi coi bói toán tử vi để biết bao giờ mình tận số, kết cục trở thành lo sợ ám ảnh  đến mức điên loạn. Nếu Chúa không cho ta biết ngày giờ tận thế, cũng như giờ chết của mỗi người, thì Người lại kêu gọi ta hãy thận trọng, hãy tỉnh thức và luôn dọn mình sẵn sàng, bởi không biết giờ nào Chúa sẽ đến, bất ngờ như kẻ trộm. Khôn ngoan trong đời sống đức tin, Chúa cảnh báo chúng ta phải cẩn trọng trước những trào lưu giáo thuyết sai lạc, giả dối, nhằm mê hoặc và đánh lạc hướng con người.
 
Như thế, đối với những ai yêu mến Chúa, khi nào tận thế không quan trọng bằng việc chúng ta sống thế nào trong khi chờ đợi biến cố ấy. Chúa Giêsu hôm nay nhấn mạnh đến lòng trung thành của những ai muốn làm môn đệ Người. Trong hành trình đức tin, người tín hữu phải đối diện với biết bao cám dỗ thử thách. Có những khó khăn đến từ chính những người thân, vì họ thành kiến mặc cảm với Giáo Hội. Người tin Chúa nhiều khi phải chấp nhận những hy sinh về tình cảm, lợi lộc để giữ một niềm trung tín với Chúa. Các thánh tử đạo là mẫu mực cho chúng ta. Sinh ra ở đời, ai cũng muốn sống bình an, mạnh khỏe hạnh phúc và trường thọ. Tuy vậy, khi phải chọn lựa, giữa sự trung thành với Chúa hoặc lợi lộc trần gian, các ngài đã chọn lựa Chúa cho dù phải đổ máu. Sự chọn lựa ấy đã khiến các ngài phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. Các ngài xác tín rằng: ai gieo trong lệ sầu, sẽ gặt trong hân hoan; ai trung tín đến cùng, sẽ được Chúa ban thưởng. Chúa Giêsu hôm nay khẳng định với chúng ta: “Các con cứ bền đỗ, các con sẽ giữ được linh hồn các con”. “Bền đỗ” có nghĩa là kiên trì, trung tín và cậy trông vào lòng nhân hậu của Chúa và tin rằng, dù hoàn cảnh nào, Ngài cũng không bỏ rơi chúng ta.
 
Tin vào đời sau không có nghĩa là chúng ta bỏ bê trách nhiệm đối với cuộc sống hiện tại như nhiều người lầm tưởng. Thánh Phaolô đã phê phán quan điểm sai lầm của một số tín hữu ở Thêsanolica. Những người này không chịu làm việc vì họ nghĩ sắp tận thế rồi. Thánh nhân đã đưa ra nguyên tắc: “Ai không muốn làm việc thì đừng có ăn!”. Chính ngài đã cố gắng để sống bằng đôi tay của mình, không trở nên gánh nặng cho người khác (Bài đọc II).
 
Cuộc sống trần gian là một cuộc lữ hành. Chúng ta đang tiến dần về quê trời, nhưng không thờ ơ vô trách nhiệm với cuộc sống trần thế. Người tín Chúa vừa gắn bó với quê trời, vừa yêu mến cuộc sống hiện tại, vì nơi đây, Chúa mời gọi họ sống yêu thương thân thiện để làm chứng cho tình yêu của Ngài. Nếu khi chết, con người không mang theo được của cải, danh lợi, thì họ có thể mang theo những công phúc, lòng bao dung, tình yêu mến quảng đại và nhất là lòng mến Chúa yêu người. Hạnh phúc thiên đàng là kết quả của những nỗ lực cố gắng ấy. Biết khôn ngoan chọn lựa giữa những gì tạm thời và những gì vĩnh cửu, chúng ta sẽ đạt được hạnh phúc bất diệt Chúa dành cho những người trung tín.

Về mục lục

.

NIỀM TIN PHỤC SINH

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

Con người thường rất sợ nhiều thứ. Có người sợ chuột. Có người sợ giun, sợ cóc, nhái . . ; Nhưng có lẽ con người có chung một nỗi sợ là sợ chết. Có nhiều khi anh hùng rơm bảo rằng không sợ chết, nhưng đứng trước cái chết thì ai cũng hoảng sợ.

Có một câu chuyện vui kể rằng, một người Trung Hoa, một người Mỹ và một người Do thái bàn luận xem họ muốn người khác nói gì về mình, khi đứng trước linh cửu của họ, sau khi họ chết. Người Trung Hoa nói rằng “Tôi muốn người ta nói rằng tôi là người nhân đức và đáng tin cậy”. Người Mỹ thì nói rằng “Tôi muốn người ta nói rằng tôi là người giàu có và rộng rãi với người khác”. Còn người Do-thái thì nói rằng “Tôi muốn người ta nói rằng: Ồ, nhìn kìa, anh ấy còn nhúc nhích!”.

Hôm nay chúng ta mừng kính các thành TDVN,  có thể thấy nơi các ngài là chẳng ai sợ chết. Cái ngài coi cái chết nhẹ như sợi lông hồng. Các ngài chẳng sợ đòn roi, cực hình. Các ngài có thể đối diện với bách hại mà vẫn bình an là vì các ngài có cái nhìn đức tin, hay có thể nói các ngài có con mắt của niềm tin. Con mắt này được khai mở để cho Chúa hành động nên chẳng còn gì khiến các ngài hoảng sợ.

Chính các quan và các lính hành hình đều không thể hiểu được: tại sao mọi khi những tội nhân bị dẫn ra pháp trường xử tử thì run rẩy sợ hãi cùng độ, mà các vị tử đạo lại ung dung hân hoan tiến bước, miệng đọc kinh hay ca hát. Thánh Marrtino Thọ bị đánh đập nhừ tử mình mẩy đầy vết thương, bị ngâm vào lò nước tiểu rồi lôi ra phơi nắng, vậy mà cứ trơ trơ ra không hề sợ hãi. Các quan tưởng vậy là bị bỏ bùa mê, vì do được ăn miếng bánh trắng. Có ngờ đâu, đó là sức mạnh của con mắt niềm tin nội lực từ Thánh Thể, thấy được một cái gì rồi thì không một quyền uy nào có thể lay chuyển được nữa.
Giống như chuyện loài gấu thấy được mật ong. Khi nó khám phá ra có mật ong trên cây, thì bất cứ giá nào nó cũng trèo lên cho bằng được, bất chấp bày ong bu kín đốt sưng mặt lên. Một con người đã nhìn thấy sáng láng thiên đàng thì không còn sợ đau đớn, cực hình mà họ vui vẻ đi qua cực hình để vào chốn hạnh phúc ngàn thu.

Vâng, Sức mạnh nào đã làm cho thánh Nguyễn Huy Mỹ biến cái gông thành khăn quấn cổ cho ấm, và những vòng xích thành dây trang sức sang trọng. 

 
Vai mang bốn điệp tai thêm ấm

Xổng xểnh ba vòng cổ lại thanh. 

Thánh Lê Thị Thành thì biến những vết máu thành hoa hồng. Bị đánh đập máu me bê bết, con cái thấy vậy thì khóc thương, thánh Lê Thị Thành liền an ủi: “Con đừng khóc, mẹ thấy hoa hồng đang nở đó con.” 
Từ trong nhà tù, thánh Dũng Lạc đã viết thư ra ngoài khích lệ một linh mục bạn là cha Thực. Cho thấy ngài vẫn an nhiên ngay giữa những nghịch cảnh chao động nhất? 

Lòng nhớ bạn nỗi còn vất vả

Dạ thương khách chạy chưa yên hàn.

Đông qua tiết lại thời xuân tới

Khổ tạm mai sau hưởng phúc an. 

Con mắt của các thánh tử đạo Việt Nam đã nhìn thấy trời mở ra qua những cực hình. Hay có thế nói, các ngài đã nhìn thấy những bông lúa vàng sẽ nặng trĩu hạt nếu hôm nay các ngài chấp nhận bị nghiền nát để đem lại mùa bội thu cho Nước Trời. Các ngài đã nhìn thấy Nước Trời ngay trong cuộc đời này với đau khổ, cực hình nhưng đã có Chúa làm gia nghiệp.

Thế nên, mừng các thánh TDVN xin cho chúng ta cũng luyện được con mắt đức tin để chúng ta thấy Chúa trong mọi hoàn cảnh.

Chúa đang hiện diện qua người nghèo, bệnh tật .  .. để mời gọi ta chia sẻ, cứu giúp.
Chúa đang hiện diện nơi người đang thất vọng  vì làm ăn thua lỗ, vì tình duyên lận đận, vì đời nhiều đắng cay, chúng ta hãy đưa tay ra nâng đỡ.

Chúa cũng đang mời gọi chính chúng ta đón nhận cuộc đời theo thánh ý Chúa. Vì Chúa chúng ta vui lòng đón nhận thánh giá Chúa gửi tới. Thánh giá trong bổn phận khi phải vất vả làm ăn, khi phải phụng dưỡng cha mẹ già, khi phải trung tín với người từng phản bội mình, và khi mang trong mình những cơn bệnh hiểm nghèo.

Chính con mắt đức tin ấy chúng ta thấy những đau khổ đời này chẳng đáng là gì so với vinh quang thiên quốc. Chính cái nhìn đức tin ấy giúp chúng ta sống hiến thân từng giây từng phút của đời mình cho Thiên Chúa và tha nhân. Vì Chúa mà chúng ta: mỗi ngày chết đi những yếu đuối tầm thường, để can đảm làm chứng và đấu tranh cho Chân lý. Vì Chúa mà chúng ta vui sống trong bổn phận của mình hầu làm chứng nhân ngay chính đời sống thường ngày của mình.

Ước gì chúng ta biết noi gương các thánh tử đạo, dám nói không với tội lỗi, dám làm chứng cho đức tin cho dù bị thiệt thòi, bị hiểu lầm, nhưng phần thưởng thật lớn lao trên trời. Amen.

Về mục lục

.

TRUNG THÀNH VÀ BÌNH AN

Lm.  Antôn Nguyễn Văn Độ

Chu kỳ Năm Phụng vụ mở ra với ngày tháng dần trôi đang từ từ khép lại. Chúng ta đang ở Chúa nhật áp chót của năm, cũng như Chúa nhật cuối cùng của Năm Thánh Lòng Thương Xót. Nhưng tâm điểm vẫn là Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa nhập thể làm người, chịu chết và sống lại, lên trời và sẽ trở lại trong vinh quang như lời Người đã phán. Sống đời kitô hữu là sống niềm tin và hy vọng vào Chúa, nhất là trung thành với Đức tin đã lãnh nhận ngày chịu phép Rửa tội, chúng ta sẽ được bình an trong ngày Chúa đến.

Chúa nhật thứ XXXIII thường niên C làm chúng ta nhớ lại, khởi đầu Năm Phụng Vụ, Giáo hội đã kêu gọi con cái mình chuẩn bị tâm hồn đón Chúa Kitô đến lần thứ nhất mang ơn cứu độ là chính Người đến cho nhân loại. Chúa nhật hôm nay, Giáo hội lấy lại lời Chúa Giêsu báo trước về ngày giờ Chúa đến lần thứ hai, giúp chúng ta nghĩ về những thực tại mai hậu của con người là : sự chết, sự phán xét, thiên đàng và luyện ngục. Nhưng trước khi những việc ấy xảy ra thì sẽ có các tiên tri giả, nên lời Chúa mời gọi chúng ta cảnh giác và sống trong tỉnh thức cũng như hy vọng, nhất là bền đỗ đến cùng trong niềm tin cậy vào Chúa (x. Lc 21, 5 – 19).

Nghe đoạn Tin Mừng Luca (21, 5 – 19) hôm nay với những lời tiên báo của Chúa Giêsu như : Đền thờ Giêrusalem bị phá hủy, xuất hiện các tiên tri giả, các dân nước chống lại nhau, nạn ôn dịch xảy đến… Dĩ nhiên người ta hỏi Chúa: Khi nào thì điều ấy xảy ra? Ðâu là những dấu hiệu? Nhưng Chúa Giêsu chuyển sự chú ý của họ đối với những khía cạnh cụ thể bao giờ xảy ra, sẽ như thế nào, sang những vấn đề đích thực. Có hai vấn đề. Thứ nhất: là đừng để mình bị những tiên tri giả đánh lừa, và đừng để mình bị tê liệt vì sợ hãi. Thứ hai: sống thời gian chờ đợi như thời gian làm chứng và kiên trì. Và chúng ta đang ở trong thời gian chờ đợi Chúa đến.

Lời cảnh tỉnh xưa của Chúa Giêsu vẫn luôn có tính chất thời sự, kể cả đối với chúng ta là những người đang sống trong thế kỷ 21. Chúng ta cần phải phân định, đâu là tinh thần của Chúa và đâu là tinh thần của thần dữ. Ðúng vậy, ngày nay cũng có những cứu thế giả, toan tính thay thế Chúa Giêsu: thủ lãnh của thế gian này muốn thu hút về mình tâm trí của người khác, nhất là của những người trẻ. Chúa Giêsu cảnh giác chúng ta: “Các con đừng đi theo chúng!”.

Trong thực tế, những gì mà Chúa Giêsu tiên báo liên quan đến ngày tận thế đã, đang và chắc chắn sẽ xảy ra. Chẳng hạn gần với thời của Người là Đền Thánh Giêrusalem đã bị phá tan bình địa vào năm 70 sau đó như Người tuyên bố. Các biến cố khác như chiến tranh, giặc giã, đói khát, động đất, chết chóc, nước này nổi lên chống đối nước kia… đang không ngừng ập đến trong nhân loại từ nơi này đến nơi khác dưới mọi hình thức, rõ ràng nhất là sự tận cùng đời người của mỗi chúng ta. Hằng ngày có không biết bao nhiêu nhân mạng tan biến đi thành tro bụi trên trái đất này. Như thế, điều Chúa Giêsu tiên báo về ngày tận thế không phải là sự dọa nạt, nhưng thức tỉnh chúng ta, hướng chúng ta về cuộc sống an bình, hạnh phúc trong sự đợi chờ của niềm tin và lòng cậy trông vững vàng vào sự quan phòng và quyền năng Thiên Chúa.

Chúa nhắc nhở rằng : “Dù một sợi tóc trên đầu các con cũng sẽ chẳng hư mất” (Lc 21,18). Chúng ta hoàn toàn ở trong tay Thiên Chúa! Những nghịch cảnh chúng ta gặp vì đức tin và vì lòng gắn bó với Tin Mừng là những cơ hội để làm chứng tá; những nghịch cảnh ấy không làm chúng ta xa Chúa, nhưng thúc đẩy chúng ta càng phó thác vào Chúa, sức mạnh của Thánh Linh và ơn thánh của Ngài.

Lời Chúa nói đây : “Các con cứ bền đỗ đến cùng, các con sẽ giữ được linh hồn các con” (Lc 21,19). Những lời trên của Chúa Giêsu chứa chan niềm hy vọng. Lời ấy như tiếng mời gọi chúng ta sống hy vọng và kiên nhẫn, chờ đợi những thành quả của ơn cứu độ, tín thác nơi ý nghĩa sâu xa của cuộc sống và lịch sử: những thử thách và khó khăn là điều thuộc về một kế hoạch rộng lớn hơn; Chúa là chủ tể lịch sử, ngài hướng dẫn mọi sự đến chỗ viên mãn. Dầu có những xáo trộn và tai ương làm chao đảo thế giới, nhưng kế hoạch từ nhân và thương xót của Thiên Chúa sẽ viên mãn! Và đây là niềm hy vọng của chúng ta: tiến bước như thế trên con đường này, trong ý định của Thiên Chúa sẽ được hoàn thành. Ðó là niềm hy vọng của chúng ta.

Lạy Chúa, chúng con tin cậy vào Chúa, Lời Chúa là ngọn đèn soi cho chúng con bước, là Ánh Sáng chỉ đường cho chúng con đi, Lời ấy tồn tại mãi cho dù mọi sự qua đi.

Về mục lục

.

CHỈ MỘT BƯỚC CHÂN

Lm Giuse Nguyễn Hữu An 

Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng hôm nay: “Ai muốn theo tôi phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hàng ngày mà theo”. 

Trải qua sáu triều Vua: Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Giáo Hội Việt Nam đã có hơn một trăm ngàn Đấng Tử Đạo được ghi nhận trong sổ sách. Trong dòng thời gian bị bách hại, các Kitô hữu phải trải qua một trong những thử thách đức tin là bước qua thập giá. Quan quân thời đó thường đặt một cây thập giá dưới đất rồi bắt các Kitô hữu bước qua. Đôi khi chỉ là hai cây gỗ bắt chéo nhau. Ai không bước qua thì phải chịu đủ mọi cực hình dã man. Ai chấp nhận bước qua thì được thoát cảnh ngục tù, được trả lại những tài sản bị tịch thu, được ban thưởng bỗng lộc, được sống đời tự do, được đoàn tụ với gia đình.Bước qua là được tiếp tục sống an nhàn. Không bước qua là phải chịu tù đày, đòn vọt, mất tất cả và mất cả mạng sống. Chỉ cần một bước chân thôi là mọi sự thay đổi. Đã có người bước qua, và cũng có người không. 

Có người bị khiêng qua thánh giá nhưng đã co chân lên, như thánh Antôn Nguyễn Đích. Có người bước qua, nhưng sau lại hối hận. Đó là trường hợp của ba vị thánh quân nhân: Âutinh Huy, Nicôla Thể và Đaminh Đạt. Cũng có những vị được quan quân khuyến dụ hãy giả vờ bước qua thập giá để cho quan có cớ mà tha, còn sau đó về nhà thì muốn sao tuỳ ý; nhưng các thánh tử đạo vẫn không chấp nhận một thoả hiệp như thế. Các ngài vẫn khẳng khái nói không. Không bước qua thập giá, không bỏ đạo, không chối Chúa. 

