Blog

Lời nguyện tín hữu – Lễ Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu (01/10)

LỄ THÁNH TÊRÊSA HÀI ĐỒNG GIÊSU (01/10)

MẪU 1

DẪN VÀO THÁNH LỄ

Kính thưa cộng đoàn,
Hôm nay cùng với toàn thể Giáo hội, chúng ta hân hoan mừng kính Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu, Tiến sĩ Hội thánh và cũng là Bổn mạng của gia đình Thanh Thuyển Viện.

Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu là một vị thánh rất trẻ. Trong cuộc đời ngắn ngủi nơi trần gian, chị đã khám phá ra ơn gọi và chỗ đứng của mình, và điều chị khám phá trong thời gian ngắn đã được kéo dài mãi cho đến hôm nay trong Hội Thánh, đó là: trong lòng Giáo Hội, con chính là Tình Yêu.

Với tình yêu nồng nàn dành cho Chúa Giêsu, chị mong ước được đi truyền giáo, được tử đạo. Và chị hoàn thành những khát vọng đó trong bức tường kín của đan viện Cát Minh. Chị đổ tràn từng phút giây cuộc đời mình bằng một tình yêu phi thường. Chị được Đức Thánh Cha Piô thứ XI tôn phong lên bậc Hiển thánh năm 1925 và Đức Thánh cha Gioan Phaolô Đệ Nhị đã tuyên phong là Tiến sĩ Hội Thánh năm 1997.

Mừng kính Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng hôm nay, chúng ta cùng cầu nguyện cho gia đình Thanh tuyển, Cộng đoàn Hoàng Mai và quý Dì, quý chị em nhận Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu làm bổn mạng/ luôn biết học hỏi và noi theo gương sống của thánh nhân, để mỗi người biết sống chứng tá cho tình yêu Chúa trong thời đại hôm nay. Với tất cả tâm tình đó, chúng ta cùng hiệp dâng Thánh Lễ. Kính mời cộng đoàn đứng.

DẪN BÀI ĐỌC

Bài đọc 1 :Is 66,10-14c:
Lời Chúa trong sách ngôn sứ Isaia  mà chúng ta sắp nghe mời gọi: hãy cùng Giêrusalem vui mừng, vì  tình thương Chúa  được thông ban cách dồi dào trên  miền đất ấy.

Bài đọc 2 :Rm 8,14-17;
Trong bài đọc sau đây Thánh Phaolô quả quyết: nhờ Thần Khí, chúng ta được làm con Thiên Chúa và được  kêu lên: “Áp-ba! Cha ơi!”.

LỜI NGUYỆN CHUNG

Chủ tế: Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã trở nên một vị thánh vĩ đại, được cả thế giới ngưỡng mộ mến yêu vì chị đã sống triệt để “con đường thơ ấu thiêng liêng” mà Tin Mừng đã vạch ra. Với tấm lòng tri ân Thiên Chúa đã ban cho chúng ta một mẫu gương sáng ngời về nhân đức, chúng ta cùng dâng lên Thiên Chúa lời tha thiết nguyện xin:

  1. Hội Thánh luôn mời gọi con cái mình sống theo Tin Mừng Chúa dạy vì đây là lối sống tuyệt hảo. Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa cho mọi thành phần trong Hội Thánh, luôn biết lắng nghe và thi hành Lời Chúa.
  2. Làm những việc tầm thường với tình yêu phi thường là cung cách sống của thánh nữ Têrêsa. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho mỗi người Kitô hữu biết noi gương chị thánh, để trong đời sống thường ngày, chúng ta trở nên những chứng nhân sống động của Thiên Chúa Tình Yêu.
  3. Bác ái và hy sinh là lối sống thường xuyên của Thánh Têrêsa. Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa cho mỗi người trong cộng đoàn chúng ta, cũng biết theo gương chị thánh, để đời sống của mỗi người trong cộng đoàn luôn trổ hoa hồng thơm ngát.
  4. Trong tâm tình mừng lễ hôm nay, chúng ta cùng cầu xin Chúa cho những ai đã nhận Thánh nhân làm bổn mạng, luôn biết noi gương thánh nữ tìm kiếm Thiên Chúa, hầu mang lại hạnh phúc vô ngần cho chính mình và mọi người xung quanh.

Chủ tế:  Lạy Cha nhân lành, Cha đã mở cửa Nước Trời cho những ai bé nhỏ, khó nghèo. Xin Cha cho chúng con trong cuộc sống hằng ngày luôn biết theo chân chị Thánh Têrêsa sống đơn sơ, phó thác để được chiêm ngưỡng Thánh Nhan Cha không ngừng. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

Mẫu 2:

DẪN BÀI ĐỌC

Bài đọc Is 66, 10-14:
Lời ngôn sứ Isaia trong đoạn sách sau đây cho chúng ta cảm nếm niềm an ủi của Thiên Chúa dành cho những ai vì yêu mến Ngài mà phải than khóc.

   

LỜI NGUYỆN CHUNG

Chủ tế: Anh chị em thân mến! Qua Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu, Thiên Chúa đã mời gọi chúng ta nên thánh bằng con đường thơ ấu thiêng liêng. Với ước mong trở nên trẻ nhỏ như mời gọi của Thiên Chúa, nhờ lời Thánh Nữ chuyển cầu, chúng ta tha thiết dâng lên Thiên Chúa lời nguyện xin:

  1. “ Chỉ mình Chúa là đủ cho con”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho Đức Thánh Cha, các Giám mục, Linh mục luôn lấy Chúa là trọng tâm, là tất cả và để Chúa chiếm trọn con người mình/ để đời sống các ngài luôn chiếu toả tình yêu Chúa.
  2. Chỉ có tình yêu mới chữa lành thương tích thật sự. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho mọi người luôn vững tin vào tình thương quan phòng của Thiên Chúa giữa cơn đại dịch Covid 19 này.
  3. “Không có tình yêu, các hành vi dù sáng chói nhất cũng không đáng kể gì”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa mọi Kitô hữu biết lấy tình yêu của Chúa mà tôn trọng và bảo vệ phẩm giá của mọi người, nhất là phụ nữ và trẻ em.
  4. “Trong lòng Giáo Hội con sẽ là tình yêu”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho quý Dì, quý chị, các em Thanh Thuyển và những ai nhận Thánh Nữ Terexa làm bổn mạng, luôn biết noi gương thánh nhân, yêu mến Thiên Chúa và Giáo Hội với tình yêu lớn lao và thể hiện tình yêu đó qua những công việc hy sinh nhỏ bé hằng ngày.

Chủ tế: Lạy Chúa Cha nhân lành, nhờ lời Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu chuyển cầu, xin Chúa thương nhận những ước nguyện chúng con vừa dâng, và xin ban ơn giúp sức cho chúng con, để chúng con biết sống thánh thiện và nhiệt thành làm chứng cho Chúa trong thế giới hôm nay. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

MẪU 3

Dẫn vào Thánh lễ:

Kính thưa cộng đoàn,

Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu mà chúng ta mừng kính hôm nay / là một vị thánh rất trẻ. Trong cuộc đời ngắn ngủi nơi trần gian, chị đã khám phá ra ơn gọi và chỗ đứng của mình : là Tình Yêu trong lòng Hội Thánh.

Bằng tình yêu thanh khiết với Chúa Giêsu, chị thánh đã bất chấp thân phận bé nhỏ của mình. Chị muốn làm một vị Đại thánh. Chị mong ước được đi truyền giáo, được tử đạo . Với trái tim yêu thương của chị, thì không gì là không thể. Chị hoàn thành những khát vọng đó trong bức tường kín của đan viện Cát Minh. Chị đổ tràn từng phút giây cuộc đời mình bằng một tình yêu phi thường. Chính vì thế, chị được tôn phong bậc hiển thánh, được đặt làm tiến sĩ Hội Thánh / và bổn mạng các xứ truyền giáo.

Mừng kính chị Thánh Têrêsa, xin cộng đoàn cầu nguyện cho cộng đoàn chúng ta, cách riêng cho gia đình Thanh tuyển, cộng đoàn Hoàng Mai và quý Dì, quý chị em nhận Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu làm bổn mạng/ luôn biết học hỏi và noi theo gương sống của thánh nhân, để chúng ta cũng sẽ sống chứng tá cho tình yêu Chúa trong thời đại hôm nay.

Với tất cả tâm tình đó, chúng ta cùng hiệp dâng Thánh Lễ. Kính mời cộng đoàn đứng.

Dẫn bài đọc: Is 66, 10-14c
Lời ngôn sứ Isaia trong đoạn sách sau đây / cho chúng ta cảm nếm niềm an ủi Thiên Chúa dành cho những ai yêu mến Ngài. Kính mời cộng đoàn cùng lắng nghe.

