Xem nhanh:Posts Comments

You Are Here: Home » Năm B » CÁC BÀI SUY NIỆM CHÚA NHẬT 3 THƯỜNG NIÊN. NĂM B_2018

CHÚA NHẬT 3 THƯỜNG NIÊN_B

Lời Chúa: Gn 3,1-5.10; 1Cr 7,29-31; Mc 1,14-20

——-

Mục lục

1. Tội lỗi và ơn thứ tha  (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên)

2. Đổi mới cuộc đời  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

3. Ơn gọi  (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

4. Hạnh phúc ở bên ta (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

5. Sám hối và tin theo Chúa Giêsu  (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

6. Bước đi theo Ngài  (Anna Cỏ May, Tiền Tập sinh MTG.Thủ Đức)

7. Chúa cất tiếng gọi con (Bông Hồng Nhỏ, Tiền Tập sinh MTG.Thủ Đức)

8. Sứ mạng của tôi

9. Triều đại Thiên Chúa đến (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

10. Sống ơn gọi trong tâm tình sám hối  (Lm. GB. Trần Hào, SDB)

11. Trở về  (Lm. Trần Việt Hùng)

12. Hãy theo Ta  (Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng)

13. Sám hối và tin  (JM. Lam Thy, ĐVD)

14. Thầy gọi trò đáp nhịp nhàng  (Giêrônimô Nguyễn Văn Nội)

15. Đường lối Thiên Chúa (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

16. Suy niệm Chúa Nhật 3 Thường niên_B  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam)

17. Suy niệm Chúa Nhật 3 Thường niên_B.  (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

18. Quyết định  (Trầm Thiên Thu)

19. Hãy hối cải và tin vào Tin mừng  (Lm. Bùi Thượng Lưu)

20. Suy niệm Chúa Nhật 3 Thường niên. Năm B  (Lm. Anthony Trung Thành)

21. Sám hối và tin vào Tin mừng  (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

22. Sám hối ngay từ hôm nay (Lm. Inhaxiô Trần Ngà)

23. Chiêm ngắm Chúa Giêsu rao giảng Tin mừng (Lm. Giuse Nguyễn Văn Hữu)

24. Sống tự do để biết lắng nghe mà sám hối  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)

25. Mẻ lưới lớn bắt được cá bự (Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD)

26. Suy niệm chú giải Lời Chúa Chúa Nhật 3 TN_B (Lm. Inhaxi ô Hồ Thông)

27. Theo tiếng Chúa kêu gọi (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)

28. Người tôi yêu  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

29. Theo Chúa để truyền giáo  (Tu sĩ Jos.Vinc. Ngọc Biển, SSP)

30. Điều kiện để trở thành công dân Nước Trời  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)

31. Các anh hãy đi theo tôi  (Fx. Đỗ Công Minh)

32. Chúa Giêsu kêu gọi bốn môn đệ đầu tiên (P. Trần Đình Phan Tiến)

33. Sống ơn gọi  (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang)

34. Phế thải  (Lm. Vũ Đình Tường)

35. Sám hối như sạc pin điện thoại (Lm. Giuse Nguyễn)

36. Sám hối và tin vào Tin mừng.  (Lm. Đan Vinh – HHTM)

37. Chúa Nhật 3 Thường niên_B  (Lm. Antôn)

 

 

TỘI LỖI VÀ ƠN THỨ THA

Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

Tại một nhà thờ bên Tây Ban Nha có một tượng thánh giá rất đặc biệt: Chúa Giêsu chỉ chịu đóng đinh có một tay trái và hai chân, tay phải rời khỏi lỗ đinh và đưa ra phía trước trong tư thế như đang ban phép lành. Bức tượng này gắn liền với một câu chuyện kể rằng, ngày kia, tại nhà thờ này có một người đến xưng tội. Đối với một tội nhân có quá nhiều tội nặng như anh ta, vị linh mục rất nghiêm khắc và ngăm đe nhiều điều. Nhưng chứng nào vẫn tật đó, ra khỏi tòa giải tội ít lâu, hối nhân lại tiếp tục sa ngã. Rất nhiều lần như thế. Cuối cùng, vị linh mục răn đe: “Tôi không muốn anh vấp lại những tội như thế nữa. Đây là lần cuối cùng tôi tha tội cho anh”. Hối nhân ra khỏi tòa giải tội, lòng trĩu nặng và đau khổ. Được vài tháng sau, anh ta lại đến xưng tội, và xưng cũng những tội nặng y như những lần trước. Vị linh mục dứt khoát: “Anh đừng có đùa với Chúa. Tôi không tha!”. Thật lạ lùng. Ngay lập tức, vị linh mục cùng hối nhân đều nghe có tiếng thì thầm phía bên trên. Từ cây thánh giá, bàn tay phải của Chúa Giêsu được rút ra khỏi lổ đinh và ban phép lành cho hối nhân. Vị linh mục nghe được tiếng thì thầm ấy nói với chính mình: “Ta là người đổ máu ra cho người này chứ không phải con”. Kể từ đó, bàn tay phải của Chúa Giêsu không gắn vào thánh giá nữa, nhưng vẫn giữ tư thế đang ban phép lành, như không ngừng mời gọi: “Hãy trở về với Ta, các ngươi sẽ được tha thứ!”.
 