Đứng trước thập giá là đứng trước một lựa chọn. Tôi chọn Chúa hay tôi chọn tôi? Không có giải pháp dung hoà hay lấp lửng.Giây phút đứng trước thập giá là giây phút quan trọng.Quyết định không bước qua thập giá là kết tinh của những đêm dài cầu nguyện, của việc chiến thắng những mời mọc khéo léo, của việc thắng vượt những sợ hãi, giằng co nội tâm, của những Vườn Dầu trong ngục thất…Các Thánh Tử Đạo có chung một chọn lựa lựa khoát : theo Đức Kitô hay theo vua quan? Theo Đức Kitô là vác thập giá, sống trong gông cùm và chết trong đau thương. Theo vua quan là thừa hưởng vinh hoa phú quý nơi trần gian. Các Ngài có chung một quyết định tối hậu là theo Đức Kitô. Giây phút quyết định ấy chỉ có các Ngài với Thiên Chúa, chỉ có linh hồn với cõi phúc vô biên. Giây phút ấy không bị ảnh hưởng bởi gia đình, tổ quốc, nhân sinh. Người chết trong máu tử đạo đã coi nhẹ nghĩa phu thê, đã xem thường đường phụ tử. Họ khao khát một tình yêu vô biên mỹ lệ như giải ngân hà sao sa vời vợi, như vầng nhật nguyệt huy hoàng khôn tả. Các Ngài đã hoan hỉ chấp nhận chết để được sống một cuộc đời mà không mỹ từ nào diễn tả nổi, không bút hoạ nào vẽ thành và không hùng biện nào tuyên dương cho trọn. Người chết trong gông cùm mòn mỏi đã đặt tổ quốc đàng sau những giá trị vĩnh cửu. Ước vọng của họ không phải là được người đời tưởng niệm, được hậu thế tôn phong. Họ chết là vì đức tin thúc đẩy. Họ chỉ muốn thực hiện điều đã từng nghe biết : “Ai tuyên xưng danh Ta trước mặt trần gian, Ta sẽ tuyên danh nó trước mặt Cha Ta trên trời” (Mt 10,32). (x.Thiên Hùng Sử trang 4). 

Thánh Nữ Inê Lê Thị Thành, sinh tại làng Bái Điền, địa phận Thanh Hóa, vào khoảng năm 1781; nhưng sau này theo mẹ về quê sống tại làng Phúc Nhạc, địa phận Phát Diệm. Năm lên 17 tuổi bà kết duyên cùng ông Nhất và sinh được 2 trai, 4 gái. Vì con trai đầu lòng tên Đê, nên theo tục lệ thời ấy, dân chúng gọi hai người là ông bà Đê. Suốt 60 năm trời, cuộc đời của bà êm đềm trôi qua trong nghĩa vụ làm người vợ thảo, mẹ hiền. 

Thế rồi, vào lối tháng 3 năm 1841, có 4 linh mục thừa sai về đến làng Phúc Nhạc. Họ chia nhau ẩn trú mỗi người tại một nhà giáo dân. Bà Đê được vinh dự che dấu cha Thành trong nhà mình. Nhưng một ngày kia, ông Đễ, một giáo dân thường hay theo giúp cha Thành, đã thay lòng đổi dạ, ham tiền thưởng nên đi mật báo với quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh. Thế là quan tổng đốc bất thần đem 500 quân về vây làng Phúc Nhạc vào rạng sáng Phục Sinh, 14-4-1841. Cha Thành và cha Ngân nhanh chân trốn kịp. Cha Nhân trốn trên gác bếp vô tình để gấu áo lò ra ngoài kẽ ván nên bị bắt. Cha Lý, đang ẩn bên nhà ông trùm Cơ, lúng túng không tìm được đường tẩu thoát, nên chạy sang nhà bà Đê ẩn núp. Bà dẫn cha ra vườn sau, dấu cha dưới đường mương, rồi mẹ con bà lấy rơm rác phủ dấu che cha. Nhưng quan quân đã thấy cha Lý chạy sang nhà bà Đê, nên kéo đến vây kín, lục soát thật kỹ, cuối cùng họ đã bắt được cha Lý, bắt luôn bà Đê áp giải về Nam Định. Với tuổi cao sức yếu, lại phải mang gông cùm nặng nề, đoạn đường từ Phúc Nhạc về đến Nam Định đã trở thành chặng đàng thánh giá, con đường dẫn đến Núi Sọ.

Tại Nam Định, bà đã bị lôi ra tòa, bị đánh đập nhiều lần nơi công đường, khi thì bằng roi, khi thì bằng cây củi lớn, nhưng bà vẫn một mực trung kiên tuyên xưng đức tin. 

Lính vừa đánh vừa lôi bà dẫm lên thánh giá. Bà vùng ra rồi nằm sụp xuống ôm lấy thánh giá. Bà cầu nguyện: Chúa con ơi, xin thương con, con không bao giờ bỏ Chúa đâu. Họ cậy con là đàn bà yếu đuối mà ép lôi con dẫm lên thánh giá. Con không bỏ Chúa đâu, con không bỏ Chúa đâu. Xin thương giúp con. 

Quan: Con mụ già này to gan thật. Được, để ta xem ngươi to gan đến đâu. Quân bây đâu.Đem rắn độc ra cho ta.Túm áo túm quần nó lại. Thả rắn độc vào mình nó, để xem nó to gan đến đâu, xem Chúa nó có cứu nó được không? Lính thi hành. Nhưng bà vẫn bình tĩnh đứng yên. Quan đi từ khoái chí đến kinh ngạc, rồi giận dữ. 

Quan: Lôi nó vào ngục, đánh cho nó thêm một trận nhừ đòn. Đánh cho toát máu, cho áo quần nó phải đẫm máu mới thôi. 

Cô Nụ, con bà Đê đến xin thăm nuôi mẹ. Một người lính lôi bà Đê ra. Vừa thấy mẹ, cô Lucia Nụ òa lên khóc vì thấy mẹ quá tiều tụy, áo quần rách nát, đẫm máu. Nhưng bà vẫn vui vẻ an ủi con. 

Cô Nụ: Mẹ, sao áo quần mẹ tả tơi, đẩm máu thế này. 

Mẹ: Con ơi, con đừng có khóc. Con hãy vui mừng với mẹ, vì mẹ đang mặc áo hoa hồng đây. Áo này là áo đau khổ vì Chúa mà. Con phải vui mừng với mẹ mới đúng. 

Cô Nụ: Mẹ, sao mẹ khổ thế này! 

Mẹ: Con ơi, con đừng khóc nữa. Mẹ đang sung sướng kia mà. Mẹ sắp được chết cho Chúa đây, còn gì phúc hơn. Con phải mừng với mẹ, cám ơn Chúa với mẹ mới đúng chứ. Con hãy về đi, về đi và cho mẹ gởi lời thăm hỏi mọi người. Các con hãy cố gắng giữ đạo cho sốt sắng, rồi một mai mẹ con ta sẽ lại đoàn tụ trên thiên đàng.

Bên cạnh những cực hình của ngục tù, đòn vọt, bà Đê lại mắc thêm bệnh kiết lỵ. Chính trong cảnh tù đày, đòn vọt, bệnh tật này, bà đã nhìn lên Đức Giêsu tử nạn, để tìm thấy lẽ sống cho đời mình, để múc lấy sức mạnh vác thánh giá cho đến hơi thở cuối cùng.Và cũng như Đức Giêsu trên thánh giá, bà đã cầu nguyện cùng Chúa trong cơn hấp hối: Lạy Chúa… xưa Chúa đã chết cho con… thì nay con xin hết lòng vâng theo Ý Chúa. ..Xin Chúa tha thứ cho họ… cũng như tha hết. .. mọi tội của con. Rồi bà gục đầu tắt thở trong tay cô Nụ. 

Cô Nụ: Mẹ, và ôm xác mẹ khóc nức nở.

Bà Đê đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 12-7-1841, sau ba tháng bị giam cầm, thọ 60 tuổi. Lính đã đến đốt ngón chân bà để biết chắc bà đã chết. Sau đó thi hài bà được đem chôn tại Năm Mẫu, sau lại được cải táng đưa về Phúc Nhạc. Vị thánh nữ đầu tiên của Giáo Hội Việt Nam.(x.Các Thánh Tử Đạo Việt Nam Trong Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo, Linh mục Vinh sơn Bùi Đức Sinh, trang 216-220). 

Nếu thập giá là biểu tượng của đau khổ thì Đấng chịu đóng đinh đã chiến thắng đau khổ. Chúa Kitô đã tạo ra sự khác biệt hoàn toàn giữa thập giá và kẻ bị đóng đinh. Khi nhận lấy thập giá, Chúa Kitô đã dùng tình yêu biến đau khổ thành niềm vui. Tình yêu làm cho thập giá trở thành Thánh Giá. 

Thánh Giá biểu tượng cho cuộc chiến đấu của Chúa Giêsu và cũng là biểu tượng cho tình yêu mạnh hơn sự chết và cho sự Thiện sẽ giành chiến thắng cuối cùng trên sự Ác.Thánh Giá là cánh cổng dẫn vào sự sống, thất bại chuyển thành chiến thắng, sự sống bị tước đoạt trở thành sự sống viên mãn. Ai đánh mất mạng sống mình sẽ tìm gặp lại sự sống. Ai can đảm chết cho Chúa Kitô sẽ được sống muôn đời. Thánh Giá là sự khôn ngoan và quyền năng của Thiên Chúa, bởi lẽ “Sự điên rồ nơi Thiên Chúa thì khôn ngoan hơn loài người, và sự yếu đuối nơi Thiên Chúa thì mạnh sức hơn loài người” (1Cr 1, 24 -25).Thánh Giá đã trở thành dấu chỉ của tình yêu hy vọng và sự sống. Thánh Phaolô có một ước muốn: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô” (Gl 6,14). 

Đức Cha Lambert de la Motte sáng lập Dòng Mến Thánh Giá. Đây là Hội Dòng chọn Đức Kitô chịu đóng đinh là đối tượng duy nhất của tình yêu của lòng trí. Không chọn cái gì nhẹ nhàng mà lại chọn Đấng chịu đóng đinh trên Thánh Giá. Chọn con đường theo Chúa là đi vào con đường hẹp. Một chọn lựa khôn ngoan vì đã chọn chính Đấng Cứu Độ. Thánh Giá là đỉnh cao ơn cứu độ. 

Thánh Giá đã in sâu và gắn chặt với Chúa Giêsu Kitô. Ngay cả sau khi Chúa sống lại vinh quang, các vết thương khổ nạn thập giá vẫn hiển hiện vẫn không bị xóa nhòa. Thánh Giá Chúa Kitô xuyên qua thời gian và hiện diện trong mỗi giây phút cuộc đời chúng ta. Sự hiện diện ấy làm thay đổi tất cả. 

Chúa Giêsu ở giữa nhân loại trong Bí tích Thánh Thể. Để trở nên nguồn sống tâm linh trong Thánh Thể, Chúa Giêsu đã đi qua Tử nạn và Thập giá.

Thánh Thể là Mình Chúa hy sinh bị nộp, bị giết vì chúng ta: “Đây là Mình Thầy hy sinh vì anh em”. Chén Máu của Chúa là Máu giao ước đổ ra, Máu của Đấng Cứu thế bị giết chết trên thập giá. Bởi đó Thánh Thể và Thánh Giá là hai mầu nhiệm của một tình yêu tự hiến của Chúa Kitô. Không có Thánh Giá, Thánh Thể không có ý nghĩa. Không có Thánh Thể, Thánh Giá chỉ là thất bại.Từ Thánh Giá đến Thánh Thể là hành trình của con đường tình yêu tự hiến. Thánh lễ là cử hành hy tế cứu độ của Chúa Giêsu từ mầu nhiệm Thánh Giá đến tình yêu Thánh Thể. 

Các Thánh Tử Đạo Việt Nam nhờ sức mạnh của Thánh Thể nên đã chọn Thánh Giá cách tuyệt đối và quyết liệt, dám liều mất cả mạng sống cho sự lựa chọn của mình. Các ngài thật khôn ngoan. Là con cháu của các Ngài, xin cho chúng con luôn khôn ngoan trong những chọn lựa của đời sống hàng ngày. Amen.

Về mục lục

.

LÀM CHỨNG CHO TÌNH YÊU

Lm. GB. Trần Văn Hào

Một lãnh tụ vô thần đã tuyên bố: “ Chúng ta hãy triệt phá Giáo hội, nhưng đừng tạo ra những vị tử đạo”. Khi tuyên bố như thế, một cách mặc nhiên ông ta công nhận điều mà Thánh giáo phụ Tertulianô đã nói là đúng :“ Máu các Thánh tử đạo là hạt giống nảy sinh các Kitô hữu” . Hôm nay, chúng ta mừng kính các Thánh Tử đạo tại Việt Nam. Máu các Ngài đã đổ ra năm xưa, dệt nên những trang sử oai hùng giữa lòng dân tộc. Chúng ta kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ cái chết của các bậc tiền bối cha ông và mở lòng đón nhận sứ điệp về ơn gọi tử đạo mà các Ngài chuyển giao cho con cháu là chúng ta ngày hôm nay.

Lược sử Giáo hội Việt Nam qua dòng thời gian

Hạt giống đức tin đã được gieo vào mảnh đất quê hương Việt Nam từ hơn 500 năm trước. Trong suốt chiều dài lịch sử, Giáo hội Việt Nam đã trải qua hơn 100 năm sống trong bách hại. Sắc dụ cấm đạo đầu tiên được ban hành năm 1625, kéo dài đến hết thời Văn Thân năm 1886. Hàng vạn con người đã ngã xuống do sự thù ghét. Thế gian ghét đạo, ghét Đức Giêsu và ghét luôn những môn đệ của Ngài. Đây chính là điều mà Chúa Giêsu đã cảnh báo từ 2000 năm trước (Mt 5, 11; 10, 22 ). Trong số các anh hùng Tử đạo, đã có 118 vị được ghi tên trong sổ bộ các thánh, gồm 117 Hiển thánh và một Chân phước. Có 97 vị là người Việt Nam, 11 vị Tây Ban Nha, và 10 vị người Pháp. Họ thuộc đủ các giai tầng xã hội, gồm 8 Giám mục, 50 linh mục, 15 thầy giảng, 1 chủng sinh và 44 giáo dân. Trong số giáo dân, có cả những vị làm quan trong triều đình, có vị làm nghề thu thuế, làm binh lính, y sĩ hoặc chỉ là nông dân quèn. Dù là người Việt Nam hay ngoại quốc, các Thánh Tử đạo đều nói lên một chứng từ duy nhất, đó là các Ngài làm chứng về Đức Giêsu chịu hiến tế, như Thánh Phaolô đã khẳng quyết: “ Chúng tôi rao giảng một Đức Kitô bị đóng đinh vào Thập giá”. Cái chết của các Ngài là bài giảng sống động nhất và thâm thúy nhất. Họ rao giảng không phải trên lý thuyết, nhưng bằng chứng tá cụ thể, những chứng tá sống động và rất sâu xa. Có 6 loại án được thực hiện để hành quyết các vị tử đạo: Bá đao (cắt thân thể thành trăm mảnh) có 1 vị;  Lăng trì (chặt chân tay, mổ bụng và vất xuống sông)  có 4 vị ; Thiêu sinh (đốt sống) có 6 vị;  Xử giảo (xiết cổ bằng dây) có 2 vị ; Xử trảm (chém đầu) có 75 vị và chết rũ tù có 9 vị. Vị Tử đạo lớn tuổi nhất là linh mục Vũ Bá Loan 84 tuổi và trẻ nhất là chủng sinh Tôma Thiện 18 tuổi. Trong thời Trịnh Nguyễn  từ năm 1745 đến năm 1774 có 4 vị. Thời vua Cảnh Thịnh (1788 – 1801 ) có 2 vị. Dưới thời Minh mạng (1820 – 1840) có 58 vị tử đạo. Trong thời Thiệu Trị từ năm 1841 đến 1847 có 3 vị và thời Tự Đức  từ năm 1847 đến 1883 có 50 vị. Đó là phác lược tổng quát các mốc điểm thời gian và bối cảnh dẫn đến cái chết của các Thánh Tử đạo. Nhìn lại một cách thoáng chung lịch sử của Giáo hội Việt Nam, chúng ta tạ ơn Chúa vì gia sản đức tin mà cha ông đã để lại. Gia sản đó được đan dệt bằng máu và nước mắt, đúng như lời quả quyết của thánh Tertulianô: “ Máu các vị tử đạo là hạt giống nảy sinh các Kitô hữu.”(Sanguis Martyrorum semens Christianorum est)

Ý nghĩa của việc tử đạo

Triết gia Jean Guitton, bạn thân của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô đệ nhị có kể lại một giai thoại. Hồi còn rất nhỏ, ban đêm ông ngủ với mẹ. Nhà hàng xóm bên cạnh có người chết. Giữa đêm khuya vắng bỗng có tiếng khóc ai oán vang lên nghe thật não nuột. Đứa bé sợ, ôm chầm lấy mẹ và hỏi: “ Mẹ ơi, chết là gì hả mẹ?” Bà mẹ trẻ lúng túng không biết trả lời thằng bé thế nào. Bà ngồi bật dậy mở Kinh thánh ra đọc. Trong Tin mừng Gioan, bà đọc thấy đoạn sau: “ Trước lễ vượt qua, Đức Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng (Ga 13,1)”. Gấp sách lại, bà nói với đứa con: “Con ơi, chết là trở về với Chúa Cha và yêu thương đến cùng. Đây là hai chiều kích đặc thù nơi cái chết của Đức Giêsu, vị tử đạo đầu tiên, và cũng được lập lại nơi cái chết của các Thánh tử đạo tại Việt nam. Các Ngài đã chết để trở về nhà Cha và hoàn tất cuộc hành trình yêu thương của mình nơi trần thế. Họ ý thức Lời Chúa dạy: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin mừng thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Nếu được lời lãi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn, nào có ích gì?” (Mc 8, 35-36)” . Thánh Phaolô Đạm nói trước tòa án Nam Định: “ Nếu tôi có hai linh hồn, tôi sẽ bán một cái cho ma quỷ để cho các ông vui lòng, nhưng tiếc quá tôi chỉ có một linh hồn, nên tôi không thể bỏ mất”.