LỜI NGUYỆN CHUNG

Chủ tế : Anh chị em thân mến, trong tâm tình cảm tạ Chúa đã ban cho Giáo Hội Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu / một vị thánh nữ trẻ trung, đơn sơ, đã hướng dẫn cho chúng ta con đường nên thánh rất đời thường nhưng vĩ đại. Giờ đây, cùng với thánh nhân, chúng ta dâng lên Thiên Chúa lời nguyện xin tha thiết :

  1. Chị thánh Têrêsa khẳng định: Chỉ một mình Chúa là đủ. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho Đức Thánh cha, các Giám mục, Linh mục, đặc biệt là Cha Chủ tế / luôn để Chúa Giêsu chiếm hữu trọn con người mình, qua đó, các ngài không ngừng diễn tả khuôn mặt Thiên Chúa Tình Yêu cho nhân loại.
  1. Trong xã hội thực dụng hiện nay, việc loan báo Tin Mừng đang gặp rất nhiều khó khăn, thử thách. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các Kitô hữu luôn giữ vững đức tin, dấn thân làm chứng cho Tin Mừng / ngay trong môi trường sống của mình.
  1. Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ, trong con hồn lặng lẽ an vui. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các bạn trẻ đang sống trong những đam mê, đang mất định hướng trong cuộc sống / biết nhận ra tình yêu của Chúa / và quay trở về với Người.
  1. Trong lòng Giáo Hội, con sẽ là tình yêu. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho quý Dì, quý chị, và tất cả những ai nhận Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu làm bổn mạng, cũng như mỗi Thanh Tuyển Sinh chúng con / luôn biết noi gương thánh nhân, yêu mến Thiên Chúa và Giáo Hội với tình yêu lớn lao / và thể hiện tình yêu đó qua những công việc hy sinh nhỏ bé hằng ngày / để cứu rỗi các linh hồn.

Chủ tế : Lạy Chúa, nhờ lời Thánh Nữ Têrêsa chuyển cầu, xin Chúa thương nhận lời chúng con khẩn nguyện, và ban ơn giúp sức, để chúng con biết sống thánh thiện và nhiệt thành làm chứng cho Chúa trong thế giới hôm nay. Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu-Kitô, Chúa chúng con. Amen.

CÁC BÀI ĐỌC

Bài Đọc I. Is 66, 10-14c

Lời Chúa trong sách Ngôn sứ I-sai-a

Các ngươi hãy vui mừng với Giêrusalem và hết thảy những ai yêu quý nó, hãy nhảy mừng vì nó. Hỡi các ngươi là những kẻ than khóc nó, hãy hân hoan vui mừng với nó, để các ngươi bú sữa no nê nơi vú an ủi của nó, để các ngươi sung sướng bú đầy sữa vinh quang của nó. Vì chưng Chúa phán thế này: “Ta sẽ làm cho sự bình an chảy đến nó như con sông và vinh quang chư dân tràn tới như thác lũ, các ngươi sẽ được bú sữa, được ẵm vào lòng và được nâng niu trên đầu gối. Ta sẽ vỗ về các ngươi như người mẹ nâng niu con, và tại Giêrusalem, các ngươi sẽ được an ủi. Các ngươi sẽ xem thấy, lòng các ngươi sẽ hân hoan, và các ngươi sẽ nảy nở như hoa cỏ, và tôi tớ Chúa sẽ nhìn biết bàn tay của Chúa”.  Đó là Lời Chúa.

Bài Đọc II. Is 66, 10-14c

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Quả vậy, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa. Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên: “Áp-ba! Cha ơi! “Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa. Vậy đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Đức Ki-tô; vì một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Người. Đó là Lời Chúa.

Bài Tin Mừng: Mt 18, 1-5

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu

Lúc ấy, các môn đệ lại gần hỏi Đức Giê-su rằng : “Thưa Thầy, ai là người lớn nhất trong Nước Trời ?”  Đức Giê-su liền gọi một em nhỏ đến, đặt vào giữa các ông và bảo : “Thầy bảo thật anh em : nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.

“Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời. Còn ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy.”  Đó là Lời Chúa.

Chiếc Thuyền Đời Con

CHIẾC THUYỀN ĐỜI CON

Lênh đênh biển cả bốn bề
Có người ước vọng trở về ấm êm
Ai ơi vất vả ngày đêm
Hai bàn tay trắng chẳng thêm được gì.

Lưới không chút nặng sao bì
Thu về nước mắt lầm lì đớn đau
Thời gian trôi chậm chẳng mau
Thuyền con sao mãi trắng phau một màn.

Ngoài kia cá lượn từng đàn
Món quà Chúa tặng đầy tràn biển khơi
Nản lòng với những chơi vơi
Tội con tái phạm tả tơi một đời.

Đức tin còn sống nửa vời
Lấy đâu đức ái sống Lời Chúa ban
Luật Dòng cũng thấy gian nan
Làm thì chẳng thấy than van thì nhiều.

Thế nhưng Chúa vẫn yêu chiều
Người thương ghé chọn chiếc thuyền đời con
Bước vào để hóa lòng son
Cho con dọn dẹp héo hon đời mình.

Bao nhiêu thói xấu bất bình
Trao vào tay Chúa hóa hình yêu thương
Bận tâm trần thế vấn vương
Trao vào tay Chúa thoảng hương giữa đời.

JITIY.

(Vâng lời Thầy, con thả lưới…)

Bạn có biết ý nghĩa của Kinh Kính Mừng không?

0
Bạn có biết ý nghĩa của Kinh Kính Mừng không?

Tất cả chúng ta đều biết đọc kinh Kính Mừng, nhưng được bao nhiêu người biết ý nghĩa thực sự của nó? Lời kinh đó muốn dạy chúng ta điều gì?

Trong cuốn sách “Maria, Mẹ của tất cả mọi người”, Đức Thánh Cha Phanxicô đã giải thích cho chúng ta biết ý nghĩa của những lời kinh rất quan trọng này.

Bà đầy ân sủng 

Sứ thần Gabriel gọi Đức Maria “đầy ân sủng” (Lc 1, 28 ): Đức Thánh Cha nói: nơi Mẹ “không có chỗ cho tội lỗi, vì từ đời đời Thiên Chúa đã chọn Mẹ của Chúa Giêsu và gìn giữ mẹ khỏi nguyên tội”.

“Và Ngôi lời đã trở thành xác phàm trong cung lòng Mẹ. Chúng ta cũng được kêu gọi lắng nghe Chúa nói với chúng ta và đón nhận ý muốn của Ngài. Thiên Chúa luôn luôn nói chuyện với chúng ta”.

Thiên Chúa ở cùng bà

Đức Thánh Cha nói : điều đã xảy ra nơi Đức Mẹ Đồng Trinh theo cách độc đáo thì “cũng xảy ra nơi chúng ta trong mức độ tâm linh khi chúng ta tiếp đón Lời Chúa bằng con tim vui vẻ và chân thành và biết đem ra thực hành”. Điều đó xảy ra như thể Thiên Chúa chiếm hữu thân xác chúng ta, Ngài đến và ở trong chúng ta, vì Ngài cư ngụ nơi những ai yêu mến và tuân giữ lời Ngài. Thật không dễ để hiểu được điều này, nhưng có thể dễ dàng cảm nhận được nó trong tâm hồn”.

“Chúng ta nghĩ rằng việc nhập thể của Chúa Giêsu chỉ là một hành động của quá khứ chứ không liên quan gì đến đời sống cá nhân của chúng ta sao? Tin vào Chúa Giêsu có nghĩa là hiến dâng cho Ngài thân xác của chúng ta, bằng sự khiêm tốn và can đảm của Đức Maria.

Bà có phước lạ ơn mọi người nữ

Đức Maria đã sống đức tin này thế nào? – ĐTC trả lời : “Mẹ đã sống giản dị giữa trăm nghìn công việc và lo lắng của một người mẹ mỗi ngày, chẳng hạn như cung cấp thức ăn, quần áo, chăm sóc nhà cửa… Cuộc sống đời thường của bà mẹ này ở trần gian là nơi diễn ra mối tương quan cá nhân và đối thoại sâu xa giữa Mẹ với Thiên Chúa, giữa Mẹ với Con của mình”.

Và Giêsu con lòng Bà gồm phước lạ

Đức Maria dễ tiếp thu nhưng không thụ động.

“Ở mức độ tự nhiên, Mẹ đón nhận sức mạnh của Chúa Thánh Thần rồi dâng hiến máu thịt mình cho Con Thiên Chúa để Ngài được hình thành nơi Mẹ, về mặt thiêng liêng, Mẹ đón nhận ân sủng và đáp lại điều đó bằng đức tin của mình”. Về điều này thánh Augustinô giải thích rằng : Đức Trinh Nữ “trước hết đã thụ thai trong tâm hồn và sau là trong cung lòng Mẹ. Mẹ đã thụ thai trước là đức tin và sau là Thiên Chúa”.

Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời

ĐTC giải thích : Mẹ của Đấng Cứu Chuộc, “đi trước chúng ta và liên tục củng cố chúng ta trong đức tin, ơn gọi và sứ vụ. Với mẫu gương khiêm nhường và sẵn sàng làm theo ý Chúa, Mẹ giúp chúng ta chuyển đổi niềm tin của mình thành lời loan báo Tin Mừng và không biên giới”.