Thiên Chúa luôn giang rộng vòng tay ôm ấp cả vũ trụ này, trong đó có cả người tốt và người chưa tốt, người công chính và các tội nhân. Ngài luôn mời gọi con người hãy canh tân hối cải. “Hãy sám hối và tin vào Phúc âm”, đó là lời rao giảng đầu tiên của Đức Giêsu, khi Người khởi sự công cuộc loan báo Tin Mừng. Tin vào Phúc âm là tin vào Chúa Giêsu, để rồi nhờ Người mà đến cùng Chúa Cha. Sám hối là điều kiện căn bản để trở thành môn đệ của Chúa. Khi sám hối, chúng ta khiêm tốn nhìn nhận những sai sót lỗi lầm của mình, đồng thời hứa với Chúa sẽ thay đổi cuộc sống để trở nên tốt hơn. Ý thức thân phận tội lỗi và những khuyết điểm yếu kém nơi bản thân, chúng ta sẽ có cái nhìn quảng đại và bao dung hơn đối với người khác.
 
Câu chuyện ngôn sứ Giona là một minh chứng về lòng bao dung rộng lượng của Thiên Chúa. Dân thành Ninivê đang sống trong tội lỗi. Chúa đã sai ngôn sứ Giona đến để kêu gọi họ sám hối. Khi nghe lời cảnh báo của vị ngôn sứ, từ bậc vua chúa cho đến thứ dân tại Ninivê đều ăn năn sám hối. Chúa không phạt họ như đã báo trước, vì họ đã nhận ra tội lỗi của mình và hối cải canh tân. Câu chuyện này cho thấy, dù con người tội lỗi đến mức nào, nhưng thành tâm sám hối lỗi lầm và thiện chí canh tân, thì Chúa sẽ tha thứ.
 
Nhiều người biện minh cho sự lười biếng của mình bằng cách đưa ra lập luận: “Tôi không muốn đi xưng tội, vì tôi biết xưng xong sẽ phạm tội tiếp”. Người khác lại dựa vào lòng từ bi nhân hậu của Chúa để biện minh cho lối sống buông thả của mình. Cả hai cách lập luận trên đều là cố tình hiểu sai giáo huấn của Giáo Hội. Vẫn biết rằng con người yếu đuối, dễ dàng phạm tội sau mỗi lần xưng tội, nhưng việc năng xưng tội nói lên thiện chí của chúng ta, muốn chừa bỏ tội lỗi để sống đẹp lòng Chúa. Vẫn biết rằng Thiên Chúa bao dung nhân hậu, nhưng Ngài chỉ tha thứ cho những ai có lòng cậy trông và chân thành sám hối những lỗi lầm của mình. Lòng chân thành ấy, chúng ta có thể chứng minh bằng lời cầu nguyện, năng lãnh nhận các bí tích và xa lánh các dịp tội.
 
Nếu Thiên Chúa là Đấng nhân từ bao dung, thì con người lại quá nhỏ nhen và khắt khe với người đồng loại. Câu chuyện trên đây cho thấy điều đó. Vị linh mục đã diễn tả Thiên Chúa theo lối hành xử của con người, mà không nghĩ đến lòng bao dung vô bờ của Thiên Chúa. Trong đời sống hằng ngày, chúng ta thường xét đoán và phê phán nhau. Có những lúc, do ích kỷ và hận thù, chúng ta nhận định sai lạc về một con người và làm cho họ bị tổn thương. Đây là lời mời gọi chúng ta hãy có lòng bao dung như Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót.
 
Lời Chúa hôm nay cũng muốn dạy chúng ta: Cuộc sống này, dù giàu có sang trọng hay nghèo hèn khiêm tốn, cũng đều có điểm kết thúc. Vì thế, đừng quên rằng mình sẽ bị Thiên Chúa xét xử. Nghĩ đến lúc kết thúc cuộc đời sẽ giúp chúng ta sống tốt hơn. Nghĩ đến ngày phán xét, ta sẽ sám hối tội lỗi, canh tân bản thân và xa lánh những hành vi xấu. Thánh Phaolô khuyên chúng ta: trong cách sở hữu của cải, lúc vui chơi hưởng thụ, lúc gặp cảnh đau buồn, hãy nghĩ rằng cuộc đời này rất mong manh ngắn ngủi. Chỉ có hạnh phúc nước trời là lâu bền vĩnh cửu. Đây không phải là một khẩu hiệu, mà là một lời khuyên rất thiết thực, bởi lẽ “thời gian chẳng còn bao lâu”. Vì bộ mặt thế gian này đang qua đi, nên “những ai có vợ hãy sống như không có; ai khóc lóc hãy làm như không khóc; ai vui mừng như chẳng mừng vui; ai mua sắm, hãy làm như không có gì cả…”. Những gì ta sở hữu, chỉ là phương tiện giúp ta nên hoàn thiện ở đời này, chứ không phải mục đích. Vì vậy, đừng gắn bó đam mê tới mức tôn thờ chúng như một thứ ngẫu thần (Bài đọc II).
 