Nhưng trên hết, hành vi Tử đạo luôn hàm ngậm ý nghĩa của việc làm chứng. Hạn từ Marturion theo nguyên ngữ Hi Lạp cũng mang chở ý nghĩa này. Các Ngài chết để làm chứng, nhưng không phải làm chứng cho một chế độ, một chủ nghĩa, mà là làm chứng cho một con người. Con người đó chính là Đức Giêsu, một Thiên Chúa làm người đã can đảm đón nhận cái chết khủng khiếp giống một tên cướp, để khai mở cho chúng ta chân trời ơn cứu độ. Các Thánh Tử đạo đã dùng máu của mình để làm chứng cho Đấng mà các Ngài tin theo.

Sống ơn gọi tử đạo ngày hôm nay.

Trong đại hội tu sĩ trẻ thế giới tổ chức tại Rôma đầu tháng Chín năm 2015. Ban tổ chức đã dành một tiếng đồng hồ để các tu sĩ đặt câu hỏi và Đức Thánh Cha trực tiếp trả lời. Có một anh em tu sĩ dòng DonBosco đến từ Syria đứng lên phát biểu và hỏi Ngài vài điều. Đức Thánh Cha sau khi trả lời đã hỏi ngược lại: “Con từ đâu đến đây ?”. Vị tu sĩ trẻ nói là Ngài đến từ Syria. Đức Thánh Cha mở to đôi mắt nhìn vị linh mục và nói với cử tọa: “Chúng con hãy cầu nguyện cho các vị tử đạo hiện nay tại Iraq và Syria”. Cả hội trường xúc động vì tình hình chiến sự đang xảy ra rất khốc liệt tại Trung Đông, khiến bao nhiêu Kitô hữu bị giết, nhiều gia đình ly tán, các nhà thờ bị đốt phá, cả trăm ngàn người dân vô tội phải trốn tránh hoặc đi tị nạn.

Như vậy, ngày hôm nay vẫn còn các vị tử đạo, những con người bị thù ghét vì lý tưởng và niềm tin của mình. Nhưng hiểu theo nghĩa rộng hơn, sống mầu nhiệm tử đạo không phải là chuyện viễn tưởng xa vời. Đó chính là bản chất ơn gọi gắn liền với căn tính Kitô hữu chúng ta. Chúa Giêsu đã nói “ Ai muốn theo tôi phải bỏ mình vác thập giá hằng ngày mà theo tôi”(Mc 8,34).

Hầu hết các quốc gia trên thế giới ngày nay đã bãi bỏ án tử hình, và cũng tôn trọng tự do tôn giáo, ít nhất là trên lý thuyết. Việc đàn áp tôn giáo với những màn tra tấn, tống ngục hay giết chết đang dần bị con người ngày hôm nay đào thải, vì nó đi ngược với khái niệm về nhân quyền mà xã hội luôn đề cao. Tuy nhiên lời mời gọi của Đức Giêsu đi vào mầu nhiệm tự hủy để sống ơn gọi tử đạo vẫn luôn mang tính thời sự cho tất cả mọi người thuộc mọi thời đại, vì nó là thuộc tính nơi cuộc sống của những học trò Đức Giêsu. Ơn gọi Kitô hữu luôn hàm ngậm cái chết. Cái chết trên Thập giá theo gương Đức Giêsu là đích điểm mà tất cả mọi người chúng ta phải vươn tới. Văn hào Goethe đã viết: “ Làm một việc hy sinh to lớn trong khoảnh khắc thì dễ, chỉ cần chút can đảm nhất thời, nhưng thể hiện những hy sinh nho nhỏ và liên tục trong suốt cuộc đời thì khó hơn nhiều”. Đó là cái chết tiệm tiến, từ từ trong cuộc sống đức tin để sao chép lại chính cái chết của Đức Giêsu. Mô thức ơn gọi tử đạo của tất cả chúng ta hôm nay là như thế. Chúng ta phải đi sâu vào cái chết không đổ máu, không  xích xiềng hay tù ngục qua cuộc sống hằng ngày và một cuộc sống như vậy chính là để làm chứng cho tình yêu.

Kết luận

Để kết luận, xin trích mượn tư tưởng của thánh Charles de Faucauld. Ngài nói: “ Ở đời này chúng ta chỉ có thể ôm lấy Chúa Giêsu bằng cách ôm trọn Thập giá của Ngài. Ta không thể yêu mến Thập giá mà lại không có Chúa Giêsu bị đóng đinh nằm ở trên. Đồng thời chúng ta cũng không thể ôm lấy Chúa Giêsu mà lại vắng bóng Thập giá”. Hoa hồng là biểu tượng của tình yêu. Cánh hoa hồng càng rực rỡ càng có nhiều gai nhọn ẩn sâu bên dưới. Cũng vậy tình yêu đến thật nhiều xuyên qua đau khổ. Con đường đau khổ dẫn đến Thập giá, chính là con đường của ơn gọi tử đạo, con đường của tình yêu. Cũng như thánh Têrêsa hài đồng Giêsu đã viết: “Sống bằng tình yêu không phải là định cư mãi với Chúa Giêsu trên đỉnh núi Tabor giữa những vinh quang sáng chói, nhưng là còn phải trèo lên đỉnh Calvê để ôm nhận Thập giá như một kho tàng”. Sống ơn gọi tử đạo là như thế.

Về mục lục

.

DANH NGHĨA

Trm Thiên Thu

Hằng ngày rất nhiều lần chúng ta làm Dấu Thánh Giá trước khi làm một việc gì đó: Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Đó là cách chúng ta hành động với danh nghĩa của Thiên Chúa Ba Ngôi. Làm bất cứ việc gì, dù lớn hay nhỏ, quan trọng hoặc bình thường, chúng ta đều nhân danh Thiên Chúa – từ khởi sự cho đến hoàn thành.

Thánh Phaolô đã khuyên nhủ chúng ta: “Trong mi hoàn cnh và mi s, hãy nhân danh Đc Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mà cm t Thiên Chúa là Cha (Ep 5:20). Mỗi khi nhân danh Thiên Chúa để làm việc gì, chúng ta phải chân thành, không được giả hình, kẻo mà hóa khốn nạn!

Trong cuộc sống, có những người hành động nhân danh điều tốt lành, thiện hảo; nhưng cũng có những người hành động nhân danh điều xấu xa, độc ác. Ngày xưa, nhóm Pharisêu cũng đã từng dám lấy danh nghĩa của luật Mô-sê mà hành động ngang ngược theo ý họ, và họ đã bị Chúa Giêsu có những lời chê trách nặng nề nhất: “Khn cho các người! (Mt 23:13-32).

Ngày xưa, Đức Chúa các đạo binh tuyên phán: “Vì này Ngày y đến, đt cháy như ho lò. Mi k kiêu ngo và mi k làm điu gian ác s như rơm r. Ngày y đến s thiêu ri chúng không còn cha li cho chúng mt r hay cành nào. Nhưng đi vi các ngươi là nhng k kính s Danh Ta, mt tri công chính s mc lên, mang theo các tia sáng cha lành bnh. Các ngươi s đi ra và nhy chm lên như bê xng chung (Ml 3:19-20).

Hai câu ngắn gọn nhưng vẫn chuyển tải nhiều vấn đề, như một bộ phim dài với nhiều vai diễn khác nhau. Đề tài Thiện – Ác vẫn là vấn đề muôn thuở, từ xưa tới nay, và kéo dài đến tận thế. Ai làm điều tốt sẽ được khen thưởng, ai làm điều xấu sẽ bị trừng phạt. Đó là điều tất yếu.

Thiên Chúa là Đấng nhân lành, chúng ta là đoàn dân của Ngài thì cũng phải thực hành những điều tốt lành, không thể làm khác hoặc trái ngược. Mang danh Kitô hữu là mang danh con cái của Thiên Chúa, đó là niềm hạnh phúc vô cùng lớn lao, niềm vui sướng khôn tả, tác giả Thánh Vịnh mời gọi chúng ta thể hiện niềm vui mừng đó một cách cụ thể: “Đàn lên mng Chúa khúc hc cm dìu dt, nương khúc hc cm réo rt ging ca. Kèn thi vang xen tiếng tù và, tung hô mng Chúa, v Quân Vương! (Tv 98:5-6).

Không là con người, nhưng muôn loài khác cũng là thụ tạo của Thiên Chúa, tác giả Thánh Vịnh cũng mời gọi chúng thể hiện niềm vui được hiện hữu trên cõi đời này: “Gm vang lên, hi bin c cùng muôn hi vt, đa cu vi toàn th dân cư! Sông lch ơi, v tay đi nào, đi núi hi, reo mng trước tôn nhan Chúa. Vì Người ng đến xét x trn gian, Người xét x đa cu theo đường công chính, xét x muôn dân theo l công bình (Tv 98:7-9).

Có một dạng nhân danh khác là dạng đại diện. Các ngôn sứ là những người đại diện Thiên Chúa khi truyền lại các huấn lệnh của Ngài cho dân chúng biết. Các sứ thần tòa thánh là những người đại diện đức giáo hoàng trong thời gian họ hoạt động ở một quốc gia nào đó. Đơn giản nhất, con cái có thể đại diện cha mẹ khi tham dự một buổi họp, một bữa tiệc, một buổi lễ, đám tang, đám giỗ, đám cưới,…

Cuộc sống luôn phức tạp, trong khi con người lại quá yếu đuối. Vì thế, những tấm gương tốt lành và sống động luôn cần thiết để làm động lực thúc đẩy. Thánh Phaolô nói: “Chính anh em tha biết là anh em phi bt chước chúng tôi thế nào. Khi gia anh em, chúng tôi đã không sng vô k lut. Chúng tôi đã chng ăn bám ai, trái li đêm ngày đã làm lng khó nhc vt v, đ khi nên gánh nng cho người nào trong anh em. Không phi là vì chúng tôi không có quyn hưởng s giúp đ, nhưng là đ nêu gương cho anh em bt chước (2 Tx 3:7-9).

Một cách rõ ràng hơn, Thánh Phaolô đã nhân danh Thiên Chúa khi nói với giáo đoàn: “Tht vy, khi còn vi anh em, chúng tôi đã ch th cho anh em: ai không chu làm thì cũng đng ăn! Thế mà chúng tôi nghe nói: trong anh em có mt s người sng vô k lut, chng làm vic gì, mà vic gì cũng xen vào. Nhân danh Chúa Giêsu Kitô, chúng tôi truyn dy và khuyên nh nhng người y hãy yên mà làm vic, đ có ca nuôi thân (2 Tx 3:10-12).

Đời này có liên quan đời sau. Những việc bình thường ở đời này vẫn khả dĩ có giá trị nếu biết kết hợp với Đức Giêsu Kitô. Giữa cuộc sống nhiêu khê, chúng ta luôn phải tỉnh thức khi nhân danh chính mình, như Chúa Giêsu đã từng khuyến cáo: “Anh em hãy canh thc, vì anh em không biết ngày nào Chúa ca anh em đến. Anh em hãy sn sàng, vì chính gi phút anh em không ng thì Con Người s đến (Mt 24:42 và 44).

Trình thuật Lc 21:5-19 là bài giảng về sự sụp đổ của thành Giêrusalem. Thánh Luca cho biết rằng, nhân có mấy người nói về Đền Thờ được trang hoàng bằng những viên đá đẹp và những đồ dâng cúng, Đức Giêsu bảo: “Nhng gì anh em đang chiêm ngưỡng đó s có ngày b tàn phá hết, không còn tng đá nào trên tng đá nào. Họ hỏi Người: “Thưa Thy, vy bao gi các s vic đó s xy ra, và khi sp xy ra, có đim gì báo trước?.

Đức Giêsu đáp: “Anh em hãy coi chng ko b la gt, vì s có nhiu người mo danh Thy đến nói rng Chính ta đây và Thi k đã đến gn, anh em ch có theo h. Khi anh em nghe có chiến tranh, lon lc, thì đng s hãi. Vì nhng vic đó phi xy ra trước, nhưng chưa phi là chung cc ngay đâu. Điều tiên báo của Chúa Giêsu đã ứng nghiệm. Thật vậy, ngày nay chúng ta đã và đang thấy có nhiều tiên tri giả xuất hiện ở chỗ kia hoặc nơi nọ, và cũng có những người nhẹ dạ tin theo những kẻ “mạo danh” của Đức Kitô.

Ma quỷ rất khôn khéo, tinh ranh, thế nên nó cũng có những cách dụ rất tinh vi. Chúng ta không khó nhận biết cách cám dỗ của nó khi nó lôi kéo chúng ta xa cách Đức Kitô, nhưng lại rất khó nhận biết khi nó dụ chúng ta làm những việc tốt chỉ vì tiếng khen. Khi đó, người ta càng ngày càng ảo tưởng và tự mãn, thế là chúng ta sập bẫy của nó. Kiêu ngạo như một que diêm nhỏ, nhưng nó có thể thiêu rụi cả một cánh rừng rộng lớn!

Đức Giêsu nói tiếp: “Dân này s ni dy chng dân kia, nước này chng nước n. S có nhng trn đng đt ln, và nhiu nơi s có ôn dch và đói kém; s có nhng hin tượng kinh khng và đim l ln lao t tri xut hin. Chúng ta cũng đã thấy có những điều tương tự như vậy, ngay Việt Nam của chúng ta chứ chẳng ở đâu xa.

Và Đức Giêsu cho biết những điều xảy ra trước, giống như “cơn chuyển dạ” của thai phụ trước khi khai hoa nở nhụy: “Trước khi tt c các s y xy ra thì người ta s tra tay bt và ngược đãi anh em, np anh em cho các hi đường và b tù, điu anh em đến trước mt vua chúa quan quyn vì danh Thy. Đó s là cơ hi đ anh em làm chng cho Thy. Vy anh em hãy ghi lòng tc d điu này, là anh em đng lo nghĩ phi bào cha cách nào. Vì chính Thy s cho anh em ăn nói tht khôn ngoan, khiến tt c đch th ca anh em không tài nào chng chi hay cãi li được. Anh em s b chính cha m, anh ch em, bà con và bn hu bt np. H s giết mt s người trong anh em. Vì danh Thy, anh em s b mi người thù ghét. Nhưng dù mt si tóc trên đu anh em cũng không b mt đâu. Có kiên trì, anh em mi gi được mng sng mình. Hãy ghi nhớ những điều Chúa Giêsu cho biết và không ngừng suy niệm, đừng nhẹ dạ cả tin mà mắc mưu thâm kế độc của ma quỷ!

Thật vậy, Thánh Phêrô đã cảnh báo: “Anh em hãy sng tiết đ và tnh thc, vì ma qu, thù đch ca anh em, như sư t gm thét, ro quanh tìm mi cn xé” (1 Pr 5:8). Ma quỷ như sư tử đói, nó rình mò suốt ngày thâu đêm, 24 giờ trong 7 ngày (24/7), lơ là một chút là “chết” với nó ngay thôi!

Phàm nhân chúng ta là sinh vật cao cấp, nhưng cũng nhiêu khê và yếu đuối lắm. Hãy nhân danh chính mình và cố gắng thực hiện mấy điều này: Lắng Nghe trước khi Trả Lời, Suy Nghĩ trước khi Hành Động, Đồng Cảm trước khi Chê Trách, Tha Thứ trước khi Cầu Nguyện. Và nếu chưa thành công, hãy cố gắng làm thêm điều này: Thử Làm Lại trước khi Bỏ Cuộc.

Hãy tín thác vào Thiên Chúa, bởi vì “chẳng ai trông cậy Chúa, mà lại phải nhục nhằn tủi hổ, chỉ người nào tự dưng phản phúc mới nhục nhằn tủi hổ mà thôi” (Tv 25:3). Và dù có thế nào thì cũng đừng quên thú nhận: “Ly Chúa, ti con tht nng n, vì danh Ngài, xin lượng th cho con (Tv 25:11).

Nước càng sâu thì càng chảy chậm, người càng trí tuệ thì tâm càng tĩnh. Động – tĩnh, nhanh – chậm, đó là lý lẽ của sự tương sinh tương khắc. Cái gì “động” và “nhanh” thì mau qua, cái gì “tĩnh” và “chậm” thì bền lâu. Phàm nhân chẳng có gì mà tự hào, nhưng chúng ta có quyền “tự hào vì Danh Thánh Chúa” (Tv 105:3), và chính nhờ Danh Thánh Ngài mà chúng ta được sống.

Ly Thiên Chúa, xin giúp con biết nhân danh Ngài mà làm mi th, vì công ích ch không vì tư li. Xin giúp con sng chm, sng sâu, và xin đng b mc con cun theo dòng đi vi vã. Xin Chúa thương xót các linh hn, đi xá cho h v hưởng Tôn Nhan Ngài. Xin Chúa nâng đ nhng người chu hu qu ca lũ lt min Trung. Con cu xin nhân danh Thánh T Giêsu, Đng cu đ nhân loi. Amen.