Cầu cho chúng con là kẻ có tội

Để giải thích ý nghĩa của đoạn kinh này, ĐTC kể lại một câu chuyện :

“Tôi nhớ có một lần ở đền thánh Luján, tôi ngồi trong tòa giải tội và trước tôi là một hàng dài những tội nhân. Có một cậu bé ăn mặc rất hiện đại, đeo bông tai, xăm trổ cùng mình… Cậu ấy đã đến kể cho tôi những gì đã xảy ra với cậu ấy. Đó là những vấn đề nghiêm trọng, khó khăn. Và cậu ấy nói với tôi : con cũng kể tất cả mọi thứ cho mẹ của con, và mẹ khuyên con hãy chạy đến với Đức Mẹ, Mẹ sẽ cho con biết con sẽ phải làm gì. Vậy đó, một người phụ nữ có món quà là lời khuyên. Bà ta không biết làm sao để thoát khỏi vấn đề của con trai mình, nhưng đã chỉ ra một con đường đúng đắn : hãy đến với Đức Mẹ, Mẹ sẽ chỉ cho con. Món quà ở đây là lời khuyên. Bà mẹ đó khiêm tốn, đơn sơ, đã cho con mình lời khuyên rất đúng. Đúng thế, cậu bé này đã nói với tôi : Con đã trông lên Đức Mẹ và con đã cảm thấy con phải làm điều này, điều kia… Món quà ở đây là lời khuyên. Các bà mẹ có món quà này, hãy cầu xin nó cho con cái của mình. Món quà khuyên dạy con cái là ơn của Thiên Chúa”.

Khi này và trong giờ lâm tử

Chúng ta hãy phó thác cho Đức Maria “bởi vì Mẹ là mẹ của người anh đầu lòng, là Chúa Giêsu; xin Mẹ dạy cho chúng ta có được như Mẹ, tinh thần mẫu tử đối với con cái của mình, với khả năng chân thành đón nhận, tha thứ, gia tăng sức mạnh và truyền dẫn niềm tin và hy vọng. Đó là tất cả những gì làm nên một người mẹ”.

Hành trình tiến về quê Trời của Đức Maria đã bắt đầu “từ tiếng thưa “vâng” ở Nazareth, khi đáp lại lời của Sứ giả nước trời, người đã loan báo cho Mẹ biết ý muốn của Thiên Chúa. Và thực sự là như thế, mỗi khi chúng ta thưa “xin vâng” theo ý Thiên Chúa là chúng ta tiến một bước về quê Trời, tiến về cuộc sống vĩnh cửu”.

Gelsomino Del Guercio
Tác giả bài viết: G. Võ Tá Hoàng
gpquinhon.org

 

Nơi Góc Phòng, Nó Gặp Lại Chính Mình

NƠI GÓC PHÒNG, NÓ GẶP LẠI CHÍNH MÌNH

Có những buổi chiều, nó thích ngồi thật yên bên khung cửa sổ. Không làm gì cả, không cầm điện thoại, không vội vàng hoàn thành một công việc nào đó. Nó chỉ ngồi im, nhìn những vệt nắng cuối ngày chậm rãi nghiêng qua ô cửa, rơi xuống mặt bàn rồi nhạt dần trong khoảng chiều đang buông. Những lúc như thế, lòng nó thường trở nên rất lạ. Giữa sự tĩnh lặng của hiện tại, nó lại nghe thấy những âm thanh của quá khứ, nhớ về một nó của ngày trước – một người trẻ từng sống rất nhanh, từng cố gắng rất nhiều, nhưng lại chẳng biết mình đang cố gắng vì điều gì.

Ngày ấy, cuộc sống của nó dường như chỉ xoay quanh học hành, công việc, những deadline nối tiếp nhau và những trách nhiệm không bao giờ có điểm dừng. Nó quen với việc chạy thật nhanh, quen với những cuộc trò chuyện xã giao nơi công sở, quen với việc mỉm cười ngay cả khi trong lòng đã mỏi mệt. Nó cố gắng để mình trở nên tốt hơn trong mắt mọi người, cố gắng để không ai thấy mình thất bại, cố gắng để chứng minh rằng nó vẫn ổn. Nhưng càng cố gắng, nó càng nhận ra bên trong mình có một khoảng trống không biết gọi tên. Có những đêm, nó ngồi một mình bên cửa sổ rất lâu, lặng im nhìn lên cây Thánh Giá nhỏ trong phòng. Nó bắt đầu nói chuyện với Chúa. Đó chẳng phải những lời cầu nguyện sốt sắng hay những câu chữ thật đẹp. Đôi khi chỉ là một tiếng thở dài, một lời than thở rất nhỏ: “Chúa ơi, con phải đi đâu?” Hay đơn giản chỉ là kể cho Chúa nghe những chuyện xảy ra trong ngày.

Nó không biết từ lúc nào, giữa những mệt mỏi và hoang mang ấy, nó bắt đầu nhận ra một điều rất nhẹ: Chúa vẫn ở đó. Ngài không đến bằng một biến cố lớn lao hay một dấu chỉ khiến nó hiểu được tất cả. Chỉ là một sự thôi thúc rất khẽ nhưng dai dẳng, như một tiếng gọi len qua những ồn ào của cuộc sống và chạm vào nơi sâu nhất của tâm hồn. Nó hiểu rằng có lẽ Chúa không muốn nó cứ mãi chạy. Ngài muốn nó dừng lại, nhìn vào chính mình, lắng nghe và nhận ra một tiếng gọi khác – tiếng gọi không đến từ những thành công hay những tiêu chuẩn của người đời, nhưng đến từ chính Thiên Chúa.

Và rồi nó đã bước đi.

Nó vẫn nhớ như in ngày mình ra đi. Hành trang chẳng có gì nhiều, chỉ vỏn vẹn một chiếc vali nhỏ và chiếc ba lô, vậy mà trong đó dường như chứa cả một cuộc đời. Nó rời xa nơi mình đã gắn bó suốt 23 năm, mang theo trên vai những lo lắng của gia đình và trong tim là một tiếng mời gọi khe khẽ. Nó bước đi mà chẳng dám ngoảnh đầu nhìn lại. Không phải vì nó không lưu luyến, mà bởi nó sợ chỉ cần một lần quay lại, bắt gặp ánh mắt của mẹ, lòng nó sẽ mềm đi, những bước chân đang cố can đảm sẽ chùn xuống, và nó sẽ không đủ sức để bước tiếp.Nó bước đi không phải vì đã hiểu hết, cũng chẳng phải vì mạnh mẽ hơn ai. Nó chỉ biết trong lòng mình có một tiếng gọi mà nó không thể tiếp tục làm ngơ.

            Thấm thoắt, nó đã bước vào môi trường Thanh tuyển được tròn một năm. Một năm không quá dài, nhưng đủ để nó nhận ra rằng hành trình theo Chúa không phải là hành trình của những con người hoàn hảo. Nó chỉ là một thanh tuyển bình thường, không có cấp bậc nào, cũng chẳng phải một người đi trước với đủ kinh nghiệm để chỉ đường cho người khác. Nó vẫn là nó – một người trẻ với nhiều giới hạn, vụng về, yếu đuối và đôi khi vẫn loay hoay với chính mình. Nhưng có lẽ chính những giới hạn ấy lại giúp nó hiểu rằng người ta không bước vào hành trình này vì đã hoàn hảo, mà vì muốn để Chúa từng ngày uốn nắn và biến đổi.

Nó nhớ về khóa định hướng ơn gọi. Giữa rất nhiều khuôn mặt còn xa lạ, ánh mắt nó vô tình dừng lại nơi một người chị đang ngồi lặng lẽ ở góc phòng. Chị không nói nhiều. Dáng chị có chút rụt rè, đôi bàn tay gầy đan chặt vào nhau, nụ cười trên môi dường như vẫn còn giấu đâu đó một chút ngập ngừng. Nó không biết câu chuyện của chị, cũng không biết trước đó chị đã trải qua những gì. Nhưng chỉ một khoảnh khắc nhìn chị, sống mũi nó lại cay lên. Bởi trong chị, nó nhìn thấy mình – không phải nó của ngày hôm nay, mà là nó của những ngày trước khi bước vào đây. Nó nhìn thấy nơi chị một người trẻ đang mang theo rất nhiều điều từ thế giới bên ngoài: những kỳ vọng của gia đình, những dự định còn dang dở, những áp lực của công việc, những mỏi mệt sau những tháng ngày bon chen và cả nỗi sợ trước một tương lai chưa biết sẽ đi về đâu. Có lẽ chị cũng đã từng có những đêm thao thức, từng tự hỏi mình có đang lựa chọn đúng không, từng sợ rằng nếu bước ra khỏi vùng an toàn, mình sẽ làm ai đó thất vọng. Để có thể ngồi ở nơi ấy, nó biết chị đã phải vượt qua rất nhiều giằng co trong lòng. Bởi để bước về phía một tiếng gọi vô hình, đôi khi người ta phải can đảm buông khỏi những điều rất hữu hình. Nhìn chị, nó chợt hiểu rằng giữa nó và chị chẳng có khoảng cách nào cả. Nó cũng từng mỏi mệt, từng hoang mang, từng có những câu hỏi chưa tìm được lời giải. Và có lẽ, sâu xa hơn hết, cả nó và chị đều đang đi tìm một nơi mà tâm hồn mình có thể được bình an.