Canh tân bản thân để đón nhận lòng thương xót của Chúa, mỗi tín hữu còn được gọi lên đường theo Chúa để trở nên những sứ giả của lòng nhân hậu. Thánh Máccô kể với chúng ta việc Chúa gọi các môn đệ đầu tiên. Anrê và Simon, Giacôbê và Gioan là những người đã can đảm từ bỏ cuộc sống cũ để theo Chúa. “Hãy theo tôi”, Chúa Giêsu cũng đang mời gọi chúng ta hôm nay. Như các môn đệ, chúng ta hãy nhiệt thành lên đường theo Chúa để làm chứng nhân cho Ngài trên mọi nẻo đường của cuộc sống trần gian.

Về mục lục

.

ĐỔI MỚI CUỘC ĐỜI

Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

Nhiều lần đài phát thanh, truyền hình, trong mục nói về giáo dục trẻ em, giới thiệu chương trình hoạt động của anh Thảo Đàn ở thành phố Hồ chí Minh. Trước đây, Thảo Đàn là một trẻ của đường phố, bỏ nhà đi lang thang bụi đời, tệ hơn nữa, vướng vào nghiện hút. Nhưng khi hiểu được tác hại của ma tuý, anh quyết tâm cai nghiện. Với ý chí cương quyết, anh đã hoàn toàn dứt bỏ được ma tuý. Chừa được ma tuý rồi, anh không chỉ hài lòng với việc làm lại cuộc đời cho bản thân, nhưng còn muốn dùng kinh nghiệm của mình để giúp đỡ các trẻ em đường phố. Với sự hỗ trợ của Nhà Nước và các tổ chức từ thiện, anh mở ra một trung tâm qui tụ 200 trẻ em đường phố. Tại đây, anh giáo dục cho các em hiểu biết những nguy hiểm đang rình rập các em, giúp các em bảo vệ quyền lợi của mình và nhất là tìm cách đưa các em hội nhập vào đời sống xã hội.

Điều mà Thảo Đàn đã làm cho bản thân mình và đang muốn làm cho các trẻ em đường phố, đó là đổi mới đời sống. Không biết anh có đạo hay không, nhưng anh đang thực hiện Lời Chúa trong các bài sách thánh hôm nay. Trong bài đọc thứ nhất, tiên tri Gio-na kêu gọi dân thành Ninivê đổi mới đời sống để được tha thứ. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu kêu gọi dân Do thái đổi mới đời sống để đón nhận Nước Chúa đang đến. Đáp lại lời Người, các môn đệ bước theo Đức Giêsu trong một đời sống mới. Cuộc đổi mới được tiến hành qua ba bước.

Bước thứ nhất: Nhận biết mình tội lỗi.

Tội lỗi như một cơn mê làm ta đắm đuối không nhận biết tình trạng tâm hồn của mình. Muốn đổi mới, cần phải thức tỉnh, nhìn rõ sự thực về mình, thấy rõ tình trạng tội lỗi, hiểu biết sự nguy hại của tội. Thảo Đàn bừng tỉnh sau những lầm lỡ, nhận thức mình đang đứng bên bờ vực thẳm, nên đã kịp dừng chân. Dân thành Ninivê, sau khi nghe tiên tri Giona rao giảng, ý thức về tình trạng nguy ngập của thành, nên đã chấm dứt tình trạng tội lỗi. Để biết rõ tình trạng tâm hồn, để nhận biết tội lỗi, cần phải siêng năng xét mình. Xét mình giống như ngọn đèn pha soi vào tất cả những ngõ ngách trong tâm hồn, phơi bày ra tất cả những gì còn ẩn giấu. Xét mình giống như cái cuốc đào bới những tầng lớp sâu thẳm của tâm hồn để lộ ra những tội lỗi còn bị thời gian, sự quên lãng và sự vô tình vùi lấp.

Bước thứ hai: Sám hối.