Về mục lục

.

CHÚA CHÍNH LÀ LẼ SỐNG,

NGUỒN ƠN CỨU ĐỘ CỦA CHÚNG CON

P.Trần Đình Phan Tiến 

Vâng, kính thưa quý vị, đứng trước đau khổ và cái chết, theo bản năng tự nhiên, ai mà không sợ hãi. Như, chúng ta đã biết, bản tính làm Người tức Nhân Tính của Đấng Cứu Thế cũng phải đau buồn sầu não, khi nghĩ đến cực hình Người phải chịu, phương chi là nhân thế. 

Các thánh Tử Đạo cũng không loại trừ, các ngài cũng không phải mình đồng ,da sắt, hay gỗ đá. Mà các ngài cũng có xương thịt, hình hài, vì vậy, sự đau đớn thể xác là điều tất yếu. Vậy, còn lại là động cơ nào giúp cho các ngài  được trung kiên chịu đựng. Thưa, đó là : “ Chúa chính là lẽ sống, là nguồn ơn cứu độ”. 

Vâng, đọc hạnh các thánh Tử Đạo, chúng ta thật kinh khiếp bởi những “hình phạt” luật hình trần gian mà các ngài phải chịu để làm chứng cho Tin Mừng Nước Trời. Mỗi vị thánh Tử Đạo là một trang sử oai hung, vì mỗ người, mỗi vẻ, mười phân vẹn mười, chứ không ai giống ai. Nhưng, có một điểm chung đó là: Chúa thử các ngài như thử vàng trong lửa. Và động cơ chính là : CHÚA CHÍNH LÀ LẼ SỐNG. 

Vâng, các ngài đã đặt trọn niềm tin vào chân lý đó. Vâng, Chúa chính là lẽ sống, vì vậy, còn gì nữa mà chúng ta sợ chết. Vâng, “ Lẽ Sống” mà các ngài nhận ra, hoặc nhận được nơi Thiên Chúa là Đấng Hằng Sống, thì mặc nhiên, các ngài sẵn sàng đánh đổi. Bởi vì, những người ra lệnh cướp đi mạng sống của các ngài, thì họ cũng chết. Còn cái chết của các ngài đã được đổi lấy bởi “lẽ sống” của Thiên Chúa ,thì quả thật các ngài lời to.

Vâng, Tử Đạo, có nghĩa là chết vì Đạo, mặc nhiên, các ngài phải cảm nghiệm, phải đón nhận được : Chúa là lẽ sống, thì các ngài mới đánh đổi. Vâng, “lẽ sống” ấy là lẽ sống muôn đời. Lẽ, có nghĩa là : Chân lý. Tức sự sống thật. 

Rõ ràng, các thánh Tử Đạo là những người biết “đổi lấy” sự sống tạm” để nhận lấy “sự sống thật”. vậy, sự sống thật, há chẳng phải là” sự sống vĩnh cửu sao ?! Mà, như trong trang Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, Chúa Giêsu dẫn chứng Đền Thờ vật chất , dù có trang hoàng lộng lẫy đến mấy, rồi cũng có ngày sụp đổ. ( Lc 21, 5-6), đó là Đền Thờ Giêrusalem dưới đất. 

Theo đó, các thánh Tử Đạo là những người đã đánh đổi” cuộc sống tạm”, để lấy “ sự sống vĩnh cửu”, mà vua quan trần thế không thể hiểu được. 

Vậy, nên chi, cuộc đời Tử Đao của các ngài là đem cái chết tạm thơi nơi thân xác, để đổi lấy sự vinh quang nơi cuộc sống vĩnh hằng. 

Vì cái chết nơi thân xác, ai cũng phải trải qua, nhưng, để đổi lấy sự sống vĩnh cửu là chính Thiên Chúa thì không phải ai cũng có và cũng làm được.

Trở lại Lời Chúa hôm nay, chúng ta thấy, Chúa Giêsu đã khai triển cho các Tông Đồ biết được ngày tận thế. Ngày tận thế là ngày chắc chắn phải xảy đến, bởi vì chính Chúa Giêsu đã mặc khải cho chúng ta. Hình ảnh Đền Thờ vật thể Giêrusalem sẽ bị tàn phá, dù lộng lẫy huy hoàng. 

Vậy , ý nghĩa thứ nhất của Lời Chúa hôm nay là : ( Lc 21 , 5-19) 

–          Xây dựng đền thờ tâm hồn mỗi người. 

Bằng cách nào, mặc nhiên phải có Chúa Thánh Thần, xây dựng đền thờ tâm hồn phải cần đến Chúa Thánh Thần, Đấng là Thợ Xây tài giỏi nhất. 

Ý nghĩa thứ hai những điềm báo trước, trong đó có việc mạo Danh Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế. Về ý nghĩa nầy, chúng ta thấy chính Chúa giêsu đã xây dựng cho chúng ta một phương pháp , đó là CHÚA THÁNH THẦN . Nếu có Chúa Thánh Thần cùng hoạt động, chắn chắn chúng ta không thể bị lừa gạt. Ngày nay, chúng ta thấy, Lời tiên báo của Đấng Cứu Thế đang diễn tiến, vì tất cả mọi thứ đều có thể làm gỉa được. Từ thức ăn, gạo , trứng tất cả đều có thể làm giả. Linh mục giả, tu sĩ giả, linh mục thật cũng lao vào kiếm tiền bất chính. Đó là dấu hiệu không c1o Chúa Thánh Thần, xuất hiện tiên tri giả. Cùng với những cái giả, thì có những điềm trời, như thiên tai, hạn hán, bão lụt, những nhân tai do con người tạo ra. 

Chiến tranh có nguy cơ bùng nổ, chúng ta thấy Lời Chúa Giêsu cảnh báo đang diễn tiến trước mặt một cách cận cảnh không thể phủ nhận. Tai họa do con người và thiên tai cũng đang hoành hành. Những sự bất công, tham vọng độc ác của nhân loại đang diễn ra và sát hại lẫn nhau. 

Thứ đến, trước khi Đại Họa xảy đến, thì họ bắt đầu ngược đãi những người rao giảng Tin Mừng. Chúng ta thấy, thời kỳ sơ khai của giáo hội Công giáo là hơn ba trăm năm bị bách hại. Từ những hạng “TOẠI ĐẠO” dưới hầm đất, đến những vị thánh Tử Đạo đương thời khắp nơi trên thế giới , đủ mọi thành phần. Trong đó, có Nước Việt Nam thân yêu của chúng ta. 

Vâng, các thánh Tử Đao tại Việt Nam, trong đó có rất nhiều Thừa Sai ngoại quốc. Từ hàng Giám mục đến thầy giảng. Sau đó, là những vị bản xứ rất anh dũng kiên cường để xây dựng Hội Thánh Việt Nam. Vì thế, con cháu ngày nay đang lãnh nhận Hồng Ân Đức Tin, mặc nhiên phải tri ân các ngài. 

Tiếp đến, Chúa Giêsu nói và giáo huấn những ai bước theo Người , đừng lo lắng những sự việc ấy xảy ra. Sẽ có Thánh Thần ban cho ơn khôn ngoan. Tức ơn thong hiểu, để chúng at biết đối phó, mặc nhiên là trong ơn khôn ngoan. 

Và câu 17, : “ Vì Danh Thầy, anh em sẽ bị người đời thù ghét. “ Vâng, đây có thể nói là điều kiện gạn đục , khơi trong . Vì , nếu thế gian yêu mến những gì thuộc về nó, thì, Thiên Quốc sẽ yêu thương những ai thuộc về Thiên Chúa.“ Cũng vậy, Chúa Giêsu nhắc nhở và an ủi chúng ta trong những lúc nguy khốn  rằng : ” Nhưng, dù một sợi tóc trên đầu anh em sẽ không mất đâu” ( c 18). Qủa vậy, Người nói tiếp : “Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình .” ( c 19). Vâng, mang sống ở đây, chính là sự sống đời đời, vì nếu chúng ta không BỀN CHÍ, thì chúng ta sẽ không trung tín với ơn cứu độ. 

Như vậy, Lời Chúa hôm nay ( Lc 21 , 5 -19), Chúa Giêsu đã dẫn giải cho người môn đệ, sự trung tín, sự tiên đoán những biến cố của thế gian, khi trời mới, đất mới sẽ đến. Có teh63 nói là đoạn Tin Mừng chi tiết về những sự bách hại, tinh thần và thể xác của những người môn đệ Đức Kitô, từ năm xưa qua đến muôn thế hệ. Rõ ràng, chúng ta thấy hình ảnh, quang cảnh satan đang xin Thiên Chúa để nó sàng xảy chúng ta. Nhưng, chính Chúa Giêsu đã xin với Chúa Cha không cho điều ấy xảy ra quá mức theo đề nghị của satan. 

Chúng ta thấy: “ CHÚA LÀ  LẼ SỐNG, LÀ NGUỒN CỨU ĐỘ, TA SỢ CHI AI . “ Qủa thật chính xác. 

Vâng, với tinh thần đó, các thánh Tử Đao tại Việt Nam đã anh dũng trung kiên, một cách vẻ vang, để ngày nay trên Thiên Quốc, các ngài đang dõi theo mà cầu bàu cho chúng ta vượt qua.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa chính là Nguồn Ơn Cứu Độ, đồng thời là lẽ sống cho tất cả mọi người bước theo Chúa, trong đó có các thánh Tử Đao tại Việt Nam hôm nay. Xin cho mọi người biết vững tin và trung tín đến cùng như Lời Chúa dạy, hầu noi gương Chúa, như các thánh Tử Đao tại Việt Nam đã noi gương, hầu đến được bến bờ Cứu Độ là chính Chúa ./. Amen.

Về mục lục

.

NGÀY CỦA CHÚA

JM. Lam Thy

Đọc câu mở đầu bài đọc 1 (CN XXXIII – Ml 3, 19-20): “Vì này Ngày ấy đến, đốt cháy như hoả lò. Mọi kẻ kiêu ngạo và mọi kẻ làm điều gian ác sẽ như rơm rạ”, không hiểu “Ngày ấy” là ngày gì? Để rõ hơn, đọc ngược lên chương 2 thấy tiêu đề: “Ngày của Đức Chúa” (Ml 2, 17; 3, 1-5); tiếp theo là tiêu đề: “Người công chính khải hoàn trong ngày Đức Chúa” (Ml 3, 13-21). Như vậy ngày ấy chính là “Ngày của Đức Chúa: Này Ta sai sứ giả của Ta đến dọn đường trước mặt Ta. Và bỗng nhiên Chúa Thượng mà các ngươi tìm kiếm, đi vào Thánh Điện của Người. Kìa, vị sứ giả của giao ước mà các ngươi đợi trông đang đến, – ĐỨC CHÚA các đạo binh phán. Ai chịu nổi ngày Người đến? Ai đứng được khi Người xuất hiện? Quả thật, Người như lửa của thợ luyện kim, như thuốc tẩy của thợ giặt. Người sẽ ngồi để luyện kim tẩy bạc; Người sẽ thanh tẩy con cái Lê-vi và tinh luyện chúng như vàng, như bạc… Này Ta sai ngôn sứ Ê-li-a đến với các ngươi, trước khi Ngày của ĐỨC CHÚA đến, ngày trọng đại và kinh hoàng.” (Ml 3, 1-23). 

Những đoạn Kinh Thánh Cựu Ước nhắc đến ngày của Chúa thường nói về những ứng nghiệm sẽ xảy ra cả trong tương lai gần và xa, giống như các lời tiên tri vậy. Về tương lai gần thì các ngôn sứ thường coi đó như là “Ngày Đức Chúa viếng thăm cứu độ dân Người” và nếu có sự đoán phạt thì đó chỉ là những sự kiện đã thực sự ứng nghiệm một phần trong lịch sử của Ít-ra-en, chẳng hạn: “Hãy rên siết, vì ngày của ĐỨC CHÚA đã gần kề” (Ed 13, 6); “Thật vậy, ĐỨC CHÚA sẽ chạnh thương Gia-cóp và sẽ lại chọn Ít-ra-en, Người sẽ cho họ định cư trên đất của họ. Người ngoại bang sẽ gắn bó với họ và sẽ kết nghĩa với nhà Gia-cóp.” (Ed 14, 1. – xc thêm: Is 10, 27; 13, 6-22; Ed 30, 2-19; Ge 1, 15, 3, 14; Am 5, 18-20; Xp 1, 14-18; Gr 30, 19-31.40; Dcr 14, 1-5). Trong khi đó, một số sách Kinh Thánh khác lại nói về sự đoán phạt của Thiên Chúa sẽ xảy ra vào thời kỳ cuối cùng (Ge 2, 30-32; Dcr 14, 1; Ml 3, 1-3). Kết qủa chung cuộc sẽ là “ĐỨC CHÚA các đạo binh đã dành sẵn một ngày để trị tất cả những gì kiêu căng ngạo nghễ, trị tất cả những gì tự cao tự đại: chúng sẽ bị hạ xuống, bị khuất phục. Trong ngày đó, chỉ một mình ĐỨC CHÚA được suy tôn.” (Is 2, 11-17). 

Có nhiều ngày trong lịch sử dân Chúa đã thực hiện quan niệm Ngày của Chúa. Nhưng tất cả những ngày cứu độ ấy cuối cùng chỉ là hình bóng báo trước ngày Thiên Chúa cứu độ trong Ðức Giê-su Ki-tô. Sự ứng nghiệm tối thượng và cuối cùng của các lời tiên tri nói về ngày của Chúa sẽ đến vào những ngày cuối của lịch sử con người khi Đức Chúa trừng phạt sự ác và hoàn thành các lời hứa của Người. Điều Cựu Ước viết về ngày của Thiên Chúa đoán phạt được coi như là những mạc khải đầu tiên và xa xôi nhất về ngày trở lại của Ðức Giê-su, cũng còn được gọi là ngày cánh chung, ngày tận thế. Khi nào Ðức Ki-tô trở lại thì sẽ có cuộc chung thẩm vì không còn có tạo vật mới nữa, nhưng tất cả đều nhìn thấy vinh quang của Người mà phân ra làm hai: hoặc đi vào luận phạt của “hỏa ngục” hoặc đi vào “thiên đàng” là nơi sáng láng rực rỡ. Do đó, lời sách Ma-la-khi và những lời tiên tri khác về “Ngày của Thiên Chúa” cuối cùng vẫn áp dụng được cho Ngày Ðức Ki-tô trở lại phán xét kẻ lành, người dữ. 

Đó là Cựu Ước, sang đến Tân Ước thì chỉ có 3 sách Kinh Thánh nói cụ thể là “ngày của Thiên Chúa” (Cv 2, 20; 2Tx 2, 2; 2 Pr 3:10); còn lại thì hầu hết các sách đều có nói đến ngày cuối cùng của lịch sử loài người và gọi là ngày Chúa quang lâm, ngày chung thẩm, ngày cánh chung, ngày sau hết theo nghĩa “ngày tận thế” (Mt 13, 39-40.49; 24, 1-3; 28, 20; Mc 13, 1-4; Lc 21, 5-7; Ga 6, 39-40.44; 11, 24; 12, 48; 2Tx 1, 1; 2Tm 3, 1; Gc 5, 3; 2Pr 3, 3; Kh 6, 17; 16, 14). Tựu trung, các tác giả đã dùng hình ảnh của Cựu Ước và văn chương Khải huyền thời bấy giờ về Ngày của Thiên Chúa để diễn tả ngày tận thế và chung thẩm. Có thể nói các tác giả Tân Ước không có ý kiến mới và hình ảnh mới. Vẫn là cảnh trời long đất lở, cảnh lửa cháy phừng phừng, trừng phạt kẻ dữ, thưởng công người lành. 

Cũng có ý kiến cho rằng “ngày của Chúa” là ngày Chủ nhật (còn gọi là Chúa nhật). Nếu chỉ căn cứ vào tiếng Việt thì đúng là như vậy (theo từ nguyên thì Chủ nhật  主 日 là Ngày của Chúa, ngày cuối tuần); nhưng vì đây là từ Hán Nôm được dùng để dịch từ Sa-bát trong Thánh Kinh (Cổ ngữ Hê-bơ-rơ viết là “Shabbath”: ngưng, nghỉ; Cổ ngữ Hy-lạp viết là “sabbath”: yên nghỉ), nên phải hiểu ngày Sa-bát kỷ niệm ngày nghỉ ngơi của Thiên Chúa sau khi Người đã hoàn tất sự Sáng tạo vũ trụ và con người. Đó là dấu hiệu về giao ước giữa Thiên Chúa với dân của Người. Sách Sáng Thế Ký trình thuật Thiên Chúa đã sáng tạo trời đất trong sáu ngày, “Ngày thứ bảy, Thiên Chúa hoàn thành các công việc Người làm, và ngày thứ bảy Thiên Chúa nghỉ ngơi. Rồi Người ban phúc lành cho ngày thứ bảy, và thánh hoá ngày đó.” (St 2, 2–3), nên Giáo hội gọi đó là “ngày thánh”. Về sau, ngày Sa-bát cũng là dịp tưởng niệm Ngày Phục Sinh của Chúa Giê-su Ki-tô. Như vậy, ngày Sa-bát là ngày thứ bảy, ngày cuối tuần, được Thiên Chúa quy định cho con người nghỉ ngơi các công việc lao nhọc hàng ngày của minh, đồng thời cử hành những nghi thức tôn thờ Thiên Chúa. Ấy cũng bởi vì: “Con Người làm chủ ngày sa-bát.” (Lc 6, 5; Mt 12, 8, Mc 2, 28). Bài viết này, xin chỉ suy niệm “Ngày của Chúa” theo nghĩa “ngày chung thẩm, ngày tận thế”. 