Có lẽ đó cũng là một trong những điều đẹp nhất nó nhận được sau một năm ở Thanh tuyển. Nó từng nghĩ rằng mình đến đây để tìm Chúa. Nhưng rồi nó nhận ra, trên hành trình ấy, Chúa lại cho nó gặp rất nhiều con người. Và qua họ, nó gặp lại chính mình: gặp lại những nỗi sợ từng có, những câu hỏi từng đặt ra, và cả một phiên bản của mình đã từng rất cần một người ngồi bên cạnh, không phán xét, không thúc ép, chỉ đơn giản là lắng nghe.

Một năm nhìn lại, nó càng hiểu rằng ơn gọi không phải là câu chuyện của những con người phi thường. Ơn gọi bắt đầu từ những con người rất bình thường – những con người có những vết thương, những giới hạn, những lúc yếu lòng, nhưng vẫn dám mở cửa lòng để Chúa bước vào và làm nên điều mới mẻ.

Nó không biết tương lai của mình sẽ như thế nào. Nó không biết những năm tháng phía trước sẽ đưa mình đến đâu. Nó chỉ biết hôm nay nó vẫn đang bước, có khi chậm, có khi vụng về, có khi chao đảo. Nhưng nó tin rằng, chỉ cần mình còn biết lắng nghe, Chúa sẽ không để nó đi lạc. Và nếu một ngày nào đó nó lại gặp một người trẻ đang ngồi lặng lẽ nơi góc phòng, mang trong lòng những câu hỏi chưa có lời giải, nó mong mình sẽ nhớ đến chính mình của ngày xưa. Nó mong mình đủ kiên nhẫn để ngồi xuống, đủ khiêm nhường để không phán xét, đủ dịu dàng để lắng nghe và đủ tin tưởng để thưa với Chúa: “Lạy Chúa, này con đây. Xin Chúa dẫn đường cho con.” Bởi nó đã từng mang theo một thế giới đầy tiếng ồn trong lòng. Chính Chúa đã dạy nó bước vào thinh lặng để nghe tiếng Ngài. Giờ đây, nó chỉ mong mình cũng có thể trở thành một khoảng lặng nhỏ bé cho một người khác, để giữa một thế giới vẫn không ngừng huyên náo, chị có thể được dừng lại, được thở, được lắng nghe và nhận ra rằng đâu đó trong những hoang mang của mình, Thiên Chúa vẫn đang âm thầm gọi tên chị.

Chiều nay, giọt nắng cuối ngày vẫn nằm yên trên mặt bàn bên ô cửa sổ. Nó ngồi đó và mỉm cười. Một năm trước, nó từng ngồi bên cửa sổ để tìm câu trả lời cho cuộc đời mình. Còn hôm nay, nó ngồi đó để tạ ơn – tạ ơn vì đã có một ngày Chúa gọi nó dừng lại, tạ ơn vì Ngài cho nó đủ can đảm để bước khỏi những điều quen thuộc, và tạ ơn vì trên hành trình đi tìm Ngài, nó lại được gặp những tâm hồn đang cùng mình bước đi. Và đặc biệt, tạ ơn vì đã có một người chị nơi góc phòng ngày ấy để nó nhận ra rằng: Có những lúc Chúa cho ta gặp một người không phải để ta dẫn họ đi, mà để qua họ, Ngài nhắc ta nhớ mình đã từng được Ngài dẫn đi như thế nào.

Có lẽ, nó và chị vẫn chỉ là những người trẻ đang chập chững trên hành trình tìm kiếm. Nhưng nó tin rằng, nếu trong lòng còn giữ được một khoảng lặng đủ mềm, cả hai sẽ vẫn nhận ra tiếng Chúa giữa muôn vàn âm thanh của cuộc đời. Và rồi, từng bước một, dù chưa biết con đường phía trước dài bao xa, nó và chị vẫn có thể can đảm bước đi. Bởi điều quan trọng không phải là chúng ta đã đi được bao xa, mà là mỗi ngày chúng ta vẫn còn nghe thấy tiếng Chúa gọi mình tiến về phía trước.

Anna Nguyễn Thúy- Thanh Tuyển Sinh HD Mến Thánh Giá Thủ Đức

Biết mình – bước đầu tiên cho tiến trình huấn luyện linh mục, tu sĩ

0

Biết mình – bước đầu tiên cho tiến trình huấn luyện linh mục, tu sĩ

Biết mình là khởi đầu của mọi khôn ngoan. Ngày xưa, ở bên Đông, Lão Tử (604 TCN), triết gia người Trung Quốc quả quyết rằng: “Biết mình, biết người, trăm trận trăm thắng.” Nơi khác, chính ông khẳng định: “Biết người thì khôn, biết mình thì sáng.” Ở bên trời Tây, Socrate (469 – 399 TCN), một triết gia nổi tiếng người Hy lạp, đã để lại một sứ điệp cho con người mọi thời khi nói: “Tiên vàn bạn hãy biết mình.
Mục tiêu đầu tiên của hành trình huấn luyện là giúp người thụ huấn biết mình. Vì thế, đào tạo là một quá trình giúp người thụ huấn trở về với chính mình để nhận biết mình, khám phá những tiềm năng và những giới hạn của bản thân. Đây là bước đầu tiên và rất quan trọng cần phải thực hiện.

1. Biết mình thật khó nhưng cần thiết

Trong cuộc sống, có một điều làm cho chúng ta phải suy nghĩ đó là chúng ta biết đủ thứ nhưng lại rất ít biết mình. Chúng ta cố gắng học nhiều thứ nhưng lại ít học để nhận biết mình. Chúng ta có thể khám phá vụ trụ, thế giới bao la, học hỏi nhiều môn khoa học khác nhưng lại ít để tâm chinh phục chính mình.
Hơn nữa, việc nhận biết chính mình là một công việc khó khăn và phức tạp vô cùng. Dù già hay trẻ, đã nhiều lần chúng ta nói: “Thật sự, tôi không hiểu được tôi.” Điều đó rất đúng và cũng chẳng lạ gì vì con người thường không hiểu chính mình. Con người chỉ đi từ từ từng bước trong việc hiểu biết bản thân, tự mình nó và cùng với nhân loại.[1] Các triết gia, thần học gia cũng như các bậc thầy tu đức trong Giáo Hội đều công nhận: biết mình khó vô cùng. Người Việt Nam diễn tả sự khó khăn đó trong câu ca dao: “Sông sâu còn có kẻ dò, nào ai lấy thước mà đo lòng người.”
Chúng ta không hiểu hết chính mình bởi vì mỗi người là một thế giới vô cùng huyền bí, sống động và phong phú, nếu không muốn nói là vô cùng phức tạp. Đối diện với con người là đối diện với một huyền nhiệm lớn lao. Trong chúng ta, có những khoảng không gian sâu thẳm, mà chúng ta ít khi để tâm khám phá tường tận, đó là thế giới nội tâm của chính mình, là sự tổng hòa kỳ lạ giữa các tầng nấc thể lý, tình cảm và tinh thần trong con người.
Quả thế, theo cái nhìn của Kitô giáo về con người, mỗi người là một huyền nhiệm, một nhân vị, chứ không phải là một sự vật, đồ vật hay như một “vấn đề”[2]. Mỗi người được Thiên Chúa tạo dựng một cách kỳ diệu, nên mỗi người là một nhân vị hết sức độc đáo, duy nhất và không thể thay thế. Mỗi người có những vẻ đẹp, sự phong phú, những tiềm năng, sở trường và sở đoản riêng. Mỗi người có sự khác biệt, không ai giống ai. Mỗi người có một phẩm giá vô cùng cao quý như Kinh Thánh cho biết: “Con người là hình ảnh Thiên Chúa” (St 2,3).
Chính vì sự phong phú đó mà chúng ta ít hiểu biết mình cách trọn vẹn. Nhưng biết mình là bước đầu tiên và quan trọng để có thể đào tạo mình nên người tốt, nên một Kitô hữu trưởng thành, trở thành một linh mục hay một tu sĩ thánh thiện. Đào tạo phải giúp ứng sinh trở về với chính mình để nhận biết mình. Bởi vì, biết mình là điều kiện tiên quyết của mọi thay đổi nội tâm, tinh thần và nhân cách.

2. Làm sao để biết mình?

Hành trình huấn luyện được bắt đầu từ khi ứng sinh biết được con người thật của mình. Nói một cách cụ thể, đó là khi ứng sinh nhận biết những mặt mạnh và mặt yếu, những vùng tự do và thiếu tự do, nhờ đó mà họ có thể quảng đại “xin vâng” khi đáp lại lời mời gọi, đồng thời họ biết rằng giữa con người hiện thực của mình và dự phóng của Thiên Chúa nơi họ vẫn còn một con đường dài.[3]
Để nhận biết mình, trước hết cần phải nhận biết căn tính của mình và sau đó là khám phá sự thật con người của mình.