Khi đã nhận biết tội lỗi, tâm hồn phải tiến tới một thái độ tích cực hơn, đó là sám hối. Nhận thức tội lỗi giống như ta nhìn thấy một căn nhà rác rưới bẩn thỉu. Sám hối là bắt tay vào quét dọn sạch sẽ. Sám hối như giòng nước gột rửa linh hồn. Sám hối như chiếc dao mổ của bác sĩ cắt bỏ những ung nhọt gieo mầm mống bệnh tật. Sám hối càng mãnh liệt, tội lỗi càng lùi xa. Sám hối càng sâu xa, linh hồn càng mau chóng hồi sinh. Nhờ sám hối sâu xa, Thảo Đàn đã từ bỏ con đường nghiện ngập. Nhờ sám hối mãnh liệt, dân thành Ninivê đã bảo nhau, từ người già đến em bé đều xức tro, ăn chay cầu nguyện, quyết tâm từ bỏ con đường tội lỗi. Tâm hồn sám hối là tâm hồn được chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận ơn Chúa.

Bước thứ ba: Đổi mới cuộc đời.

Sám hối chân thành bao giờ cũng đi đến đổi mới cuộc đời. Vì sám hối là muốn đoạn tuyệt với con đường xưa cũ để bước vào một con đường mới. Vì tâm hồn sám hối không những muốn sửa chữa lại những lỗi lầm quá khứ mà còn quyết tâm xây dựng một tương lai tươi mới,trong sạch hơn, tốt đẹp hơn, ích lợi hơn. Vì muốn hoàn toàn đổi mới, Thảo Đàn không chỉ tránh xa nhưng còn dấn thân giúp người khác đâú tranh chống tệ nạn xã hội. Vì muốn đổi mới cuộc đời, các tông đồ đã từ bỏ nếp sống cũ, từ giã những người thân, bỏ hết tài sản để lên đường đi theo Chúa. Con đường mới là con đường theo thánh ý Chúa, con đường dẫn ta đi trong tình yêu mến Chúa và yêu mến anh em. Tình yêu mến sẽ làm cho đời sống ta có ý nghĩa và trở nên phong phú vì sẽ đem lại những hoa quả thiêng liêng. Bước đi trên con đường mới, ta sẽ đón nhận được Nước Chúa đang đến. Bước đi trên con đường mới, ta sẽ góp phần đem Nước Chúa đến với anh em.

Đầu năm mới, ai cũng có ước mong mọi sự mới mẻ. Không gì đẹp hơn một tâm hồn đổi mới. Để đổi mới tâm hồn, ta hãy nhận biết tội lỗi và ăn năn sám hối. Với ơn Chúa giúp và với quyết tâm đổi mới, ta sẽ nhìn thấy những việc cần phải làm. Với những việc làm do Chúa Thánh Thần hướng dẫn, ta sẽ thực sự bước vào Năm Mới với cả tâm hồn đã được đổi mới.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đổi mới mọi sự trong ngoài của chúng con.

GỢI Ý CHIA SẺ

1) Đức Thánh Cha viết cho giới trẻ: “Quả thật, Đức Giê su là người bạn khó tính nhất. Người chỉ cho ta những đỉnh cao và đòi ta phải ra khỏi chính mình để gặp Người.” Hiện nay, Đức Giê su đang mời bạn chinh phục những đỉnh cao nào?

2) Để đổi mới cuộc đời, bạn phải từ bỏ nhiều điều. Nhưng quan trọng hơn cả là từ bỏ chính mình. Bạn có kinh nghiệm gì về cái tôi của bạn. Cái tôi ấy ra sao (cứng cỏi, bướng bỉnh, khép kín, tự ái, tự mãn…..).

3) Chừa bỏ tật xấu có dễ không? Ta nên có thái độ nào đối với người nghiện hút, rượu chè?

Về mục lục

.

ƠN GỌI

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi  

Ơn gọi là một là cái gì thật huyền nhiệm, kỳ diệu và lạ lùng! Bởi vì, khi đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, chúng ta nhận ra điều này một cách rõ ràng  và trong sáng. Các môn đệ khi nghe Đức Giêsu Kitô mời gọi nhất nhất, họ đều bỏ mọi sự mà theo Ngài. Hôm nay, Chúa kêu gọi bốn môn đệ đầu tiên. Đáp lại lời gọi của Chúa :” Hãy theo tôi “, họ đã mau mắn bỏ nghề nghiệp, cách làm ăn cũ, gia tài, sự nghiệp, thậm chí bỏ cả cha mà đi theo Ngài…

Các môn đệ đã bước và đi theo Chúa, các ngài đã sẵn sàng, lập tức bỏ đi những gì là gần gũi nhất, thân thương nhất đối với mình để tất cả hiến mình cho Đức Kitô. Các môn đệ đã thực sự đến xem nơi ở của Chúa Giêsu, rồi ở lại và đi theo Ngài. Họ đã hoàn toàn để Chúa biến đổi cuộc đời của họ. Họ đã trở thành những môn đệ trung kiên, làm chứng cho Tin Mừng của Chúa Giêsu.