Bài đọc 2 hôm nay trích Thư của Thánh Phao-lô gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca (CN XXXIII/TN-C – 2Tx 3, 7-12) cũng nhắc đến Ngày của Chúa với tên gọi “Cơn sốt quang lâm”. Mới đọc tiêu đề “Đề phòng lối sống vô kỷ luật: cơn sốt quang lâm!”, nảy sinh thắc mắc, không hiểu ngày Chúa quang lâm tại sao thánh nhân lại gọi là “cơn sốt quang lâm”? Đọc hết cả chương 3 của thư cũng không thấy thánh Phao-lô nói rõ. Phải đọc ngược lên chương 2 mới hiểu được tại sao thánh nhân lại đặt tiêu đề như vậy. Thánh Phao-lô viết: “Thưa anh em, về ngày Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, quang lâm và tập hợp chúng ta về với Người, tôi xin anh em điều này: nếu có ai bảo rằng chúng tôi đã được thần khí mặc khải, hoặc đã nói, đã viết thư quả quyết rằng ngày của Chúa gần đến, thì anh em đừng vội để cho tinh thần dao động, cũng đừng hoảng sợ. Đừng để ai lừa dối anh em bất cứ cách nào. Tên đối thủ tôn mình lên trên tất cả những gì được gọi là thần và được sùng bái, thậm chí nó còn ngồi trong Đền Thờ Thiên Chúa và tự xưng là Thiên Chúa.” (2Tx 2, 1-4).

Suy niệm bài Tin Mừng (Lu-ca 21, 5-19) mới thấy quả thật ngày Chúa đến lần thứ hai sẽ là ngày hiện thực “cơn sốt quang lâm”: Đó sẽ là ngày “Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào.” Ngày đó sẽ được báo trước, nhưng “Khi anh em nghe có chiến tranh, loạn lạc, thì đừng sợ hãi. Vì những việc đó phải xảy ra trước, nhưng chưa phải là chung cục ngay đâu”. Rồi Người nói tiếp: “Dân này sẽ nổi dậy chống dân kia, nước này chống nước nọ. Sẽ có những trận động đất lớn, và nhiều nơi sẽ có ôn dịch và đói kém; sẽ có những hiện tượng kinh khủng và điềm lạ lớn lao từ trời xuất hiện. Nhưng trước khi tất cả các sự ấy xảy ra, thì người ta sẽ tra tay bắt và ngược đãi anh em, nộp anh em cho các hội đường và bỏ tù, điệu anh em đến trước mặt vua chúa quan quyền vì danh Thầy. Anh em sẽ bị chính cha mẹ, anh chị em, bà con và bạn hữu bắt nộp. Họ sẽ giết một số người trong anh em. Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét.” 

Khi nghe đọc bài Tin Mừng hôm nay, đã có ý kiến cho rằng chẳng lẽ lại có những bậc cha mẹ đi tố cáo, bắt con em mình nộp cho thế lực thù địch hay sao? Cha mẹ nào mà chẳng thương con, đã không che giấu thì chớ, mà lại còn nhẫn tâm bắt nộp con em mình cho kẻ thủ ác. Hoạ chăng có những cha mẹ của những kẻ trộm cướp giết người, xì ke ma tuý, mới đi tố giác con mình, nhưng suy cho cùng thì đó cũng là hành động vì yêu con, muốn con chừa bỏ tật xấu, nên mới làm như vậy. Vì thế, mới thoạt nghe Lời Chúa, thấy có vẻ nghịch lý, khó lòng chấp nhận được, và chính điều này tác động mãnh liệt vào bộ não khiến người ta phải dốc tâm suy niệm để tìm cho ra đáp án. Quả thực, khi phải dốc hết tâm trí ra suy nghĩ về một vấn đề nào đó thì việc đầu tiên là phải nhìn lại mình trước, nhiên hậu nhìn lại những người thân cận và môi trường mình đang sống, đang hoạt động. Nhìn lại để thấy được không hẳn là viết đơn hoặc đến thẳng quan quyền tố cáo con em mình mới là “bắt nộp”. Nhiều khi chỉ vì cha mẹ chưa tin vào những điều con mình đã tin, ra mặt không chấp nhận hành động của con em mình, tạo nên một hố sâu chia rẽ trong gia đình, thì như thế đã là “vạch áo cho người xem lưng” khiến kẻ thủ ác có cớ để bắt bớ, tra tấn con em mình. 

Nhìn lại còn để cảnh giác và sẵn sàng đối phó, chớ không phải nhìn lại để trốn chạy, chối bỏ. Nhìn lại còn để thấy được sự yếu đuối, mỏng giòn của bản thân cũng như những người thân cận ruột thịt và rộng ra là của con người thụ tạo trên trái đất này, nên rất có thể “Kẻ thù của mình chính là người nhà” (Mt 10, 36). Như thế, nhìn lại mình chính là để vượt thắng được chính mình, mà muốn được vậy thì phải biết kiên trì cầu nguyện xin ơn soi sáng để nhìn cho rõ con đường chân lý mà mình sẵn sàng nhập cuộc, đồng thời cầu nguyện xin Chúa Thánh Linh tăng thêm sức mạnh và dũng khí để sẵn sàng đối mặt với nghịch cảnh, chấp nhận hy sinh để bảo vệ đức tin, bởi chính “Đó sẽ là cơ hội để anh em làm chứng cho Thầy. Vậy anh em hãy ghi lòng tạc dạ điều này, là anh em đừng lo nghĩ phải bào chữa cách nào. Vì chính Thầy sẽ cho anh em ăn nói thật khôn ngoan, khiến tất cả địch thủ của anh em không tài nào chống chọi hay cãi lại được.” (Lc 21, 13-15). 

Điều cần suy gẫm tiếp theo, đó là vấn đề cho đến tận ngày nay, những Lời tiên báo của Đức Giê-su (“Dân này sẽ nổi dậy chống dân kia, nước này chống nước nọ. Sẽ có hững trận động đất lớn, và nhiều nơi sẽ có ôn dịch và đói kém; sẽ có những hiện tượng kinh khủng và điềm lạ lớn lao từ trời xuất hiện” – Lc 21, 10-11) đã thực sự xảy ra và xảy ra thật nhiều trên trái đất này. Và tất nhiên, Lời cảnh báo của Người về những người thân cận ruột thịt (cha mẹ, anh em, họ hàng, bè bạn) sẽ bắt nộp con em của mình vì đã dám làm chứng cho niềm tin về một Đấng Ki-tô Cứu Thế, cũng đã xảy ra không ít. Có lẽ cũng chính nhờ những Lời cảnh báo của Đức Ki-tô, hay nói khác hơn là nhờ hồng ân Thiên Chúa, nhờ những đặc sủng Người ban cho cách này cách khác, nên cũng vẫn còn và còn nhiều những bà mẹ, những người chị, những anh em bè bạn sẵn sàng là nguồn động lực quý giá thúc đẩy những bậc anh hùng tử vì đạo tiến tới đài vinh quang. 

Tóm lại, biết lắng nghe, biết suy niệm và luôn biết tỉnh thức, sẵn sàng thực hành theo Lời Chúa dạy, thì mọi kẻ thù hung ác, mọi thử thách nghiệt ngã, mọi chông gai nguy hiểm, cũng đều có thể vượt qua, bởi “Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu. Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình” (Lc 21, 17-18). Chúa đã từng dạy hãy kiên trì trong cầu nguyện (xc. dụ ngôn “Người bạn quấy rầy” – Lc 11, 5-8; “Người đàn bà quấy rầy” – Lc 18, 1-8), nay Chúa lại dạy hãy kiên trì làm nhân chứng cho Tin Mừng cứu độ. Rõ ràng trong tư tưởng hay trong hành động, ở bất cứ hoàn cảnh nào, anh hãy biết KIÊN nhẫn bảo TRÌ đức tin mà anh đã chọn cho cuộc đời mình. Chỉ có như thế, anh mới thật sự xứng đáng là con cháu, là những người thân cận của hơn 130.000 vị anh hùng tử vì đạo Việt Nam, mà chính ngày hôm nay – ngày có bài TM phải dốc hết tâm trí ra mới thấu hiểu được – lại là ngày mừng kính trọng thể các ngài (1). Mong vậy thay!

 

Cước chú: (1)- Cũng vì ngày 24/11 hàng năm là ngày kính các Thánh Tử vì Đạo Việt Nam, Bổn mạng Hội Thánh Việt Nam, nên kẻ viết bài này xin có bài chia sẻ riêng (xc. VĂN KHỐ CỦA CHÂN LÝ ĐƯỢC VIẾT BẰNG MÁU – Lễ kính Các Thánh Tử vì Đạo Việt Nam).

Về mục lục

.

MẠT THẾ

AM. Trần Bình An

Trước khi qua đời vào năm 1996, bà tiên tri mù Baba Vanga trăn trối rằng, vài năm sau khi bà mất sẽ có một cô bé kế tục bà được sinh ra ở châu Âu, vào đúng thời điểm nhiều biến cố lớn trên thế giới xảy ra. Phải đến năm 2009, mọi người mới nhớ ra lời trăn trối của Vanga, khi một tờ báo Pháp đăng bài ngắn nói về khả năng tiên tri của cô bé Kaede Uber. 

Năm 2011, cô bé 7 tuổi đã thu hút sự chú ý của dư luận với khả năng tiên tri và chữa bệnh của mình. Cô càng ngày càng có nhiều đặc điểm giống nhà tiên tri mù Vanga. Khi thị lực của cô kém dần đi, cùng với những cử chỉ rất giống bà. Trong một chương trình do truyền hình của Nga, Uber đã dự đoán được rằng thị trường tài chính thế giới sẽ khủng hoảng trầm trọng vào năm 2008. Khi đang diễn ra bầu cử Tổng thống ở Nga, hai phóng viên đã đưa cho Uber xem hình ảnh các ứng cử viên Tổng thống. Cô bé đã chỉ vào một tấm hình của Putin. Lời tiên đoán của cô trở thành sự thật. Tuy nhiên, khi những thông tin về Uber chính thức được xác nhận, thì cô bé và gia đình bắt đầu bị theo dõi, không được sống yên ổn, họ đột nhiên biến mất trong suốt 5 năm liền.  

Cho đến tận tháng 1/2016, cô bé Uber mới xuất hiện trên sóng truyền hình Nga NTV, và đưa ra những dự đoán tiếp theo: “Nếu tình trạng tấn công khủng bố tiếp tục tràn lan ở châu Âu, cùng với đó là việc không tìm ra lời giải cho bài toán nhập cư, cả thế giới có thể sẽ gặp nguy hiểm.” Ban đầu dư luận không mấy để tâm tới lời tiên tri của của Uber, cho đến khi nhìn nhận lại vấn đề từ vụ khủng bố xảy ra ở Bỉ cuối tháng 3 và mới nhất là vụ tấn công ở Nice, Pháp giữa tháng 7. 

Mới đây, Uber lại tái xuất trên sóng truyền hình NTV để trả lời 15 câu hỏi quan trọng nhất về nhiều vấn đề thế giới đang quan tâm.“Rất nhiều người sẽ bị sát hại và máu sẽ đổ xuống rất nhiều.” Lời tiên đoán của Kaede Uber khiến mọi người lo lắng và hoang mang, thế giới sẽ trải qua một nỗi kinh hoàng mới và Mỹ có thể sẽ là nơi phải hứng chịu một cuộc khủng bố đẫm máu. Cô bé khẳng định: “Tai họa sẽ ập đến trong 4 tháng nữa.” (Thanh Mai, tổng hợp) 

Lời tiên báo của cô Kaede Uber có thể trở thành hiện thực, có thể không, như bà Baba Vanga đã sai hoàn toàn, khi tiên báo Châu Âu trở nên hoang địa vào năm 2016. Trái lại, Tin Mừng thánh Luca hôm nay, thuật lại Đức Giêsu tiên báo rất chính xác Đền Thờ Giêrusalem hoàn toàn bị phá huỷ, cũng như số phận nghiệt ngã của Kitô giáo chân chính đã và đang phải gánh chịu.

Phù vân 

“Những gì các con nhìn ngắm đây, sau này sẽ đến ngày không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào mà chẳng bị tàn phá.” Mặc dầu Đền Thờ Giêrusalem mất hơn 63 năm xây dựng, kiến thiết và trùng tu, với các mái vòm dát vàng, với các dây leo kỳ vĩ bằng vàng ròng ở cổng chính, với những cột đá cẩm thạch cao 12 mét hết sức nguy nga, tráng lệ, vốn là niềm tự hào của dân Do Thái. Năm 70, tướng La mã Titus đem đại quân vây hãm thành Giêrusalem trong vòng sáu tháng. Thành thánh bị thiêu hủy bình địa. Dân Do Thái đầu hàng, bị giải giáp và phân tán tứ phương kể từ ngày thảm hại đó.

Vanitas vanitatum et omnia vanitas.” Phù vân, quả là phù vân. Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân. (Gv 1, 2) Những gì mà người ta coi là vĩ đại, kiên vững, trường tồn thì đều sẽ sụp đổ, tan nát theo thời gian. Mọi sự đều có thời, một thời để chào đời, một thời để lìa thế. (Gv 3, 1-2) Đời người cũng mong manh, sớm nở tối tàn, héo hon dần theo năm tháng, rồi trở về cát bụi. “Đời sống con người chóng qua như cỏ, như bông hoa nở trong cánh đồng, một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích.” (Tv 103, 15-16)

 Cánh chung 

Chiến tranh, thiên tai, loạn lạc, động đất, ôn dịch đói kém xảy ra trước ngày tận thế, ngày cánh chung của nhân loại. Nhưng cái chết là ngày cánh chung mỗi người.  

Qua cái chết, con người bước vào cuộc đời mới, sẽ được hưởng vinh phúc trường cửu hay chịu án phạt muôn đời, tuỳ theo đã sống trên thế gian như thế nào. “Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ, Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm.” (Mt 16, 27)

Bách hại 

“Người ta sẽ tra tay bắt bớ, ức hiếp và nộp các con đến các hội đường và ngục tù, điệu các con đến trước mặt các vua chúa quan quyền vì danh Thầy; các con sẽ có dịp làm chứng.”Thời nay, không còn cảnh cấm đạo thô bạo, nhưng thế gian bách hại Kitô hữu rất tinh vi, khéo léo và xảo quyệt khôn lường. Vật chất, danh lợi, hưởng thụ nghiễm nhiên trở thành ngẫu tượng bò vàng cho nhân loại.  

Quyền lực sự dữ hiện nay hầu như đang thống trị trên mọi bình diện của nền văn minh. Vì thế, tín hữu Kitô phải chịu thử thách nặng nề, khi phải chọn lựa Thiên Chúa hay thế gian, văn minh sự sống hay sự chết. “Thế gian đang qua đi cùng với những dục vọng của nó. Chỉ những ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa mới tồn tại mãi mãi.” (1 Ga 2, 17). Chỉ những gì vĩnh cửu mới tồn tại lâu dài!

Chứng nhân

Thiên Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Ngài, luôn che chở những ai trung tín làm chứng nhân, có thể chống lại sự dữ.“Vì chính Thầy sẽ ban cho các con miệng lưỡi và sự khôn ngoan, mọi kẻ thù nghịch các con không thể chống lại và bắt bẻ các con.” 

Mặc dù người Kitô hữu bị thế gian thâm thù, ghét bỏ, giết hại, vì danh Chúa, thì linh hồn vẫn được Chúa thương xót cứu thoát, được hạnh phúc muôn đời. “Các con sẽ bị mọi người ghét bỏ vì danh Thầy. Nhưng dù một sợi tóc trên đầu các con cũng sẽ chẳng hư mất. Các con cứ bền đỗ, các con sẽ giữ được linh hồn các con.” Vì chưng, Chúa đã bao lần khuyến khích, nhắc nhủ: “Ai bền chí đến cùng, người ấy sẽ được cứu thoát.” (Mt 10, 22; 24, 13; Mc 13, 13) 

“Giữa những thử thách bên trong, bên ngoài khủng khiếp nhất, con hãy nhớ lời sách Khải Huyền: “Và Người sẽ lau sạch nước mắt họ, chết sẽ không có nữa, phiền muộn, kêu gào và khó nhọc sẽ không còn nữa, vì các điều cũ đã qua.” (Đường Hy Vọng, số 682) 

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con noi gương các Thánh Tử Vì Đạo Việt Nam được mừng kính hôm nay, để cũng trở nên chứng nhân kiên trung trước những thử thách nặng nề ngày hôm nay. 

Khấn xin Mẹ Maria cầu bầu cho chúng con được bền vững tin cậy mến Chúa đến hơi thở cuối cùng. Amen.

Về mục lục

.

THỜI GIAN

Lm. Jos. DĐH.

Trên bước đường thành công, dù ở lãnh vực kinh tế xã hội, hay niềm tin tôn giáo, người ta không thể không nhắc tới việc đầu tư công sức, kiên nhẫn tập luyện. Biết bao học sinh, sinh viên, hằng mong ngóng được bước vào trường đời, nhằm giúp giải quyết một phần gánh nặng kinh tế cho bậc sinh thành. Cũng không ít những người đau bệnh, già lão, vẫn hối tiếc vì cạn sức khỏe, vì năm tháng đã tàn phai mà chưa thể tạo nên sự ổn định cho gia đình. Người xưa nói rằng lực bất tòng tâm, khuynh hướng hôm nay lại cho rằng cái khó ló cái khôn, hẳn xưa hay nay, yếu tố thời gian luôn mang một ý nghĩa quan trọng. Thời giờ ngựa chạy tên bay, nó đi đi mãi, có chờ đợi ai. (ca dao)

Thời gian sẽ tố cáo hai kẻ yêu nhau, thời gian sẽ minh oan những nghi ngờ, xua tan bất công hận thù. Thời gian sẽ thẩm định giá trị đẹp, có tính vững bền hay không ? Đức Giêsu thì nói: “những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó, sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào”. Đền thờ Giê-ru-sa-lem nguy nga tráng lệ, là niềm tự hào của người Do-thái, Đức Giêsu còn gợi lên sự cao đẹp của tâm hồn, tình yêu thật, mới chứng thực được tính bền vững tuyệt đối trong Thiên Chúa. Đền thờ vật chất, được xây dựng bởi khói óc, bàn tay nghệ thuật của con người, kiến trúc phù hợp thời đại, cũng do hội đồng thẩm định của con người.