2.1. Ý thức mình là ai

Biết mình trước hết là sự nhận biết mình là ai. Đây là sự nhận ra hay xác nhận căn tính mình để sống đúng với căn tính đó. Nếu không ta sẽ bị vong thân hay vong ngã. Nghĩa là ta đánh mất chính mình, không xác định được mình là ai, không hình thành được căn tính của mình. Đây quả là một thứ đánh mất nền tảng! Ngày hôm nay có nhiều người đánh mất ý thức về căn tính của mình. Có nhiều bạn trẻ sống trong tình trạng mập mờ về căn tính nơi họ. Giáo dục tiên vàn phải giúp cho người thụ huấn ý thức về căn tính của mình, nhận thức cái tôi hiện tại mà mình đang có và cái tôi lý tưởng mà mình được mời gọi trở thành. Với tư cách là một con người, mỗi người là một hữu thể có ý thức và tự do. Mỗi người được mời gọi lớn lên trong ý thức, để làm chủ bản thân, và lớn lên trong tự do, để chịu trách nhiệm về bản thân. Với tư cách là một Kitô hữu, để siêu việt bản thân, ta được mời gọi sống trong tương quan liên vị mật thiết với Thiên Chúa và với tha nhân. Với tư cách là người theo Chúa trong ơn gọi tu trì, ta được mời gọi yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự (x. Mc 12,29-30) và hiến thân phục vụ tha nhân theo gương của Đức Kitô. Ý thức tôi là ai giúp ta xây dựng đời mình, thể hiện mình và phát triển mình theo căn tính đó.

2.2. Nhận biết sự thật về mình

Biết mình là một quá trình trở về khám phá chính bản thân, đối diện với con người thật của mình, khám phá hành vi, thái độ, tình cảm, những khuynh hướng, khả năng, tiềm năng, tính tình, nhu cầu, động lực thúc đẩy và những giới hạn, khuyết điểm, tật xấu cũng như những sự bất nhất và xung đột trong con người ta. Đây là sự hiểu biết, sự khám phá càng ngày càng sâu về chính bản thân mình.

– Cách hành xử và thái độ:

Trước hết, ứng sinh phải chú trọng đến hành vi và thái độ của mình. Chúng ta biểu lộ mình cách dễ thấy nhất qua hành vi và thái độ. Những tình cảm và động lực bên trong sẽ thể hiện ra bên ngoài qua thái độ và cách hành xử của chúng ta. Ta phải lưu ý đến các thói quen, các phát biểu, các mối tương quan, phản ứng, thái độ tích cực hay tiêu cực trước cuộc sống, sự đồng nhất hay bất nhất giữa lời nói và việc làm. Các hành vi và thái độ cần được nhận biết và phân định theo nguyên tắc:“Ở đâu thiếu sự mạch lạc giữa giá trị mà họ tuyên xưng và hành vi họ thực hiện, nơi ấy cần phải xem xét cẩn thận.”[4] Hành vi và thái độ của tôi có phù hợp với Lời Chúa dạy không? Chúng có phù hợp với sự chân thật trong lòng mình không? Hay chỉ là “ngoài miệng thơn thớt nói cười, mà trong nham hiểm giết người không dao” như cụ Nguyễn Du diễn tả.

– Những tình cảm và cảm xúc:

Tôi có trưởng thành về mặt tình cảm và cảm xúc chưa? Hỉ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục trong tôi như thế nào, có phù hợp với đời tu không? Huấn luyện con người và nhất là huấn luyện linh mục – tu sỹ đòi hỏi quan tâm và huấn luyện cảm xúc, tình cảm và tâm tình của ứng sinh. Cần phải giúp họ nhận biết, lớn lên và trưởng thành con tim.

– Các khuynh hướng:

Khuynh hướng vị kỷ hay vị tha, quy ngã hay quy xã hội, hoặc quá thích tiền bạc, quyền lực, hoặc quá lập dị, cá nhân chủ nghĩa, gây hấn hoặc nhu nhược… Biết mình là biết các khuynh hướng đó. Cái nào bị phình to ra, cần phải nhận biết để điều chỉnh cho phù hợp và quân bình.

– Những động lực thúc đẩy:

Một cách chung chung, động lực thường được hiểu như một ước muốn, một khao khát thực hiện một dự phóng, một mục tiêu nào đó của cuộc sống. Động lực này có những yếu tố bên trong và những yếu tố bên ngoài. Các yếu tố bên trong nằm ở tầng sâu thẳm của nội tâm mỗi người.
Nhận biết những động lực thúc đẩy ta hành động đóng vai trò quan trọng trong giáo dục. Đó là sự nhận biết giúp ta hiểu “tại sao ta hành động”.
Sự nhận biết này giúp ta nhận diện và phân định các động lực thúc đẩy ta hành động. Có những động lực thuộc ý thức, có những động lực vô thức và có những động lực siêu nhiên. Chúng có phù hợp với đạo lý và lương tâm không? Nhất là chúng có phù hợp với các tiêu chuẩn của Tin Mừng không? Ta cần phải xem xét các động lực thúc đẩy. Một hành vi nhân linh có thể được thực hiện bởi rất nhiều lý do khác nhau. Ví dụ: một hành vi bác ái giúp người nghèo, nhưng hành vi đó có thể được thúc đẩy bởi lý do siêu nhiên như Chúa Giêsu dạy, hay bởi lý do tâm lý và nhân loại như để được nhận biết, để quảng cáo mình hay gây sự chú ý của người khác; hoặc giúp người nghèo để được người khác giúp lại mình theo kiểu “hợp tác nuôi cá, cá nuôi xã mình” v.v…
Khi chọn lựa đời sống tu trì, ứng sinh có thể được thúc đẩy bởi nhiều động lực khác nhau. Có những động cơ ban đầu rất trần tục và nhân loại. Ta có thể kể ra một số động cơ:
Đi tu để thoát ly đời sống gia đình bất hạnh; để tìm kiếm đặc ân; thỏa mãn tham vọng của cha mẹ; cần có một người cha hay người mẹ; sợ đàn ông hay đàn bà (tương giao); tìm an toàn; được kính trọng vv… Đây là những động cơ giống với trường hợp của hai anh em Gioan và Giacôbê: theo Chúa để được ngồi bên hữu, bên tả Chúa trong vương quốc Người (x. Mc, 10,20-37).
Có những động cơ siêu nhiên. Đó là những động cơ phát xuất từ sự trưởng thành tâm linh khi bước theo Chúa. Hoặc là từ chính ân sủng của Thiên Chúa lôi kéo và thúc đẩy một ứng sinh theo Chúa. Đi tu vì tình yêu Chúa và dâng hiến chính mình phục vụ tha nhân.
Các ứng sinh cần thanh luyện những yếu tố “trần tục và nhân loại” trong ước muốn trở thành linh mục hay tu sĩ. Tiếp đến, họ cần phải vun trồng động lực chính đáng của ơn gọi: là muốn biết và yêu mến Chúa Giêsu, muốn giúp người khác cũng nhận biết và yêu mến Chúa Giêsu. Đây là “ý hướng ngày lành” để theo Chúa, là động lực chính yếu và căn bản của ơn gọi tu trì mà Giáo Luật đòi hỏi. Để xây dựng một ý hướng ngay lành trong ơn gọi, các ứng sinh cần có xác tín như thánh Phaolô: “Tôi coi tất cả là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rơm rác, để được Đức Kitô” (Pl 3,8).

– Những xung đột nội tâm:

Biết mình bao gồm việc nhận biệt các xung đột nội tâm. Đây là sự xung đột giữa lý tưởng, giá trị và sự thiếu trưởng thành, hoặc bệnh hoạn tâm lý, hoặc sự phình to các khuynh hướng. Hay đúng hơn những xung đột nội tâm là hậu quả của sự rối loạn, thiếu hòa điệu giữa tình cảm, động lực thúc đẩy và cách hành xử, đời sống luân lý với các giá trị và lý tưởng mà mình theo đuổi. Cần phải nhận diện những nguyên nhân gốc rễ của những sự bất nhất hay những xung đột đó. Nhận biết những sự bất nhất và mảnh gãy giữa các tầng nấc thể lý, tình cảm và tinh thần trong con người chúng ta để hòa điệu và hội nhập các yếu tố đó, hiệp nhất chúng nên một trong cùng một bản vị duy nhất.
Tất cả những điều này được khám phá trong sự liên hệ hiện nay giữa quá khứ và hiện tại, hay giữa cái tôi hiện tại và cái tôi mà lẽ ra họ đã thể hiện và phải thể hiện, cùng với những điều tích cực và tiêu cực trong cuộc mạo hiểm của mọi thụ sinh.