Bài Tin Mừng hôm nay giúp chúng ta biết mở ngỏ cõi lòng để Chúa Giêsu bước vào và cái giá chúng ta phải trả “ là chúng ta phải thực hành những gì các môn đệ của Chúa Giêsu đã làm, cái giá các môn đệ đã phải trả để đi theo Chúa, để ở lại với Chúa “. Chúng ta phải sẵn sàng bỏ đi tất cả những gì là rườm rà, những gì cản ngăn bước đường chúng ta bước theo Chúa Giêsu. Thực tế, nếu chúng ta nhất quyết dành cuộc đời ngay cả sinh mạng của chúng ta cho Chúa và quyết tâm làm những việc như các môn đệ xưa đã làm, từ mọi mọi sự như các môn đệ xưa đã từ bỏ, chắc chắn Chúa sẽ làm cho chúng ta chính những điều Ngài đã làm cho các môn đệ. Chúa sẽ biến chúng ta thành những môn đệ đặc biệt của Ngài, được chia sẻ công việc của Ngài và ban cho chúng ta những điều vượt quá sự mong đợi, ước muốn của chúng ta.

Chúa vẫn tiếp tục mời gọi chúng ta mỗi ngày, chúng ta là đôi tay của Chúa để giúp đỡ những người tật nguyền, bệnh hoạn, để thương giúp những người khó nghèo, chúng ta là đôi chân của Chúa để đi đến cứu vớt những con người đau khổ, chúng ta có con tim của Chúa để ôm ấp những tâm hồn đau khổ, chúng ta có đôi mắt của Chúa để nhận ra những con người nhỏ bé, bị vất bỏ ngoài đường, bị xã hội ruồng bỏ vv…

Chúa vẫn mời gọi chúng ta hôm nay :” các con hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các con thành những kẻ lưới người như lưới cá “. Gương các môn đệ, gương các tông đồ còn đó, chúng ta noi gương bắt chước các ngài sẵn sàng, mau mắn đáp lại tiếng mời gọi của Ngài.Theo Chúa, chúng ta phải dám liều lĩnh, cởi bỏ tất cả những gì là nặng nề, là cồng kềnh, là quá khổ để bước theo Ngài, ở lại với Ngài. Có dám cởi bỏ những gì cản bước chúng ta trên cuộc hành trình đức tin như những tật xấu, tính kiêu căng, ghen tỵ, hận thù, nhỏ nhoi của chúng ta, chúng ta mới được Chúa biến đổi,  nhờ dám  từ bỏ, dấn thân và mau mắn thực hành những điều Chúa Giêsu truyền, những việc Ngài dạy, chúng ta sẽ trở nên những môn đệ như lòng Chúa mong muốn.

Lạy Chúa Giêsu, xin biến đổi tâm hồn chúng con, xin làm mới con người chúng con để chúng con luôn nhận ra Chúa là Đấng nhân hậu, là Đàng, là Sự thật và là Sự sống “.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

  1. Chúa Giêsu kêu gọi bốn môn đệ đầu tiên ở đâu ?
  2. Khi Chúa kêu mời các môn đệ, các ông đã có thái độ nào ?
  3. Tại sao các môn đệ đã bỏ mọi sự mà theo Chúa Giêsu ?
  4. Chúng ta có dám liều theo Chúa hay không ?
  5. Ơn gọi là gì ?

Về mục lục

.

HẠNH PHÚC Ở BÊN TA

Lm. Jos Tạ duy Tuyền

Con người luôn khao khát đi tìm hạnh phúc. Có người tưởng rằng hạnh phúc là một cái gì đó thật là vĩ đại, họ mải mê và gắng tìm nó để rồi xa vào cái vòng luẩn quẩn mà chẳng bao giờ mãn nguyện với những gì mình có.

Thực ra, hạnh phúc luôn tiềm ẩn trong cuộc sống của chúng ta, hạnh phúc có thể ở rất xa nhưng cũng có hạnh phúc đang ở rất gần mà chúng ta lại không biết. Hạnh phúc là chỉ cần ta hài lòng về cuộc sống hiện tại sẽ làm cho tâm hồn hạnh phúc.

Khi tôi yêu tôi thấy mình đang hạnh phúc.

Khi tôi cười tôi thấy mình đang hạnh phúc. 

Khi tôi đói, tôi được ăn thì tôi thấy mình đang hạnh phúc. 

Khi tôi giúp cho ai đó việc gì tôi thấy mình hạnh phúc.

Khi tâm hồn mãn nguyện thì khi đó là hạnh phúc.

Vì thế hạnh phúc không phải tìm ở đâu xa mà hạnh phúc vẫn đang quanh quẩn bên chúng ta.