Tận cùng của đời người không chỉ dừng lại ở danh thơm tiếng tốt, được xã hội kính trọng, nhiều người đã phát hiện ra đó phải là tâm hồn bình an, ngập tràn tình yêu liên đới với thế giới tự nhiên và siêu nhiên. Không phải chỉ người xưa muốn biết trước về tương lai vận mệnh của mình, không phải chỉ thời đại chúng ta mới tin Chúa Giêsu là Đấng sẽ trả lời được mọi thắc mắc về thực tại vật chất và tâm linh. Một số người cho rằng, Đức Giêsu đã có ý giữ bí mật về ngày cùng tận của thế giới hữu hình, giúp con người giảm bớt đi nhiều hoang mang. Có những suy tư tích cực hơn, khi nghĩ rằng Đức Giêsu muốn con người nên hiểu thời gian của Chúa khác với thời gian của nhân loại, ta nên sống tín thác vào Chúa nhiều hơn.

Ngày đền thờ Giê-ru-sa-lem sụp đổ đã xảy ra, đền thờ nguy nga giá trị ấy trở nên đống đổ nát là do sự thù hận lấn chiếm hết chỗ của tình yêu. Ngày đền thờ tâm hồn người tội lỗi bị đổ vỡ, vẫn đang được Giá Máu Cứu Độ của Đức Kitô biến đổi nên xứng hợp với phần thưởng đời đời, thời giờ đó, tình yêu đó, mắt đức tin mới cảm nhận được. Tình yêu của Thiên Chúa, Lời giáo huấn của Đức Giêsu không nhằm thỏa mãn những đối tượng “tò mò” “biếng nhác”, muốn được, nhưng không muốn đầu tư, tin sự sống đời sau, nhưng ngại sống niềm tin. Thời gian bắt bớ loạn lạc, hiện tượng tự nhiên và siêu nhiên xảy đến, gây nên những xáo trộn trong gia đình, trong tâm hồn, cũng là cơ hội giúp ta minh chứng niềm tin có Chúa của mình.

Người xưa có câu : đời người chỉ một gang tay, ai hay ngủ ngày chỉ còn nửa gang. Cha ông chúng ta không có ý gieo rắc bi quan cho con cháu về độ dài ngắn của đời người. Đúng hơn, các ngài muốn khơi dậy một tâm tình sống thật ý nghĩa, để không ai phải hối tiếc vì tuổi trẻ qua đi, vì cái già xồng xộc nó thì theo sau. Đức Giêsu khi nói đến sự lạ trên trời dưới đất, tình người bị chia rẽ, chiến tranh loạn lạc, người ta kiện cáo nhau vì Danh Thầy, anh em đừng lo sợ, anh em có dịp làm chứng về Thầy. Cuộc sống hiện tại và thời gian ta đang có, luôn là hội tốt nhất để diễn tả điều tốt đẹp ở phía trước, đau khổ gian truân mời gọi ta sử dụng tốt thời gian, thời gian làm sáng tỏ giá trị cuộc sống.

Để trấn an những ai đang quan tâm về “ngày tận thế”, ngày thế giới hữu hình sẽ qua đi, Đức Giêsu hứa ban miệng lưỡi khôn ngoan để ta sống, để ta minh chứng về thời gian của Chúa. Người khôn ngoan là người học hiểu được sự thật này: mọi rắc rối chỉ là tạm thời, đau khổ là ống nghiệm, thời gian là thuốc bổ. Về tính cao đẹp của khôn ngoan này, người ta cho rằng mối tình đẹp nhất là mối tình đầu, nhưng mối tình bền vững, bất diệt, là mối tình có thủy chung. Chỉ một chút ánh sáng nhỏ, đủ giúp người sợ bóng tối vượt qua một đêm dài sợ hãi, chỉ cần có thời gian, người tội lỗi nặng nề đến đâu cũng đủ cơ hội để thống hối, để nhận ra Chúa nhân từ yêu thương.

Đức Giêsu cho ta biết rằng có sự sụp của thế giới vật chất, hiện tượng kinh khủng từ trên trời và những điềm lạ cả thể chưa phải là chấm hết, thời gian cụ thể hơn là hãy sống phút giây hiện tại, nét đẹp tâm hồn của Chúa là tỉnh thức sẵn sàng. Đền thờ được gọi là đẹp, là giá trị, khi chính Thiên Chúa sẽ thẩm định về tác phẩm của Ngài được đặt để vào tâm hồn ta. Chỉ một ít viên đá, người thợ cũng có thể tạo nên núi, nên hòn non bộ ; chỉ một vài lời an ủi khích lệ đúng lúc, đúng nơi, cũng đủ lực giúp người anh chị em mình sống thật ý nghĩa. Dù chỉ một nhắc nhớ: “sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu”, mỗi người thuộc về Đức Kitô sẽ đủ mạnh mẽ hơn để sống đức tin, để hiểu thời gian Chúa ban thật là cao quý. Thời gian không chờ ai cả, thời gian đi, thời gian không trở lại, hãy sống quỹ thời gian ta đang có, hãy cùng hiệp thông xây dựng nét đẹp tâm hồn. Amen.

Về mục lục

.

TÍN THÁC TRONG NGÀY THẾ TẬN

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Đối với nhiều người Do Thái, cũng như với một số lớn người Công Giáo chúng ta hôm nay, tận thế luôn là một đề tài nóng bỏng. Đức Giê-su đã đề cập tới đề tài này với các thính giả Do Thái nhân một cuộc trao đổi liên quan tới đền thờ Giê-ru-sa-lem; Người đề cập tới sự tàn phá kinh hoàng sẽ xảy ra cho ngôi đền thờ kiên cố đang sừng sững nguy nga xuất hiện phía bên kia thung lũng Si-đon, ngôi đền mà mọi người Do Thái đều thấy tự hào hãnh diện. Lời tiên báo gây sốc đã thu hút sự quan tâm sâu sắc của đám thính giả, nhân đó Đức Giê-su đề cập tới một đề tài còn nóng bỏng hơn: ‘ngày thế tận’. Người tiên báo: ‘ngày tận thế’ sẽ như một sụp đổ toàn diện của thế giới trần gian, về mặt thiên nhiên vật chất cũng như mặt trật tự xã hội…, đặc biệt là trong tương quan giữa người với người, kể cả giữa những kẻ thân thiết nhất. Vấn đề được đặt ra ở đây là: Người dự báo như thế để làm gì; chủ đích của Người là gì khi nói lên điều đó? Người đâu có ý giới thiệu mình cho đám thính giả Do Thái rằng: mình tới trần gian để răn đe, hay để tái thiết một trật tự xã hội đang suy đồi. Chưa bao giờ Người có trong đầu ý muốn, được dân chúng chấp nhận như một nhà cải cách trong lãnh vực xã hội, khoa học hay tâm lý; Người lại càng không thể muốn gieo rắc sợ hãi kinh hoàng, vốn trái nghịch hoàn toàn với Tin Mừng đang được rao giảng. Vậy đâu là lý do và nội dung đích thực của những lời tiên báo khủng khiếp kia?

Ấn tượng chung nhất trước các lời tiên báo khủng khiếp đó là nỗi bất an, một cảm giác bất an tột cùng. Người ta cảm thấy bất an vì chiến tranh loạn lạc, bất an vì thiên tai khủng khiếp có thể ập tới bất cứ lúc nào, bất an hơn cả là không còn chỗ để mà cậy dựa. Riêng về mặt tôn giáo, cụ thể đối với các thính giả Do Thái đang nghe Người, mối bất an được cụ thể hóa bằng hình ảnh đền thánh Giê-ru-sa-lem, biểu tượng trung tâm của niềm tin họ, bị phá hủy. Trong cái bất an tột độ đó, người ta sẽ cố tìm cho ra một chỗ dựa nơi những kẻ thân người thích… Nhưng bất hạnh thay, cả họ cũng sẽ quay mặt chống đối và muốn ăn tươi nuốt sống mình. Hỏi rằng: lúc đó ai mà không hoảng loạn và đôn đáo tìm cho bằng được một chỗ dựa vững chắc? Các người Do Thái sẽ nghĩ ngay đến một đấng Mê-si-a cứu tinh, đấng Ki-tô là niềm hy vọng duy nhất mà họ vẫn thường được nhắc nhở: “Bấy giờ nếu có ai bảo anh em: ‘Này, đấng Ki-tô ở đây! Kìa, đấng Ki-tô ở đó!’ anh em đừng có tin. Thật vậy, sẽ có những ki-tô giả và ngôn sứ giả xuất hiện” (Mc 13: 21-22). ‘Tận thế’, chung cho toàn vũ trụ, hay riêng cho từng người trong giờ chết, luôn là thời điểm khi mà niềm tin, chính xác hơn là niềm cậy trông, có thể bị thử thách nặng nề nhất. Trong lo sợ, người ta sẽ dễ dàng truyền bá cho nhau, hay chạy theo bất cứ đấng cứu tinh nào mà họ nghĩ là đáng được họ đặt trọn niềm tin tưởng phó thác. Đó có thể là một đấng Mê-si-a cách mạng để tái lập công bằng xã hội, hoặc một đấng Mê-si-a khoa học có thể giải thích vạn vật và sắp xếp lại trật tự thiên nhiên, hoặc một đấng Mê-si-a của tự do dân chủ giúp con người khảng định được chính mình… “Anh em hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt, vì sẽ có nhiều người mạo danh Thầy đến nói rằng: ‘chính ta đây và thời kỳ đã đến gần’, anh em chớ có theo họ!” (Lc 21:8) Tựu trung tất cả các giải pháp đặt nơi con người chỉ là vô vọng, giải pháp của Tin Mừng phải là: đặt trọn niềm tin vào Đấng Ki-tô – Cứu Chúa duy nhất.

Đức Giê-su mời gọi những ai tin vào Người, trong chính giờ phút căng thẳng đó, hãy bộc lộ cách dứt khoát niềm cậy trông phó thác vào Tin Mừng Người rao giảng; “Vì chính Thầy sẽ cho anh em ăn nói thật khôn ngoan…” Trên hết, Người kêu mời mọi Ki-tô hữu: hãy tín thác trọn vẹn cho tình yêu nhân ái của Cha hơn bất cứ lúc nào khác. Là tín hữu, nên hơn ai hết họ phải biết rõ rằng: Thiên Chúa là người Cha nhân ái hằng chăm sóc con cái Người trong bất kỳ tình huống nào; “Dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu… chúng đã được đếm cả rồi” (Mt 10:30). Như thế, chủ đích của đề tài ‘tận thế’ mà Đức Giê-su muốn trình bày mới dần hiện rõ: Người đang kêu gọi chúng ta hãy trung kiên đặt niềm tin tuyết đối nơi Thiên Chúa từ nhân. Thử thách có thể là rất lớn, có thể dồn con người tới hố tuyệt vọng; thế nhưng xét cho cùng, chúng chỉ là những thách đố, những dịp tốt để niềm hy vọng phó thác vào lòng Cha Nhân ái được kiện định và tỏa sáng; “Có kiên trì anh em mới giữ được mạng sống mình”.

Đức Giê-su đã cụ thể cho chúng ta thấy: điều này xẩy ra trong dịp ‘tận thế’ của riêng Người, tức là trong cái chết thập giá nhuốc khổ. Tâm hồn Người khi đó đã chẳng từng bị xao xuyến, tinh thần Người đã chẳng từng buồn phiền, và chính Người đã chẳng từng hãi sợ cầu xin Cha cất khỏi chén đắng…là gì? Trong giờ phút kinh hoàng của sự chết, Người cũng đã chẳng muốn tìm một nơi nương tựa trước sự cô đơn tột cùng là gì? “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27:46) Nhưng cậy trông phó thác lúc đó mới thực sự dâng cao và chói sáng: “Xin vâng theo ý Cha…”, “Con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23:46); như thế Người đã chấp nhận cái chết như bằng chứng của tin tưởng phó thác tuyệt đối nơi Chúa Cha từ nhân. Sau này, chính việc Người được chỗi dậy từ cõi chết đã minh chứng rằng: giải pháp này là tối ưu, thái độ này là vững chắc nhất. Qua đó Người mời gọi các môn đệ cũng hãy vững vàng bước vào con đường của hy vọng và cậy trông, trong ngày ‘cánh chung’ của cá nhân mỗi người, cũng như ngày ‘tận thế’ của toàn thể nhân loại.

Tới đây, tự nhiên tôi liên tưởng tới Đầy Tớ Chúa Hồng y Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Văn Thuận trong những năm thử thách tù đầy: hoàn cảnh dầu có tuyệt vọng đến đâu cũng không thể nào dập tắt được niềm hy vọng nơi một người đặt trọn niềm tin nơi Thiên Chúa từ nhân. Phải, chính vì là một Ki-tô hữu trong niềm cậy trông sâu xa nhất của mình mà, trong tình thế tuyệt vọng đó ngài mới có thể có được thái độ không giống ai – ‘Hy Vọng’ –  thái độ mà ngày nay toàn thể Giáo Hội phải lên tiếng ca tụng. Thái độ đó đã được Đức Giê-su coi như phải được chia sẻ cho tất cả mọi Ki-tô hữu khi Người nói: “Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc”! (Lc 21:28)

Câu nói được áp dụng cho tổ phụ Ap-bra-ham “Contra spem, in spe credidit” (nghịch với hy vọng, ngài đã tin trong hy vọng) quả là một Tin Mừng vĩ đại! Trong thử thách gian nan, cũng như vào ngày kết thúc cuộc đời của cá nhân từng Ki-tô hữu, và trên hết, vào ngày tận thế của toàn thế giới, niềm tin vào Thiên Chúa từ nhân sẽ có dịp chói sáng hơn bao giờ hết.

Ước chi lúc đó tôi và bạn vẫn luôn duy trì được niềm hy vọng Tin Mừng cao quí này!

Lạy Thiên Chúa từ nhân, xin cho con đặt trọn niềm hy vọng và cậy trông nơi lòng từ bi vô hạn của Chúa. Giả như Chúa có để con gặp bất kỳ gian nan thử thách nào trong ngày cùng tận của kiếp sống riêng con, thì con chỉ xin Chúa có một điều duy nhất là: hãy củng cố niềm cậy trông nơi con, để không bao giờ con mất đi niềm tín thác nơi lòng thương xót vô bờ bến của Chúa. Chớ gì toàn thể Hội Thánh và nhân loại cũng chuẩn bị giáp mặt ‘ngày tận thế’ trong niềm hy vọng và tin tưởng như thế! A-men.

Về mục lục

.

KIÊN QUYẾT KHÔNG BỎ ĐẠO YÊU THƯƠNG

Lm. Inhaxiô Trần Ngà 

Đạo Chúa là Đạo yêu thương  

Đạo Thiên Chúa được gọi là Đạo yêu thương vì cốt tủy của Đạo là giới luật yêu thương và mục tiêu của Đạo là xây dựng đời sống yêu thương huynh đệ trên khắp hoàn cầu. 

Khi có vị luật sĩ hỏi Chúa Giê-su, trong các điều răn, điều nào trọng nhất, Chúa đáp: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và là điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Tất cả Luật Mô-sê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy.” (Matthêu 22, 37-40) 

Thánh Phao-lô cũng nhắc lại giáo lý nầy cho các tín hữu Rô-ma: “Các điều răn… đều tóm lại trong lời này: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy.” (Rô-ma 13,9-10)

Tuyên ngôn yêu thương nầy đã được Chúa Giê-su nâng lên thành điều răn mới khi Ngài phán: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Gioan 13, 34). 

Chỉ có những ai yêu thương mới được xem là người môn đệ Chúa

Ai muốn ghi tên gia nhập vào một tổ chức, một đoàn thể hay một đảng phái nào đó thì phải chấp nhận một số điều lệ hay nội quy của tổ chức đó. 

Cũng thế, khi muốn gia nhập vào Đạo yêu thương để trở thành môn đệ Chúa Giê-su, thì điều kiện tối cần và không thể thiếu, là lòng yêu mến tha nhân, như lời Chúa Giê-su dạy: “Người ta căn cứ vào dấu nầy để nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Gioan 13, 35).

Ai ghét bỏ tha nhân là từ bỏ Đạo yêu thương của Chúa

Vì Đạo Chúa là Đạo yêu thương nên ai ghét bỏ tha nhân, kẻ ấy không còn là môn đệ của Chúa Giê-su nữa, như lời Chúa dạy: “Người ta căn cứ vào dấu nầy để nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau.” (Gioan 13, 35). 

Như thế, khi ghét bỏ người khác hay chà đạp lên nhân phẩm và tình người, ki-tô hữu tự loại mình ra khỏi hàng ngũ những người môn đệ Chúa. 

Ngoài ra, những ai thiếu lòng yêu mến tha nhân thì trong ngày phán xét, sẽ bị liệt vào hàng ngũ những người bị nguyền rủa và bị loại trừ vĩnh viễn khỏi nhan Thiên Chúa, như lời Chúa dạy trong dụ ngôn phán xét cuối cùng: “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó” (Mt 25, 34. 41). 