3. Từ chân thành đến sự thật
Như đã nói ở trên, biết mình thật quan trọng, vì nếu không biết mình thì không thể trưởng thành, không thể có biến đổi trong huấn luyện. Nhưng việc biết mình phải được thực hiện như thế nào?
Trước hết, chúng ta cần phải làm sáng tỏ điều này: nếu người thụ huấn biết mình một cách chân thành thôi thì chưa đủ, mà họ còn phải biết mình một cách chính xác. Vì chân thành thì chủ quan, còn sự thật thì khách quan. Chỉ chân thành với mình mà thôi chưa phải là điều kiện cần và đủ của sự chính xác. Và họ cũng không ngờ rằng giữa sự chân thành và sự thật họ là ai còn có một khoảng cách dài thăm thẳm.[5]
Thật vậy, có những sự hiểu biết về mình nhiều khi còn rất chủ quan và giới hạn, cần phải vượt ra biên giới chủ quan để tiến tới sự hiểu biết về chính mình như mình đang là một cách khách quan. Đó là sự hiểu biết chính mình dựa theo sự thật về mình, không trốn tránh, không giả vờ, không phỏng chiếu, không đeo mặt nạ đối với chính mình. Người biết mình theo sự thật là người nhận biết cả những nguyên nhân ẩn bên trong các hành vi và tâm tư của mình. Ta không chỉ nhận biết và thấu hiểu cảm xúc trong lòng mà ta dễ nhận ra, nhưng còn phải biết cảm xúc ấy bắt nguồn từ đâu – cội nguồn đích thật – và điều đó không phải lúc nào cũng hiển nhiên và dễ nhận thấy. Chẳng hạn: một người nhận mình thường có khuynh hướng bám víu các mối tương quan, khao khát và tìm kiếm tương giao vv…, người đó không chỉ nhận biết những điều đó nhưng còn phải khám phá cho biết chúng phát xuất từ đâu, sự thật đó phát xuất từ nhu cầu nào (trong trường hợp này có thể từ nhu cầu muốn được yêu thương)[6].
Thứ đến, họ phải tìm ra nguồn gốc và sự phát triển của nhu cầu ấy trong cuộc sống quá khứ của mình. Khi họ khám phá được gốc rễ của cảm xúc hay tìm kiếm sự thật của mình trong quá khứ, điều đó thường giúp họ hiểu rõ một số nhu cầu nhất định trong đời sống tinh thần và những tính khí, tâm trạng liên quan đến nhu cầu đó, hay hiểu được vai trò năng động tâm lý của xu hướng nội tâm: ví dụ, nhu cầu yêu thương quá mức có thể bắt nguồn từ một hình ảnh bản thân nghèo nàn, hay từ thói quen lôi kéo sự chú ý của người khác, hay từ nỗi sợ cô đơn vv… Nếu họ nhận diện gốc rễ của cảm xúc ấy một các chính xác, họ có thể can thiệp trên chính gốc rễ chứ không chỉ can thiệp trên hành vi.
Giáo dục là giúp ứng sinh có khả năng nắm bắt được sự thật, ngõ hầu họ có thể quản lý sự tự do của mình. Quả là ngây ngô nếu xem việc biết mình như một chuyện đương nhiên. Ai không muốn khám phá sự thật của mình, thì cũng không bao giờ có tự do. Nếu trong thời gian đào tạo, ứng sinh không khám phá được sự thật của mình, thì chẳng hy vọng gì trong tương lai họ sẽ khám phá được; trong khi đó tất cả tiến trình huấn luyện hiện tại đã có nguy cơ rơi vào quên lãng hay đưa đến hậu quả thiếu hữu hiệu và không có kết quả đối với họ.
Như thế, điều quan trọng là người thụ huấn phải khám phá tất cả những điều ấy càng sớm càng tốt, ngõ hầu họ tập trung sự khôn ngoan vào việc huấn luyện: chỉ khi nào họ ở trong sự thật, họ mới có thể thực hiện cuộc hành trình của sự thật.[7] Vì như Chúa Giêsu nói: “Sự thật sẽ giải phóng các con” (Ga 8,32).

Tạm kết
Như vậy, có thể nói rằng: giai đoạn đầu tiên và nền tảng của quá trình huấn luyện là giai đoạn khám phá bản thân để biết mình. “Giáo dục là đánh thức lương tâm người thụ huấn để họ nhận ra sự thật đang hiện diện trong lương tâm mình, sao cho họ có khả năng tự suy luận, tự phán đoán và tự do trong một thế giới mà tự do là một sự mạo hiểm, một sự thủ đắc và không bao giờ là điều có sẵn hay một quà tặng phú bẩm”.[8]
Giáo dục là đưa ra những chỉ dẫn rõ ràng để giúp ứng sinh “lôi kéo” sự thật của mình ra. Nếu một ứng sinh không bao giờ khám phá được sự thật của mình, thì chẳng bao giờ hy vọng người đó sẽ khám phá được gì về mình hoặc họ sẽ có những thay đổi nào trong tương lai.

LM Pet. Nguyễn Văn Hương

 

Tài liệu tham khảo:

1.  A. Cencini, Tâm Tình Chúa Con. Hành Trình Huấn Luyện Đời Sống Thánh Hiến. Nxb Tôn Giáo, 2012.
2.  Michel Quoist (Nguyễn Thị Chung dịch), Xây Dựng Con Người Nhân Bản, Nxb Tôn Giáo, 2000.
3.  E. Balduci, L’Insegnamento di don Milani, Roma 1995, 100.
4.  Alessandro M. Ravaglioli, Psicologia. Studio interdisciplinare della personalità, EDB, Bologna 2006.
_______________
[1] Michel Quoist (Nguyễn Thị Chung dịch), Xây Dựng Con Người Nhân Bản, Nxb Tôn Giáo – 2000, 11.
[2] Triết Gia Gabriel Marcel phân biệt: phạm trù huyền nhiệm và phạm trù vấn đề. Phạm trù huyền nhiệm thì không thể cân đong đo đếm được, cần phải kiên nhẫn khám phá và tiếp cận dần dần, càng khám phá, càng thấy mới mẻ. Còn phạm trù vấn đề là thuộc phạm vi khoa học, có thể đo lường được như 2 x 2 = 4.
[3] A. Cencini, Tâm Tình Chúa Con. Hành Trình Huấn Luyện Đời Sống Thánh Hiến, Nxb Tôn Giáo – 2012, 235.
[4] A. Cencini, sđd, 248.
[5] A. Cencini, sđd, 141.
[6] Ibid.
[7] A. Cencini, sđd, 140; 224.
[8] E. Balduci, L’Insegnamento di don Milani, Roma 1995, 100.