Hôm nay Chúa Giê-su loan báo cho chúng ta một tin vui như tóm lược tất cả: “Nước Trời đã gần bên. Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” (Mc 1:14)

Nước Trời là vườn hạnh phúc đang ở ngay đây, nơi có Chúa hiện diện. Nước Trời là bến bờ hạnh phúc không ở đâu xa mà nằm trong chính bản thân của Con Thiên Chúa làm người. Đón nhận Ngài là đón nhận niềm vui của sám hối, của canh tân, của sự đổi đời lên tốt hơn.

Điều quan yếu là có Chúa cùng đồng hành thì hành trình cuộc đời không lẻ loi, không đơn độc. Có Chúa thì không sợ gian khó, không sợ thất bại vì quyền năng Ngài sẽ nâng đỡ và hộ phù chúng ta. Miễn là chúng ta hãy để cho Ngài làm chủ cuộc đời chúng ta.

Các môn đệ đầu tiên đã cảm nghiệm những giây phút thật ngọt ngào hạnh phúc khi được sống bên Chúa. Các ngài ngất ngây khi thấy biết bao việc lạ lùng mà Thầy Giê-su đã làm. Đi bên Chúa các ngài cảm nhận được tình Chúa dành cho mình thật gần gũi như người bạn có thể tâm sự, chia sẻ, hàn huyên. Đi bên Chúa các ngài học được nhiều bài học của phục vụ, của dấn thân vô vị lợi. Phục vụ đến quên cả bản thân mình là Thầy, là Chúa mà vẫn cúi xuống rửa chân cho các môn đệ.

Năm nay với chủ đề mục vụ “đồng hành cùng gia đình trẻ” vẫn là lời loan báo tin mừng cho các gia đình là “Nước Trời đã đến gần”. Tin mừng nằm trong chính bản thân Chúa Giê-su, thế nên hãy đón nhận Chúa vào gia đình mình. Có Chúa niềm vui sẽ nhân lên. Có Chúa mọi ưu sầu lắng lo sẽ tan biến vì Ngài sẽ giúp chúng ta vượt qua. Có Chúa gia đình sẽ hạnh phúc, vì Ngài sẽ dạy vợ chồng biết phục vụ nhau theo gương Chúa Giê-su là Thầy, là Chúa mà còn rửa chân cho các con thì các con cũng hãy rửa chân cho nhau.

Nhiều người đã quên sự hiện diện của Chúa nên họ vẫn mang tâm trạng thất vọng chán chường khi gặp khó khăn. Nhiều người đã quên sự hiện diện của Chúa nên gia đình vẫn chưa vượt qua những giận hờn, ghen ghét, làm cho cuộc sống chung ngột ngạt và khổ đau. Nhiều người đã cố tình gạt Chúa ra ngoài để tiếp tục sống trong tội lỗi gây nên những khổ đau cho người thân và gia đình.

Chúa Giê-su hôm qua và hôm nay vẫn là niềm vui và hạnh phúc cho cuộc đời chúng ta. Đón nhận Ngài về nhà mình là để từ nay Chúa cùng đồng hành với chúng ta. Có Chúa mọi ưu sầu sẽ tan biến. Vì xưa Chúa đã nói: “Hãy đến với Ta hỡi những ai mang gánh nặng nề Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho”.

Xin Chúa mở con mắt đức tin để chúng ta luôn thấy Chúa trong mọi sự để luôn hạnh phúc bình an, Vì có Chúa là chỗ tựa nương là thành lũy chở che chúng ta. Amen

Về mục lục

.

SÁM HỐI VÀ TIN THEO CHÚA GIÊSU

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ 

Bước vào Chúa nhật thứ III thường niên, chúng ta thấy Chúa Giêsu chịu phép rửa tại sông Giorđan xong, được Gioan giới thiệu cho mọi người biết Người là : ” Chiên Thiên Chúa ” (Ga 1, 29). Ông bị bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng nước Thiên Chúa, một hành động diễn tả sự liên tục giữa Giao ước cũ với Giao ước mới, với sứ điệp : ” Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm ” (Mc 1, 14).

Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến

Viên cai ngục của Hêrôđê tra tay bắt Gioan Tẩy Giả tống ngục. Sứ mạng, lời rao giảng cũng như phép rửa của Gioan chấm dứt, thời giờ đã mãn, Đức Giêsu xuất hiện. Không như Gioan, Chúa Giêsu không đến để thay đổi phép rửa thống hối, sứ mệnh của Người là loan báo Tin Mừng nước Thiên Chúa. Tin Mừng Người loan báo không phải là “tin mới” hay tin mừng như bao tin mừng. Chúa Giêsu nhân danh Thiên Chúa loan báo Tin Mừng, Người chính là Tin Mừng, là Lời Thiên Chúa, Lời cứu rỗi, là sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa loài người.