Noi gương các thánh tử đạo Việt Nam, chúng ta kiên quyết không bỏ Đạo yêu thương 

Các thánh tử đạo ngày xưa phải chịu một thử thách lớn lao là bị vua quan thúc ép bước qua hay chà đạp lên Thập tự giá. Ai không bước qua thì phải chịu tù đày, xiềng xích và phải chết; Ai bước qua hoặc chà đạp lên thì được thoát khỏi ngục tù và khỏi chết. 

Chúng ta hôm nay cũng gặp một thử thách tương tự. Có một sức thúc đẩy từ bên trong, do lòng hận thù, ghen ghét, ích kỷ, bè phái… xô đẩy chúng ta, không phải là chà đạp lên Thập tự giá, mà là chà đạp lên tình người, lên danh dự và nhân phẩm của người khác. 

Ai kiên quyết không chà đạp lên tình người, lên danh dự và nhân phẩm người khác là người trung thành với Đạo Chúa, sẽ được Chúa nhìn nhận là môn đệ yêu quý; Ai làm ngược lại thì bị Chúa loại trừ ra khỏi hàng ngũ các môn đệ và còn bị tuyên án là “quân bị nguyền rủa” đáng mang án phạt muôn đời. 

Lạy các thánh tử đạo Việt Nam, 

Các ngài thà chết chứ không thà dẫm đạp lên Thập tự giá và không chối bỏ Chúa Giê-su, thì xin các ngài cầu bầu cho chúng con hôm nay, thà chấp nhận thua thiệt và đau khổ chứ không chà đạp lên tình người, lên danh dự của người khác, vì làm như thế là chúng con đã chối bỏ Đạo yêu thương.

Về mục lục

.

KIÊN TRÌ ĐÓN CHỜ CHÚA LẠI ĐẾN

Lm. Đan Vinh

I.  HỌC LỜI CHÚA

  1. TIN MỪNG: Lc 21,5-19

(5) Nhân có mấy người nói về Đền thờ được trang hoàng những viên đá đẹp và những đồ dâng cúng, Đức Giêsu bảo: (6) “Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào”. (7) Họ hỏi Người: “Thưa Thầy, vậy bao giờ các sự việc đó sẽ xảy ra, và khi sắp xảy ra thì có điềm gì báo trước?” (8) Đức Giêsu đáp: “Anh em hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt. Vì sẽ có nhiều người mạo danh Thầy đến nói rằng: “Chính Ta đây, và thời kỳ đã đến gần”. Anh em chớ có theo họ. (9) Khi anh em nghe có chiến tranh loạn lạc, thì đừng sợ hãi. Vì những việc đó phải xảy ra trước. Nhưng chưa phải là chung cục ngay đâu”. (10) Rồi Người nói tiếp: “Dân này sẽ nổi dậy chống dân kia, nước này chống nước nọ. (11) Sẽ có những trận động đất lớn, và nhiều nơi sẽ có ôn dịch và đói kém. Sẽ có những hiện tượng kinh khủng và điềm lạ lớn lao từ trời xuất hiện”. (12) Nhưng trước khi tất cả các sự ấy xảy ra, thì người ta sẽ tra tay bắt và ngược đãi anh em, nộp cho các hội đường và nhà tù, và điệu đến trước mặt vua chúa quan quyền vì danh Thầy. (13) Đó sẽ là cơ hội để anh em làm chứng cho Thầy. (14) Vậy anh em hãy ghi lòng tạc dạ điều này, là anh em đừng lo nghĩ phải bào chữa cách nào. (15) Vì chính Thầy sẽ cho anh em ăn nói thật khôn ngoan, khiến tất cả địch thủ của anh em không tài nào chống chọi hay cãi lại được”. (16) Anh em sẽ bị chính cha mẹ, anh chị em, bà con và bạn hữu bắt nộp. Họ sẽ giết một số người trong anh em. (17) Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. (18) Nhưng dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu. (19) Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình.

  1. Ý CHÍNH: Bài Tin mừng hôm nay mở đầu “diễn từ chung luận” (x. Lc 21,5-36). Trọng tâm của bài Tin Mừng hôm nay là Đức Giêsu loan báo việc đền thờ Giêrusalem sẽ bị phá hủy và liên kết với việc tàn phá đền thờ, Đức Giêsu đề cập đến ngày tận thế. Trong khi chờ đợi “Ngày của Chúa” tức là ngày Chúa đến lần thứ hai, các tín hữu sẽ phải trải qua nhiều gian nan thử thách, phải qua một thời kỳ bị bách hại. Nhưng họ đừng sợ, hãy cứ kiên trì vì sự bách hại sẽ là một cơ hội để họ làm chứng cho Tin Mừng. Chính Chúa sẽ giúp họ chiến thắng với điều kiện họ phải luôn kiên trì giữ vững đức tin và trung thành với Chúa đến cùng.
  2. CHÚ THÍCH:

– C 5-7: + Có mấy người nói về Đền thờ được trang hoàng những viên đá đẹp và những đồ dâng cúng: Đền thờ nói đây đã được vua Hêrôđê Cả trùng tu vào năm 19 trước Công nguyên và bốn mươi sáu năm sau mới hoàn thành (x. Ga 2,20). Vì Đền thờ vừa được xây xong nên rất đẹp. +Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó, sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào”: Nhiều ngôn sứ đã tiên báo Đền thờ thứ nhất sẽ bị tàn phá (x. Mk, Gr, Ed), tượng trưng cho Giao ước sẽ bị phá hủy, vì dân Do thái đã bất trung với Giao ước ấy. Hôm nay Đức Giêsu lại tiên báo Đền thờ mới này cũng sẽ trở nên hoang tàn vì tội của dân Ít-ra-en đã từ chối Đấng Thiên Sai. Lời tuyên bố này về sau sẽ trở thành lý do khiến Đức Giêsu bị kết án (x. Mt 26,61). Tuy nhiên lời tiên báo này đã được ứng nghiệm vào năm 70 sau Công Nguyên, khi Đền thờ bị quân Rôma đốt cháy và đã sụp đổ bình địa. +Vậy bao giờ các sự việc đó sẽ xảy ra, và khi sắp xảy ra, thì có điềm gì báo trước?”: Nghe Đức Giêsu tiên báo về sự sụp đổ của Đền Thờ, mọi người đều sợ hãi. Họ muốn biết đích xác ngày giờ xảy ra cùng những điềm báo trước để chuẩn bị.

C 8-9: + Đức Giêsu đáp: Anh em hãy coi chừng…: Đức Giêsu không trả lời trực tiếp câu hỏi về thời gian và dấu chỉ tiên báo Đền Thờ sắp bị phá hủy, nhưng dựa vào đó Người mặc khải về ngày tận thế sẽ xảy ra giống như vậy. + Khi anh em nghe có chiến tranh loạn lạc thì đừng sợ hãi, vì những việc đó xảy ra trước, nhưng chưa phải là chung cục ngay đâu: Đức Giêsu cảnh giác các môn đệ là đừng tưởng chiến tranh loạn lạc là dấu chỉ của ngày tận thế. Những điều đó sẽ xảy ra, nhưng chưa phải là dấu tiên báo ngày tận thế đã đến.

C 10-11: + Dân này sẽ nổi dậy chống dân kia…: Chiến tranh và những thiên tai như động đất, ôn dịch, đói kém, cùng những điềm lạ trên trời cũng không phải là những dấu chỉ của ngày tận thế, vì nó luôn xảy ra và hầu như thời nào cũng có. Nó chỉ cho thấy vũ trụ này sẽ không tồn tại mãi mãi.

C 12-15: + Người ta sẽ tra tay bắt và ngược đãi anh em….: Đức Giêsu tiên báo về một thời kỳ lịch sử, trong đó các môn đệ phải chu tòan sứ mệnh làm chứng cho Người giữa những cơn bách hại. Nhưng như Đức Kitô phải chịu khổ hình rồi mới vào vinh quang (x. Lc 24,26), thì các môn đệ cũng phải trải qua thử thách giống như Thầy mình. + Nộp cho các hội đường và nhà tù: Tại mỗi hội đường địa phương đều có nơi dành riêng cho việc xét xử và phạt tù các tội nhân vi phạm các tội thông thường về tôn giáo. Còn các tội nghiêm trọng sẽ được xét xử trước Thượng Hội Đồng tại thủ đô Giêrusalem. + Đó sẽ là cơ hội để anh em làm chứng cho Thầy: Trong Tin mừng Luca, việc làm chứng cho Đức Giêsu là sứ mệnh của Nhóm Mười Hai (x. Lc 24,48) và của Phaolô (x. Cv 22,15). Làm chứng là công bố Đức Giêsu đã chết, đã sống lại và được đặt làm “Chúa”. Sau này làm chứng còn có nghĩa là tử vì đạo. + Vì chính Thầy sẽ cho anh em ăn nói thật khôn ngoan: Đức Giêsu hứa chính Người sẽ trợ giúp các chứng nhân của Người (x. Ga 14,21), và sẽ sai Thánh Thần đến giúp đỡ các ông (Lc 12,11-12).

C 16-19: + Anh em sẽ bị chính cha mẹ, anh chị em… bắt nộp: Sự thử thách của các tín hữu xảy ra từ gia đình, nơi được coi là an toàn nhất. + Họ sẽ giết một số người trong anh em: Một số tín hữu sẽ bị giết, một số khác sẽ bị bắt bớ (x. Lc 11,49). + Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét: Kiểu nói bị mọi người thù ghét không có ý nói theo nghĩa tuyệt đối là hết mọi người, nhưng chỉ muôn nói là: Những kẻ chối bỏ Thiên Chúa sẽ thù ghét các môn đệ Đức Giêsu. + Nhưng dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu: Đây là lời động viên các tín hữu hãy can đảm và tín thác mọi sự trong tay Chúa quan phòng. + Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình: Trong bất cứ cơn thử thách nào, nếu biết kiên trì, trung thành với đức tin thì chắc chắn các tín hữu sẽ được vào Nước Thiên Chúa (x. Cv 14,22).

  1. CÂU HỎI: 1) Như các ngôn sứ xưa, Đức Giêsu đã tiên báo thế nào về số phận của Đền thờ Giêrusalem? Tai họa của Đền thờ tượng trưng cho điều gì sau này ? 2) Theo Đức Giêsu thì chiến tranh lọan lạc và các điềm lạ cả thể trên trời có phải là dấu hiệu của ngày tận thế đã đến hay chưa? 3) Đức Giêsu tiên báo về số phận của các tín hữu sẽ như thế nào? 4) Người dạy họ phải có thái độ ra sao khi bị bách hại?

 

II.  SỐNG LỜI CHÚA

  1. LỜI CHÚA: “Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình” (Lc 21,19).
  2. CÂU CHUYỆN:

1) LỊCH SỬ CỦA ĐỀN THỜ VÀ THÀNH THÁNH GIÊRUSALEM:

Đền thờ Giêrusalem là một công trình nguy nga tráng lệ. Nó được xây dựng kéo dài suốt 46 năm. Đền thờ này là ngôi đền thứ ba được vua Hêrôđê Cả xxay dựng. Đền thờ được trang hoàng bằng những phiến đá tốt và nhiều lễ vật quý giá, với các cột và đồ gỗ chạm khắc, rèm thêu, sơn sơn thiếp vàng.

Việc xây dựng đền thờ trải qua ba thời kỳ: Đền thờ do vua Salomon xây cất đã bị quân Can-đê phá hủy cùng với thành Giêrusalem vào năm 587 trước Công Nguyên. Sau đó được vua Zorobabel khởi công xây lại đền thờ vào năm 525 trước CN, với sự cổ võ của tiên tri Dakaria và Agiê, nhưng lại bị quân Rôma làm hư hại. Rồi vua Herodê cả đã cho sửa lại vào năm 17. Khi Đức Giêsu đi rao giảng Tin Mừng, Đền Thờ thứ ba này đang được trùng tu và hoàn thành vào năm 64 sau Công nguyên. Đến năm 70, khi dân Do thái nổi loạn, viên tướng La mã là Titô đã đem đại quân đến vây hãm thành Giêrusalem. Ông ra lệnh không được đốt phá, nhưng một quân nhân trong lúc say men chiến thắng đã cầm bó đuốc đang cháy ném vào gian thánh Đền thờ, lửa bốc cháy lên màn che gian thánh và cháy lan ra toàn thể ngôi đền. Sau khi đám cháy tàn lụi, Titô ra lệnh phá huỷ toàn thể thành phố và Đền thờ Giêrusalem. Thật như lời Đức Giêsu tiên báo trong Tin Mừng hôm nay: “Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó, sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào”.

Hiện nay thành Giêrusalem chỉ còn trơ lại một bức tường thành cổ mà dân Do thái thường đến cầu nguyện than khóc, gọi là “bức tường than khóc”.

2) VỀ SỰ KIÊN TRÌ CHỊU ĐỰNG CỦA CON NGƯỜI:

ANNE FRANK là một cô gái người Do Thái tuổi mười ba, sống ở Amsterdam trong những năm đầu của chiến tranh Thế giới II. Khi quân Đức quốc xã săn lùng người Do Thái, cô và gia đình đều phải trốn tránh. Gia đình cô gồm bảy người, đã phải ẩn núp trong một tầng gác sát mái nhà trong thời gian hai năm liền. Ở đó, cô và gia đình đã hồi hộp chờ đợi từng ngày trong nỗi sợ hãi sẽ đến lúc bọn mật vụ Đức khám phá ra. Sau cùng cô và gia đình đã bị bắt đến trại tập trung.

Tại trại tập trung, Anne đã phải chứng kiến biết bao cảnh khổ, cô đã thấy rất nhiều người vì quá khổ mà trở thành mất nhân phẩm, mất lý tưởng, mất đức tin. Chính cô cũng khổ và nhiều lần hoang mang tự hỏi: có công lý thật không, có Thiên Chúa không? Nhưng sau những lúc giao động ấy, cô cương quyết giữ vững niềm tin của mình: cô tin rằng dù biểu hiện bên ngoài của con người có gian ác thế nào đi nữa thì trong thâm tâm con người vẫn tốt; dù hiện tại có xấu xa đến đâu đi nữa nhưng cuối cùng sự thiện sẽ chiến thắng sự ác; dù hiện nay xem ra Thiên Chúa vắng mặt, nhưng chính Thiên Chúa sẽ là người có tiếng nói cuối cùng. Những suy nghĩ ấy được cô ghi lại trong một quyển nhật ký.

Sau chiến tranh thế giới thứ 2, quyển “Nhật ký Anne Frank” đã được xuất bản, được dịch ra rất nhiều thứ tiếng, và nổi tiếng khắp thế giới.

3) VĨNH CỬU SẼ CHIẾN THẮNG THỜI GIAN:

Một hôm vua Ai cập đang đứng chiêm ngưỡng những công trình mà ông cho xây dựng tại thành phố Eliôpôli, bỗng có một cụ già râu tóc bạc phơ không biết từ đâu tới đã có giọng cười ngạo nghễ và lên tiếng thách thức nhà vua:

– Hãy bỏ lại tất cả và cút đi!

Nhà vua giận tím gan, nhưng ông ta đã nén giận và hỏi:

– Hỡi lão già kia, ngươi là ai mà dám ra lệnh cho ta cách hỗn xược như thế? Không lẽ ngươi lại quyền thế hơn cả ta?

Ông lão quả quyết:

– Đúng thế! Vì ta lchính à Thời Gian.

Nghe đến tên Thời Gian, vua Ai cập tái mặt, té nhào khỏi ngai vàng và chết. Cùng với ông, cả đế quốc Ai cập cũng sụp đổ theo.

Lão già Thời Gian cũng rảo qua khắp các đế quốc trên địa cầu. Lão đi đến đâu, các đế quốc đều rơi xuống như sung rụng.

Nhưng đến ngày kia, người ta bỗng thấy xuất hiện, tại đồi Vatican một cụ già khác. Bấy giờ lão già Thời Gian đến trước thành Vatican gầm lớn cùng một giọng điệu vô cùng hách dịch:

– Ta là Thời Gian đây!

Tiếng gầm thét đó làm rung chuyển cả trái đất, nhưng lại không làm cho cụ già trên đồi Vatican mảy may lo sợ. Cụ bình tĩnh đáp:

– Còn ta, ta chính là Vĩnh Cửu! Xuyên qua các thế hệ ta phải đại diện cho lòng chung thủy của Thiên Chúa đối với con người.

4) MỌI SỰ CHÚA ĐỂ XẢY RA ĐỀU HỮU ÍCH CHO PHẦN RỖI CỦA CHÚNG TA:

Một người kia có đức tin luôn tin thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Trong bất cứ hoàn cảnh nào dù may hay rủi, anh ta cũng đều cầu nguyện với Chúa: “Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa về điều Chúa mới cho xảy ra với con, vì con tin rằng điều đó sẽ hữu ích cho phần rỗi đời đời của con”.