Thập giá và bóng tối trong đời tận hiến

0

Thập giá và bóng tối trong đời tận hiến

Cuối đời, Chúa Giêsu đã có cảm tưởng như bị Cha mình bỏ rơi. Ngài đã kêu “Lạy Thiên Chúa, Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” lúc bị treo trên thập giá (x. Mc 15,33-34). Thân xác Ngài đã bị bầm giập vì đòn roi, linh hồn Ngài hoàn toàn thiếu vắng sự an ủi. Nhưng chính từ trong tâm hồn tan nát ấy, những dấu chỉ của sự sống mới đã chảy ra.‘Chúa Giêsu là Thiên Chúa trao ban trọn vẹn con người Ngài cho ta, dốc cạn mình cho ta. Chúa Giêsu không giữ lại cũng không bám vào những sở hữu của Ngài. Ngài cho tất cả những gì Ngài có để cho’ (Henri Nouwen).
Đức Giêsu Kitô cả đời hiến thân phục vụ con người nhưng lại chết trong sự cô đơn, vô ơn tủi nhục, thất bại thảm hại như thế. Ngài được ca ngợi và cũng bị chỉ trích, được ngưỡng mộ và cũng bị khinh khi; Ngài được người ta xin làm vua và cũng bị người ta đóng đinh vào thập giá.. Lúc bấy giờ không gian tối tăm! Lòng người càng tăm tối! Sự cô đơn ghê gớm kèm theo nỗi đau thể xác và tâm hồn. Chẳng có ai để thông cảm. Thánh giá chồng lên thánh giá. Tối tăm phủ lên tăm tối. Đây mới là sự cay đắng khó đón nhận nhất. Rất dễ bỏ cuộc lúc này. Đức Giêsu rất khó xử. Chỉ còn ít phút nữa thôi nhưng cũng là hơi lâu đối với thời gian tâm lý. Nhưng Đức Giêsu làm chủ được thời gian. Và chính Ngài phải bắt buộc dùng thời gian để hoàn tất và cứu chuộc loài người. Ngài luôn trung thành tới cùng. Tình yêu của Giêsu được triển nở nhẩn nha trong bóng tối của sự hận thù và phản bội. Tình yêu ấy ngấm sâu chậm chạp nhưng bền bỉ khó gỡ. Giống như lối sánh ví của TGM. Fulton Sheen diễn tả: ‘Tình yêu của Chúa giống như loài gỗ quý nhuốm cả hương thơm vào lưỡi búa đã đốn ngã nó’.
“Hiệp thông với Chúa Giêsu có nghĩa là trở nên giống như Ngài. Với Ngài, ta cùng chịu đóng đinh vào thập giá, cùng chịu mai táng trong mồ, cùng được trỗi dậy để tháp tùng các du khách đã bị lạc hướng trong cuộc hành trình của họ. Hiệp thông, nghĩa là trở thành Đức Kitô, đưa ta tới một lĩnh vực khác của sự hiện hữu. Nó dẫn ta vào trong Nước Thiên Chúa. Trong vương quốc ấy, những phân biệt xưa giữa hạnh phúc và u buồn, thành công và thất bại, những lời ca ngợi và kết án, sức khoẻ và bệnh tật, sự sống và cái chết không còn nữa. Trong vương quốc ấy, ta không còn lệ thuộc vào thế giới này, một thế giới vẫn còn chia rẽ, xét đoán, phân cách và chỉ trích. Trong vương quốc ấy ta thuộc về Đức Kitô và Đức Kitô thuộc về ta, và cùng với Ngài ta thuộc về Thiên Chúa”. Chúa Giêsu muốn đưa ta tới nơi ta thuộc về. Nhưng ta chỉ có thể nghe lời Ngài mời gọi sống đời sống thiêng liêng khi ta sẵn sàng thú nhận cách chân thành tình trạng vô gia cư và lo âu của ta và nhận ra hậu quả có tính phân mảnh của chúng trên đời sống hằng ngày của mình. Chỉ khi ấy khát vọng muốn có một căn nhà đích thực mới phát triển” (H. Nouwwen, sđd). Đau khổ thất bại của Chúa Giêsu thường gây cho chúng ta cảm nhận hơn là tính chủ động cho mình dấn thân. Và vì thế xem ra đấy chỉ như là một thứ chủ nghĩa, lý thuyết để chúng ta hô hào, cổ vũ chứ chưa đạt được tầm mức cho mình rập khuôn mẫu. Chắc chắn Chúa Giêsu chưa hài lòng lắm về thái độ như thế. Phấn đấu để trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô quả là một thách đố lớn lao và là sự dấn thân cao độ nhất.
Người môn đệ Chúa cũng chẳng hơn thầy mình ‘môn đệ không hơn thầy, được như thầy là khá lắm rồi’. Xem ra chúng ta chỉ muốn giống Chúa ở những điều như là sự cao sang, đẹp đẽ, uy nghi, quyền bính, lãnh đạo, điều hành, phán quyết,… nhưng hễ đụng chạm tới sự cô đơn, thất bại thế nào cũng tìm cách trốn tránh, từ khước. Có lẽ chúng ta hay cầu nguyện xin Chúa ban cho mọi việc được thuận lợi, trôi chảy,… mà quên không cầu nguyện để có sức chịu đựng hay can đảm đương đầu với khó khăn thử thách. Nhìn vào những thất bại của Chúa Giêsu trong giai đoạn cuối đời Ngài trên thập giá chắc chắn chưa có một linh mục, tu sĩ nào phải đau khổ và thất bại thảm hại như Chúa Giêsu.
Thánh Phaolô đã phải chịu một thử thách rất lớn khi ngài đã phải kêu lên: “Một thủ hạ satan được sai đến vả mặt tôi” (2 Cr 12,7). Ngài đã phải chịu bắt bớ, đau khổ trong thân xác – hoặc đã chịu những điều cực nhọc; nhưng đây chắc phải là điều gì rất đau xót cho tâm hồn Ngài, chính vì thế mà ngài đã xin Chúa giải thoát ngài: tôi đã nài xin Chúa đến 3 lần: “Và để tôi khỏi tự cao tự đại vì những mạc khải phi thường tôi đã nhận được, thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của satan được sai đến vả mặt tôi, để tôi khỏi tự cao tự đại. Đã ba lần tôi xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ này. Nhưng Người quả quyết với tôi: “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2 Cr 12,8). “Thế nên tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Kitô ở mãi trong tôi. Vì vậy, tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Đức Kitô. Vì khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh” (2 Cr 12,7-10).
Tình trạng lãnh đạm, sự mệt mỏi thiêng liêng sẽ diễn ra trong hành trình đức tin của chúng ta. Bóng tối trong đời sống nội tâm không phải là điều mới lạ trong truyền thống thần bí học Công giáo. Trên thực tế, đây là một hiện tượng thường xảy ra với rất nhiều vị thánh trong lịch sử Giáo Hội, họ đã trải qua cái mà Thánh Gioan Thánh Giá, một nhà thần bí nổi tiếng người Tây Ban Nha thuộc dòng Carmel đã gọi là “đêm tối”. Vị thánh bậc thầy trong đời sống nội tâm này đã sử dụng rất chính xác cụm từ trên để chỉ giai đoạn thanh luyện đau đớn mà một người phải trải qua trước khi đạt đến sự kết hiệp với Chúa. Sẽ có hai giai đoạn trong cuộc thanh luyện này: ‘đêm tối của giác quan’ và ‘đêm tối của tinh thần’. Trong giai đoạn đêm tối đầu tiên, người đó sẽ thoát khỏi sự ràng buộc của những thoả mãn giác quan và được dẫn vào cầu nguyện bằng chiêm niệm. Trong lúc Chúa truyền ban ánh sáng và tình yêu của Người, linh hồn người ấy vẫn còn đầy thiếu sót nên không đón nhận được và cho rằng đó là bóng tối, nỗi đau, sự khô khan và trống rỗng. Mặc dù sự trống rỗng và vắng mặt của Thiên Chúa là vẻ bên ngoài, nhưng đó lại là nguồn đau khổ rất lớn. Tuy nhiên, nếu tình trạng này là ‘đêm tối của giác quan’ chứ không phải là hậu quả của sự tầm thường, lười biếng hay đau ốm, thì người đó sẽ tiếp tục thi hành bổn phận của mình một cách trung thực và quảng đại mà không nản lòng, không lo lắng cho bản thân, hay bị rối loạn tình cảm. Cho dù không còn cảm nhận được niềm an ủi nào, nhưng lòng vẫn khát khao mong mỏi Chúa, cùng với sự gia tăng về tình yêu, khiêm nhường, kiên nhẫn và các nhân đức khác.
Đôi khi ta trải qua một sự khô khan kinh khủng trong đời sống thiêng liêng. Ta không còn cảm thấy muốn cầu nguyện, không còn kinh nghiệm về sự hiện diện của Thiên Chúa, chán chường với những việc thờ phượng và thậm chí nghĩ rằng tất cả những gì ta tin vào Thiên Chúa, vào Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần chỉ hơn những chuyện thần tiên thời thơ ấu một chút thôi. Khi ấy điều quan trọng là nhận ra rằng hầu hết những tình cảm và những suy nghĩ này là những tình cảm và những suy nghĩ đúng và Thần Khí Thiên Chúa bao giờ cũng vượt quá những tình cảm và những suy nghĩ ấy của ta. Có thể kinh nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa trong những tình cảm và suy nghĩ của ta là một ân huệ lớn, nhưng khi ta không có được kinh nghiệm ấy, thì cũng không có nghĩa là Thiên Chúa vắng mặt, nhưng không có được kinh nghiệm ấy thường có nghĩa là Thiên Chúa đang mời gọi ta tới một sự trung thành hơn. Chính những lần khô khan thiêng liêng ấy mà ta phải bám vào kỷ luật thiêng liêng của mình để có thể lớn lên trong sự thân mật với Thiên Chúa. Thiên Chúa đã tạo nên trong trái tim ta một khát vọng hiệp thông mà không ai trừ Thiên Chúa mới có thể và muốn thoả mãn. Thiên Chúa biết điều ấy. Đôi khi ta cũng biết. Nhưng ta lại luôn tìm kiếm kinh nghiệm của sự thuộc về ấy ở chỗ khác… Tuy nhiên nếu ta khóc than vì những mất mát của ta, nếu ta lắng nghe Ngài trên đường, và mời Ngài đi vào trong cõi thẳm sâu của ta, ta sẽ biết rằng sự hiệp thông ta đang đợi chờ đón nhận chính là sự hiệp thông Thiên Chúa đang chờ đợi trao ban.
Phải chăng sự khô khan và tối tăm của ta chính là những dấu chỉ của sự vắng bóng Thiên Chúa, hay đó là sự hiện diện sâu rộng hơn giác quan mình không thể cảm nhận?
Sau khi vượt qua được đêm tối đầu tiên, người đó sẽ được Chúa dẫn tới giai đoạn ‘đêm tối của tinh thần’ để được thanh luyện khỏi những cội rễ thâm sâu nhất của các khiếm khuyết của mình. Đi cùng với quá trình thanh luyện này là một tâm trạng khô khan đến cùng cực, và người đó sẽ cảm thấy như bị Chúa xua đuổi và bỏ rơi. Đó là một trải nghiệm đau dớn đến mức con người cảm thấy như đang đi vào chốn đoạ đày muôn kiếp. Và thậm chí còn đau đớn hơn nhiều vì người đó chỉ cần Chúa và yêu Người bằng một tình yêu lớn lao nhưng lại không nhận ra mình yêu Chúa (x. Mẹ Têrexa, Những bí mật lần đầu tiên được tiết lộ về Mẹ Têrêxa).
Sự hiện diện của Thiên Chúa vượt xa kinh nghiệm của con người về sự ở với nhau đến độ sự hiện ấy dễ dàng bị cảm nhận như sự vắng mặt vậy. Sự vắng mặt của Thiên Chúa, trái lại, thường được cảm nhận cách sâu sắc đến độ nó đưa ta tới một cảm thức mới về sự hiện diện của Ngài. Đó là điều đã được diễn tả mạnh mẽ trong Thánh vịnh 21 (22),1-5:

“Lạy Thiên Chúa con thờ, muôn lạy Chúa
Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao?
Dù con thảm thiết kêu gào
Nhưng ơn cứu độ nơi nao xa vời!
Ngày kêu Chúa, không lời đáp ứng
Đêm van nài mà cũng chẳng yên
Thế nhưng Chúa ngự nơi đền
Vinh quang của Israel là Ngài
Xưa tổ phụ vẫn hoài cậy Chúa
Họ cậy trông Ngài đã độ trì
van nài liền được cứu nguy
Đã không thất vọng mỗi khi cậy Ngài”.