Gioan loan báo thời mới sẽ đến, thời viên mãn. ‘Thời khác’ là chính Chúa Giêsu, thời của Gioan và thời của Chúa Giêsu nối liền với nhau không có sự gián đoạn.

Gioan đã lãnh nhận sức thiêng khi Chúa Giêsu bước xuống dòng sông Giorđan. Thánh Thần Thiên Chúa ngự xuống trên Chúa Giêsu khi Gioan đổ nước. Chúa Cha chứng nhận Chúa Chúa Giêsu là Con yêu dấu của Ngài.

Từ ” gần đến ” phải được hiểu là : ” Ở bên anh em “. Người ở giữa chúng ta. Chúa Giêsu đã nói với một viên ký lục khi hỏi Chúa về hai điều răn trọng nhất: ” Ngươi không còn xa Nước Thiên Chúa đâu ” (Mc 12, 34).

Hãy theo Ta

Simon và em là Anrê đang thả lưới xuống biển. Chúa gọi hai ông, biến các ông thành những người cộng tác. Chúa không chỉ ủy thác cho họ một học thuyết, nhưng biến họ, những người lưới cá thành những kẻ lưới người, quăng Lời Chúa vào thế gian để đánh bắt người, đưa người ta lên bờ cho Chúa, đúng như lời Chúa Giêsu nói: “Ta sẽ làm cho các người trở thành những kẻ chài lưới người” (Mc 1, 17).

Giacôbê và Gioan đang xếp lưới trong thuyền với cha mình cùng với các người làm công. Một sự tương phản Marcô đã quan sát và làm nổi bật. Simon và Anrê đã bỏ lưới. Giacôbê và Gioan đã bỏ cha. Hai người con bỏ lại cha với những người đang làm việc không phải vì tình nghĩa con cái hay gia đình, nhưng là vì đồng tiền bát gạo. Marcô sử dụng thuật ngữ ” người làm thuê ” mà chúng ta dịch là “người làm công“. Hai người con ” bỏ cha“, thay vì ở bên cha, nay thay bằng ” theo sau Chúa Giêsu” (x. Mc 1, 20).

Những ngư phủ đến với Chúa Giêsu, đã trở thành những kẻ đánh bắt người như lời Chúa phán :  ” Này Ta sai ngư phủ đến … và họ sẽ (vung) lưới bắt chúng” (Gr 16, 16). Nếu Chúa sai những người khôn ngoan tới, họ sẽ thuyết phục dân, hoặc bắt lấy dân. Nếu Chúa gửi những người giầu đến, họ sẽ dùng tiền mua chuộc dân và thống trị dân. Nếu Chúa gửi những người khỏe mạnh đến, họ sẽ dùng sức mạnh dụ dỗ dân và cưỡng bức dân bằng bạo lực.

Không có ai trong số các tông đồ là những người ấy. Simon Phêrô là một bằng chứng. Ông nhút nhát, đến nỗi sợ cả một đầy tớ nữ; ông nghèo không có gì, thậm trí cả tiền thuế cũng không có (Mt 17, 24). Phêrô nói: “Bạc vàng tôi không có ” (Cv 3,6). Và ông là người ít học, nên từ khi chối Chúa, ông cũng chẳng biết rút ra bài học.

Những kẻ đánh cá được Chúa Giêsu chọn và sai đi, họ ra đi và đã mang lại kết quả mĩ mãn hơn cả những kẻ mạnh, người giầu có và khôn ngoan. Với giáo lý Chúa dạy, họ đã thu hút nhiều người mà không cần bạo lực; phận nghèo khó, họ đã dạy dỗ những kẻ giàu có; là người dốt nát, họ huấn giáo những kẻ khôn ngoan.

Bước theo Chúa Giêsu cần phải sám hối để hiệp nhất

Chúa Giêsu gọi các môn đệ của mình “ăn năn sám hối“(Mc 1, 15).  Sám hối là đi từ đời sống tội lỗi sang đời sống con cái Chúa, từ tuyệt vọng đến hy vọng, từ chán nản đến vui mừng, từ bóng tối ra ánh sáng. “Sám hối vì nước Thiên Chúa đã gần đến” (Mc 1, 15) vẫn luôn có tính chất thời sự của Tin Mừng. Quyết tâm sám hối trở về cùng Chúa là con đường dẫn đưa Giáo Hội đến sự hiệp thông hữu hình trọn vẹn vào thời kỳ Thiên Chúa thiết định.

Ngày nay Chúa cũng mời gọi chúng ta mang vào thế giới sứ điệp sự thật và tình thương của Chúa. Hãy sẵn sàng tham gia vào sứ mạng này và nhất là cầu xin Chúa đừng để những chia rẽ và tranh chấp giữa các tín hữu Kitô làm lu mờ khả năng chiếu tỏa của Tin Mừng. Các cuộc gặp gỡ đại kết trong thời gian gần đây gia tăng trên thế giới là một dấu chỉ chứng tỏ điều đó.