Một hôm, anh ta mua vé tàu sang nước Anh. Sáng hôm ấy vì thức dậy trễ, nên anh vội leo lên tắc-xi yêu cầu tài xế lái thật nhanh đến bến tàu cho kịp giờ tàu chạy. Nhưng khi xe chở anh tới bến cảng thì cũng là lúc con tàu bắt đầu nhổ neo khởi hành. Anh vội chạy ra ngoài bến cảng và hét gọi thật to, vẫy tay ra hiệu cho con tàu mau dừng lại. Nhưng dường như thuyền trưởng không nhìn thấy anh ta và con tàu vẫn từ từ rời khỏi bến cảng tiến ra khơi. Trong lúc chạy theo con tàu, chẳng may anh bị vấp chân vào một mấu sắt trồi lên ở cầu tàu và bị té ngã xuống đường. Chiếc va-li nặng đang cầm trên tay đè lên làm gẫy một chân phải của anh. Mọi người gần đó chạy đến giúp đỡ và chở anh đến bệnh viện gần nhất để cấp cứu. Sau khi hồi tỉnh và được các phóng viên hỏi cảm thấy thế nào khi bị trễ tàu và bị tai nạn gẫy chân, thì anh lại trả lời rằng: “Tôi cảm tạ Chúa vì Người đã ban cho tôi bị trễ chuyến tàu này”. Họ lại hỏi: “Bị trễ tàu và gãy chân như thế mà là ơn lành của Thiên Chúa sao?” Anh ta trả lời: “Tôi không biết lý do tại sao, nhưng tôi tin rằng Chúa quan phòng biết rõ điều đó có ích cho phần rỗi đời đời của tôi. Đối với tôi, như thế đã là đủ lắm rồi!”.

Quả thật, chỉ mấy ngày sau, báo chí đã đồng loạt đăng lên trang nhất tin một con tàu rời bến cảng vào đúng buổi sáng ngày anh bị trễ tàu, và sau đó đã đụng phải đá ngầm ở ngòai khơi bị chìm khiến tất cả hành khách đi trên con tàu ấy đều bị chết chìm ! Bấy giờ anh chàng bị què chân kia lại càng thêm xác tín: chính Chúa quan phòng đã thương gìn giữ anh tránh được một cái chết thê thảm, bằng cách để anh bị trễ tàu và còn để anh bị té gẫy chân nữa.

Qua câu chuyện trên, chúng ta có thể rút ra bài học này là: “Thiên Chúa có thể rút từ sự dữ ra sự lành” cho những ai biết cậy trông tín thác cuộc sống trong tình thương của Ngài.         

  1. SUY NIỆM:

Tin mừng Chúa Nhật hôm nay ghi lại lời Đức Giêsu tiên báo về sự hủy diệt Đền thờ Giêrusalem. Đây cũng là dịp để chúng ta suy nghĩ về giờ chết của mỗi người chúng ta và về ngày tận thế chung của toàn thể nhân loại. Đồng thời chúng ta biết nên làm gì để chuẩn bị cho ngày ấy chắc chắn sẽ đến.

1) TIÊN BÁO VỀ ĐỀN THỜ BỊ PHÁ HỦY VÀ NHỮNG ĐIỀM BÁO TRƯỚC:

Tin mừng Luca ghi lại lời Đức Giêsu tiên báo về sự hủy diệt của Đền thờ Giêrusalem như sau: “Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào” (Lc 21,6).

Nghe Đức Giêsu tiên báo về sự sụp đổ của Đền Thờ như vậy, mọi người đều kinh hãi và muốn biết rõ hơn về thời gian và dấu chỉ báo trước biến cố ấy. Đức Giêsu đã cho biết một số điềm báo về ngày này, ám chỉ ngày tận thế của nhân loại. Bấy giờ Người sẽ tái lâm trong vinh quang để phán xét chung nhân loại như sau:

-Sẽ có nhiều người mạo danh Người đến nói rằng: “Chính Ta đây, và thời kỳ đã đến gần”.

-Sẽ có chiến tranh loạn lạc: Dân này nổi dậy chống dân kia, nước này chống nước nọ.

-Sẽ có những trận động đất lớn, và nhiều nơi có ôn dịch và đói kém.

-Sẽ có những hiện tượng kinh khủng và điềm lạ lớn lao từ trời xuất hiện.

-Nhưng trước khi các sự ấy xảy ra, các tín hữu sẽ trải qua thời kỳ bị bắt bớ ngược đãi, bị nộp cho các hội đường và nhà tù, bị điệu đến trước mặt vua chúa quan quyền vì danh Đức Giêsu.

2) PHẢI ỨNG PHÓ THẾ NÀO ?:

-Kiên trì và đừng nản chí: Đức Giêsu đã khích lệ các môn đệ như sau: ”Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình” (Lc 21,19). Kiên trì là dù gặp phải các gian truân thử thách, cũng không được chùn bước, không nản chí bỏ cuộc, nhưng phải luôn giữ vững đức tin và quyết tâm đi theo con đường của Đức Giêsu là: “Qua đau khổ vào trong vinh quang” (x. Lc 18,32). Cụ thể là “Từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23).

-Làm chứng cho Chúa bằng lòng tín thác cậy trông:

Đối với Đức Giêsu, bách hại và thử thách không đáng sợ, nhưng chính là cơ hội để các môn đệ “làm chứng” cho Chúa, dù phải chịu thử thách đau khổ kể cả sự chết, như thánh Phaolô đã quả quyết như sau: “Tôi tin chắc rằng: Cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, chiều cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8,38-39).

Đây cũng là thời gian thuận tiện để các tín hữu chúng ta làm chứng đức tin về sự hiện hữu của một thế giới mới đầy ánh sáng và tình thương, trong đó mọi người đều tin thờ một Thiên Chúa là Cha và đối xử với nhau như anh chị em trong đại gia đình của Thiên Chúa. Thế giới ấy bắt đầu từ Hội Thánh hôm nay và sẽ biến thành “Trời Mới Đất Mới” là thiên đàng mai sau (x. Kh 21,1-4).

3) CHUẨN BỊ THẾ NÀO ĐÓN CHÚA ĐẾN TRONG GIỜ CHẾT VÀ NGÀY TẬN THẾ:

– Đừng sợ hãi lo lắng trước cái chết: Đức Giêsu dạy các môn đệ “Đừng sợ !” không có nghĩa không được sợ, nhưng phải biết làm chủ cảm giác sợ ấy và chiến thắng nó như Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu: tuy lo sợ đổ mồ hôi máu khi đối diện với cái chết đang tới gần (x. Lc 22,44), nhưng Người đã can đảm thưa với Chúa Cha: “Đừng theo ý con mà xin vâng ý Cha” (Mt 26,38-39).

– Cần chu toàn việc bổn phận: Thời thánh Phaolô có nhiều tín hữu ở Thê-sa-lô-ni-ca tưởng lầm ngày tận thế đã đến gần, nên bỏ bê công việc làm ăn rồi chỉ biết ăn bám vào người khác. Ngài đã cảnh cáo họ như sau: ”Khi còn ở với anh em, chúng tôi đã chỉ thị cho anh em: Ai không chịu làm thì cũng đừng ăn! Thế mà chúng tôi nghe nói: trong anh em có một số người sống vô kỷ luật, chẳng làm việc gì, mà việc gì cũng xen vào. Nhân danh Chúa Giêsu Kitô, chúng tôi truyền dạy và khuyên nhủ những người ấy hãy ở yên mà làm việc, để có của nuôi thân“ (2 Ts 3,10-13). Cũng vậy, trong khi chờ đợi giờ Chúa đến, mỗi người chúng ta cần phải chu toàn các việc bổn phận của mình. Phải luôn kiên trì giữ vững đức tin dù gặp phải bất cứ khó khăn ngược đãi nào để được hưởng ơn cứu độ như lời Chúa: ”Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình” (Lc 21,19).

 Dọn mình chết lành: Hiện nay có nhiều người sống như không bao giơ phải chết. Họ không biết mình sống để làm gì và không biết chết rồi sẽ ra sao? Do đó, họ chỉ lo hưởng thụ các đam mê lạc thú bất chính và không làm gì để chuẩn bị cho đời sau. Còn các tín hữu hôm nay cần ý thức về ngày giờ chết của mình để chuẩn bị chết lành, bằng việc thực hiện những việc như sau: Thanh toán nợ nần sòng phẳng, hồi tâm sám hối mỗi tối và năng lãnh bí tích Hòa giải, dọn mình dự lễ rước lễ mỗi ngày. Thực hành các việc bác ái cụ thể như kinh “Thương Người có mười bốn mối” và “Kinh Hòa Bình” (của thánh Phan-xi-cô) đề ra. Ngoài ra còn phải chu toàn công việc bổn phận như: học tập, nội trợ, lao động trí óc chân tay… Làm được như vậy thì khi giờ chết đến gần, chúng ta sẽ  không cảm thấy bồn chồn lo lắng, nhưng sẽ vui mừng chờ đón Chúa đến trong niềm tin tưởng cậy trông sẽ được Người thương đón nhận vào hưởng hạnh phúc Nước Trời đời sau.

  1. THẢO LUẬN: 1) Câu chuyện bị trễ tàu và thoát chết cho thấy đức tin của nhân vật chính thế nào ? 2) Đã bao giờ bạn gặp hoàn cảnh “rủi biến thành may” như anh chàng này chưa ? 3) Bạn quyết tâm làm gì để chuẩn bị giờ chết bất ngờ có thể đến với bạn ?
  2. NGUYỆN CẦU

LẠY CHÚA GIÊSU. Chính tiền tài, danh vọng, quyền lực và những đam mê lạc thú bất chính làm cho tâm hồn chúng con luôn cảm thấy bất an. Xin cho chúng con biết sáng suốt xác định cùng đích đời mình là Nước Trời đời sau. Xin cho chúng con biết luôn chu toàn các việc bổn phận và sẵn sàng đón Chúa đến bất cứ lúc nào trong giờ chết để xứng đáng nhận được ơn cứu độ của Chúa.

X) HIỆP CÙNG MẸ MARIA.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

Về mục lục

.

CHÚA NHẬT 33 THƯỜNG NIÊN_C

Lm. Antôn

Ông bà anh chị em thân mến.  Thứ Ba tuần vừa qua, trong cuộc bầu vị tân tổng thống Hoa kỳ, ông Donald Trump đề cử viên của đảng Cộng hòa đã đánh bại bà Hilary Clinton của đảng Dân chủ, và trở thành vị tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ. Theo sự phân tích của một số trung tâm nghiên cứu cuộc bầu cử cho biết, ông Trump đã nhận được rất nhiều lá phiếu của các cử tri Công giáo, vì vậy họ cho rằng nhờ phiếu Công Giáo mà ông Trump thắng, làm cho nhiều người bàng hoàng xửng xốt.  Chúng ta có thể hỏi tại sao?  Tưởng cũng nên nhắc lại các điện thư, được công bố bởi Wikileaks, cho thấy, để tạo thế mạnh cho cuộc tranh cử tổng thống, đảng Dân chủ Mỹ, do bà Clinton chủ động, đã thành lập ít nhất là hai tổ chức là Catholics Alliance (Đồng minh Công giáo) và Catholics United (Hiệp đoàn Công giáo), nhằm tạo những mầm mống chống đối trong Giáo Hội Công Giáo tại Hoa kỳ, nhắm vào sự thay đổi giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo, bảo vệ các chính trị gia phò phá thai và hôn nhân đồng tính, đồng thời thách thức và gây khó khăn cho các nhà lãnh đạo, cũng như gây  chia rẽ, chống đối trong Giáo hội Công giáo Hoa kỳ.  Chúng ta cám ơn Chúa đã không để sự kiện này xảy ra.  Thứ Sáu, ngày 20 tháng Giêng, 2017 tới đây, nhiệm kỳ tổng thống của ông Obama chấm dứt, và ông Trump sẽ tuyên thệ chính thức nhậm chức tổng thống lãnh đạo quốc gia.  Chúng ta cùng cầu xin cho vị tân tổng thống được Chúa ban nhiều ơn lành, và biết tìm thánh ý Chúa trong nhiệm vụ lãnh đạo quốc gia Hoa kỳ và thế giới, trong thời kỳ rất khó khăn và khủng hoảng này.

Chúa nhật tuần này cũng là tuần kết thúc năm Phụng vụ, vì thế Giáo hội kêu gọi chúng ta nghĩ đến lúc tận cùng của thời gian, còn được gọi là ngày tận thế.  Chúng ta thường nghe người này, người nọ bàn tán về ngày tận thế với những hiện tượng khủng khiếp và những tai ương rất đáng sợ. Có một cuốn phim giả tưởng được chiếu gần đây gây nhiều ấn tượng cho nhiều người có tên là: “Ngày Tận Cùng Của Trái Ðất.” Cũng giống như thời Noê trong bài Tin mừng Thứ Sáu vừa qua, chỉ có 50 người chuẩn bị kịp và họ đã lên một phi thuyền đặc biệt, tránh được thiên tai khủng khiếp xẩy ra cho trái đất.  Phi thuyền chở số người này tới một hành tinh khác, bảo đảm cho sự trường tồn của con người nhân loại.  Cuốn phim có nhiều hình ảnh khủng khiếp, nhưng cũng chỉ là những hình ảnh mà thôi, chủ đích của cuốn phim là mời gọi người xem suy nghĩ về một thực tại khác sâu xa hơn là thực tại của ngày tận thế. 

Ông bà anh chị em thân mến. Chúng ta nhận thấy, Kinh Thánh Lời Chúa thường dùng rất nhiều hình ảnh diễn tả và cho chúng ta biết những sự kiện sẽ xảy ra trước và trong ngày tận thế.  Bài đọc một cho chúng ta biết trong “Ngày của Chúa”, có nghĩa là ngày tận thế, những kẻ kiêu căng, những người gian tham và ác tâm sẽ bị thiêu hủy như rơm rạ, còn người công chính được sáng chói như mặt trời.  Trong bài đọc hai, thánh Phaolô cảnh báo những kẻ hiểu lầm ngày tận thế gần đến mà lười biếng không lo làm việc.  Ngài khuyên họ noi gương ngài có cuộc sống tích cực, năng động và hy sinh chịu khó chu toàn bổn phận đối với Thiên Chúa.   

Chúng ta biết trong các sách Tin mừng, Chúa Giêsu dùng rất nhiều hình ảnh để diễn tả về ngày tận thế, nhưng điểm quan trọng mà Chúa muốn chúng ta chú ý là sự xảy ra bất ngờ, và dạy chúng ta phải sống và chuẩn bị cho ngày đó như thế nào.  Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa dùng hình ảnh đền thờ Giê-ru-sa-lem bị tàn phá để báo trước về thực tại của ngày tận thế, và cho chúng ta biết sẽ có những dấu chỉ xảy ra báo trước thời điểm đó.

Kinh thánh cho chúng ta biết số phận của thành Giê-ru-sa-lem, ám chỉ dân riêng của Chúa, gắn liền với niềm tin và lòng trung thành đối với Thiên Chúa.  Lòng xác tín và trung thành của thành thánh luôn đem lại ơn sủng, thịnh vượng và bình an.  Ngược lại, tai họa luôn là hình phạt cho sự phản bội và bất trung.  Vì thế, chúng ta có thể nhận ra sự kiện thành Giê-ru-sa-lem bị tàn phá, cũng như những tai họa đáng thương xảy ra cho người Do thái sau đó như bị lưu vong tản mác khắp nơi, và cao điểm là 6 triệu người bị tàn sát dưới thời Đức quốc xã trong Đệ nhị thế chiến, đều là hậu quả của sự bất trung và từ khước  hồng ân của Thiên Chúa.  Hậu quả của sự bất trung và của sự từ khước ân sủng của Chúa thật đáng sợ.  Chúng ta thấy sự phản bội, chống đối và khước từ là một tội khủng khiếp và lãnh nhận những hậu quả khôn lường, và luôn đi đôi với hình phạt hay những sự dữ tự mình đưa đến.

Ông bà anh chị em thân mến.  Chúa Giê-su Ki-tô là hồng ân, là quà tặng cao quí của Thiên Chúa cho chúng ta.  Qua cái chết thập giá và sự phục sinh sống lại, Chúa Giê-su Ki-tô trở thành nguồn ơn cứu độ, là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống cho chúng ta.  Chúng ta có thể nhận ra sự quan phòng của Thiên Chúa qua sự tàn phá của thành Giê-ru-sa-lem vào năm 70, cũng như sự tản mác lưu vong của dân Do thái, mà Tin mừng được loan báo cho mọi dân tộc khác, và đến chúng ta hôm nay.  Nhìn vào những sự kiện này, chúng ta càng xác tín vào sự quan phòng của Thiên Chúa.  Thiên Chúa yêu thương con người nhân loại đến độ ngay cả sự bất trung và khước từ cũng có thể biến thành khởi điểm cho một hồng ân cao cả hơn.

Nhìn vào thực trạng của thế giới và xã hội hôm nay, chúng ta có thể nhận ra những nguy cơ về chiến tranh và khủng bố có thể xảy ra.  Hàng ngày những cuộc bạo động, những hành động cướp đập phá, những vụ cướp của giết người và những sự dữ xảy ra ngay trong quốc gia và thành phố chúng ta đang ở.  Vì thế không có tâm tình nào thích hợp cho chúng ta trong những ngày cuối năm Phụng vụ này cho bằng cảm tạ và phó thác. Chúng ta cảm tạ và phó thác tất cả cho Chúa, vì Ngài là Cha của chúng ta, luôn yêu thương và quan phòng cuộc đời, gia đình, giáo xứ và nhất là Giáo hội của chúng ta. Chúng ta tin vào sự quan phòng của Chúa hôm qua, hôm nay và ngày mai.  Chúng ta cầu xin Chúa ban ơn thêm sức để chúng ta luôn trung thành và can đảm sống lời Chúa dạy dù phải đối diện với bất cứ hoàn cảnh nào trong cuộc sống, vì nhờ Ngài cuộc sống của chúng ta vẫn tiếp tục có ý nghĩa và đáng sống. Và chúng ta cũng xác tín rằng chúng ta không chỉ sinh ra cho cuộc sống tạm trần gian này mà cho cuộc sống vĩnh cửu hạnh phúc đời sau.

Về mục lục

.

Exit mobile version