Lời cầu nguyện này không chỉ là diễn tả kinh nghiệm của dân Israel thôi mà còn là chóp đỉnh của kinh nghiệm Kitô giáo. Chúa Giêsu nói những lời này trên thập giá, thì sự cô đơn tột cùng và việc trọn vẹn chấp nhận sự cô đơn ấy gặp nhau. Trong lúc hoàn toàn trống rỗng ấy, thì mọi sự đã được hoàn tất. Trong giờ phút đen tối ấy, người ta đã trông thấy ánh sáng. Trong lúc người ta đang mục kích cái chết, thì người ta đã khẳng định được sự sống. Ở đâu sự vắng mặt của Thiên Chúa được diễn tả cách lớn tiếng nhất thì ở đó sự hiện diện của Ngài cũng được mạc khải cách sâu sắc nhất… Chính mầu nhiệm này là mầu nhiệm ta bước vào khi cầu nguyện (tr. 181-182).
“Quả vậy, nỗi ưu phiền theo ý Thiên Chúa làm cho chúng ta hối cải để được cứu độ: đó là điều không bao giờ phải hối tiếc; còn nỗi ưu phiền theo kiểu thế gian thì gây ra sự chết. Hãy xem nỗi ưu phiền theo ý Thiên Chúa đã đem lại cho anh em những gì: bao nồng nhiệt, và hơn thế nữa, bao lời xin lỗi, bao ân hận, bao sợ hãi, bao ước mong, bao nhiệt tình, bao hình phạt; bằng mọi cách, anh em đã chứng tỏ mình vô can trong vụ này” (2 Cr 7,10 -11).
‘Chớ gì lời cầu nguyện của ta trở thành một lời cầu khiêm tốn, bởi lẽ ta xin một ơn trong khi âu lo, ơn mà ta không có quyền đòi hỏi; không phải là ơn xin để ta tránh được tất cả những tấn công của kẻ địch mà là ơn luôn trung thành trong một trận chiến chân thành. Chớ gì lời kinh của ta cũng luôn kiên trì, bởi vì nếu ta nghĩ rằng ta không bao giờ bị địch tấn công nữa, thì quả là ta đã kiêu ngạo rồi – hoặc đã suy nghĩ liều lĩnh rồi’ (Hồng y Bertram).
Những thử thách, đau khổ trong đời tận hiến không ngạc nhiên cho lắm. Cần phát hiện ra những nguyên nhân làm mất đi hay tăng trưởng tình yêu đầu đời thánh hiến; điều này có thể đến sớm hoặc muộn tuỳ người, tuỳ hoàn cảnh; gọi là sự khủng hoảng đời tu.
Người ta hay quan niệm: đi tu là phải được sung sướng, được kính trọng, được ưu đãi, khoẻ mạnh, được giúp đỡ mọi mặt chu đáo,… đó mới là thành công, đó mới là đứng ý Chúa. Còn ngược lại bị chống đối, đau khổ, bệnh tật, bị coi thường,… thì khó chịu lắm; cho là bị thất bại, bị… Chúa không quan tâm! Thật là tai hại, sai lầm. Ma quỷ hay dùng chiêu bài đó để lôi kéo, mua chuộc chúng ta một cách dễ ợt!
Sự chênh vênh, mong manh của phận người và số phận tận hiến đôi khi không được chính mình nghĩ tới và như một ý tưởng cần phải gạt ra, chính điều đó làm cho chúng ta hay ảo tưởng, sống không thực tế và chỉ biết tìm hưởng thụ ở chế độ cao! Nhưng lại là điều chúng ta thường không quên nhắc nhở giáo dân! Có một vị giám mục nói khi được mời giảng lễ ngài rất ngại vì toàn phải dạy người ta những điều mà mình chưa là hết được.
Lời kêu cứu rất cần cho tâm hồn linh mục khi ngài bị satan tấn công vũ bão, sức mạnh của ngài bởi nơi phù trợ của Chúa. Ta phải kêu xin Chúa vào những giờ phút tranh đấu nội tâm, kêu xin Người với sự hăng say, nhiệt tình, với sự kiên trì và tín nhiệm nơi Chúa, như Thánh Phaolô đã cầu nguyện. Ta hãy tranh đấu với thiên thần ánh sáng: “Tôi sẽ không thả ngài ra trước khi ngài chúc lành cho tôi” (St 32,26).
Như thế, sự nhận thức về con người và chính chúng ta đã gặp những khó khăn để nhận biết thực sự Thiên Chúa thế nào, điều đó làm cho chúng ta hiểu được lòng thương xót của Thiên Chúa qua ánh mắt đầy yêu thương và nhân từ. Khi chúng ta bị đắm chìm trong tăm tối, bập bềnh trong cơn sóng biển gào thét dữ dội, ngay cả khi chúng ta từ chối việc Chúa Giêsu đến gặp chúng ta, chúng ta nghĩ đó chỉ là con ma, nhưng ngài đến để trấn an chúng ta, ngài nói với chúng ta: “Hãy can đảm lên, Thầy đây, đừng sợ!” Chúa Giêsu đến với ta để giúp ta chiến thắng sợ hãi.
Trong buồn tủi, cô đơn hay thất bại lại là lúc toả sáng ngời tình yêu quên mình phục vụ mà bên ngoài thì đúng là chẳng hề làm chi cả. Các thánh đã kiên nhẫn tới cùng trong những lúc như thế. Có khi hiểu lầm, bất công, chống đối, hận thù vẫn không qua đi kể cả khi đã chết. Nhưng các ngài vẫn kiên nhẫn và hy vọng rằng sự công bằng, tình yêu và bình an sẽ trở lại.
Mở ra cánh cửa cho không gian nội tâm tiếp xúc với thế giới siêu việt nhờ sự gặp gỡ Thiên Chúa trong cầu nguyện. Mỗi lần để cho tình yêu Thiên Chúa xuyên thấu tâm hồn mình, là mỗi lần mình làm vơi đi một ít âu lo; và mỗi khi gạt đi một ít âu lo, là mỗi lần mình lại biết mình hơn và nhất là làm cho Thiên Chúa tình yêu của mình biết rõ mình hơn. Mọi sự được gìn giữ an toàn trong tình yêu Thiên Chúa. Cho nên, Chúa Giêsu mời gọi: ‘Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy’.
Chúng ta tự đặt ra mấy câu hỏi này: Giá trị đỉnh cao trong đời tận hiến là gì? Đâu là thành công của đời thánh hiến? Đâu là điều chính yếu linh mục tu sĩ phải lo tìm kiếm, vun trồng và xây đắp? Giáo Hội và thế giới hiện đang cần, đang thiếu những linh mục tu sĩ như thế nào?
“Giữa thế gian anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời” và “thưa anh em, những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực, tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen, thì xin anh em hãy để ý. Và Thiên Chua là nguồn bình an sẽ ở với anh em” (Pl 4,8.9b); rồi hãy “luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của mình” (1 Pr 3,15). Đó là những lời nhắn nhủ chân tình của hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô.
Có nhiều nguyên nhân làm cho những điểm sáng và điểm tối nơi con người linh mục tu sĩ được thấy rõ. Việc thiếu vắng đời sống nội tâm và thiếu khổ chế là nguyên nhân giảm sút việc hăng say nhiệt tình. Việc suy niệm không những chỉ nhắm tới sự phát triển các nhân đức cho bản thân mà còn thúc đẩy việc chiếu sáng trên mọi lĩnh vực tác vụ mục vụ của chúng ta. Phương pháp ‘khám bệnh tổng quát, chữa bệnh tận căn’ cần phải áp dụng trong đời sống thiêng liêng một cách bài bản, cẩn thận và tỉ mỉ thì mới hết bệnh. Chúng ta hay sợ, rồi chữa lan man vòng ngoài thì làm sao khỏi bệnh được. Phải sửa chữa từ trong tâm hồn, trong lương tâm. Càng là người quan trọng càng phải được chăm sóc và chữa trị cẩn thận. “Chỉ có sự thật mới có thể vượt qua được những chia cắt giữa con người và chiến thắng của sự thật là tình yêu” (Augustinô).
Khái niệm bao trùm con người tận hiến phải được quy chiếu về Thầy Chí Thánh Giêsu Kitô. Chuẩn mực công việc phải được soi chiếu trong lời giáo huấn của Chúa. Động lực thúc đẩy hành động phải được kín múc từ Bí tích Thánh Thể là sự trao ban hiến thân trọn vẹn nhưng lại rất âm thầm kín đáo, tế nhị. Điểm dừng của mọi công việc có thể là thành công hoặc thất bại được thâu tóm lại trong Mầu nhiệm Thập giá. Các mối liên hệ ấy như những tia sáng mở đường cho mọi hành trình và dự phóng của các công tác mục vụ của chúng ta. Hơn nữa, chính nó diễn tả bản chất thật sự của người linh mục tu sĩ hiện đang trong tình trạng nào?

Lm. Pet. Bùi Trọng Khẩn