Trước giờ Kinh Truyền Tin trưa Chúa nhật 23/1/2011, Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI đưa ra lời kêu gọi sau đây : ” Ngày nay cũng vậy, để trở thành dấu chỉ và phương thế kết hiệp sâu xa với Thiên Chúa trong thế giới, các tín hữu Kitô chúng ta phải xây dựng cuộc sống trên 4 cột trụ, đó là: cuộc sống trên nền tảng đức tin của các Tông Ðồ được chuyển lại trong Truyền Thống sinh động của Giáo Hội, tình hiệp thông huynh đệThánh Thể và kinh nguyện. Có thế, Giáo Hội mới được kết hiệp bền vững với Chúa Kitô và chu toàn sứ mạng của mình, dù có những chia rẽ như thánh Phaolô Tông Ðồ nói đến : “Hỡi anh em, tôi khuyên nhủ anh em tất cả hãy đồng tâm hiệp ý trong lời nói, để không có sự chia rẽ nơi anh em, nhưng hãy kết hiệp trọn vẹn trong tư tưởng và cảm thức” (1 Cr 1,10). Thực ra thánh nhân đã biết trong cộng đoàn Kitô ở Côrintô, đã nảy sinh những bất thuận và chia rẽ; vì vậy, ngài nghiêm nghị viết thêm rằng: “Phải chăng Chúa Kitô bị chia rẽ sao?” (1,13). Ngài quả quyết mọi chia rẽ trong Giáo hội là làm xúc phạm đến Chúa Kitô, Thủ Lãnh duy nhất và là Chúa, chúng ta luôn luôn có thể tái hiệp nhất, nhờ sức mạnh vô tận của ơn thánh Chúa.

Theo giáo huấn của thánh Phaolô, chúng ta được mời gọi loại bỏ gương mù chia rẽ nơi chúng ta để mang sứ điệp của Chúa Kitô Phục Sinh cho tất cả mọi người. Chúng ta hãy cầu nguyện xin Chúa cho sớm đến ngày Giáo Hội được hoàn toàn hiệp nhất. Amen.

Về mục lục

.

BƯỚC ĐI THEO NGÀI

Anna Cỏ May

Trong chương trình của Chúa luôn có sự tiếp nối. Sau khi ông Gioan bị bắt, Chúa Giêsu bắt đầu thi hành sứ mạng của mình. Lời rao giảng đầu tiên là một lời kêu gọi sám hối: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc1,15). Ngài kêu gọi mọi người sám hối. Sám hối là một trong những điều kiện để đi theo Chúa. Theo Ngài không chỉ ở thời điểm, là ý muốn nhưng còn thể hiện trong đời sống; cũng không phải chỉ đôi ba ngày nhưng đến trọn đời. Lời Chúa hôm nay cho chúng ta nhận ra những điều kiện ấy qua các môn đệ đầu tiên theo Ngài.

Chúa Giêsu đi theo dọc bờ biển hồ Galilê, một nơi xa lánh thành phố, nơi những con người ít học và hầu như chỉ biết những chuyện đánh bắt xảy ra hằng ngày. Họ quần quật với công việc chài lưới. Nhưng cũng chính nơi này Ngài kêu gọi bốn môn đệ đầu tiên là Simon và anh của ông là Anrê, tiếp đến là hai người con ông Dêbêđê. Ngài gọi họ cách dứt khoát: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ lưới người như lưới cá” (Mc 1,17). Các ông là những người thợ chuyên nghiệp thả lưới bắt cá. Thì giờ đây, Ngài mời gọi họ bỏ chính công việc mưu sinh để đi theo Ngài. Ngài hứa sẽ làm cho họ thành những ngư phủ lưới người. Có lẽ Ngài không đến gọi họ đột nhiên, Ngài đã nhìn và biết họ từ xa và từ trước. Ngài biết họ là những con người như thế nào? Họ sống làm sao và trình độ học vấn đến mức nào? Nhưng Ngài vẫn gọi họ. Đáp lại lời mời gọi ấy là một thái độ mau mắn nơi các ông. Các ông đã lập tức bỏ gia đình, bỏ nghề chài lưới và đi theo Ngài. Một khi đi theo Ngài, họ đi vào sự hiệp thông với Ngài. Với thái độ từ bỏ một cách dứt khoát và mau mắn bước theo cho thấy một tấm lòng quảng đại và cởi mở nơi họ. Chúa Giêsu rất cần những con người người có thái độ như thế. Ngài yêu con người, muốn tất cả mọi người vào hưởng nước Trời. Ngài cần con người cộng tác vào công trình cứu độ. Cũng như khi xây dựng một công trình không chỉ có chủ thầu nhưng còn có những người thợ đắc lực. Chỉ có điều Ngài mời gọi mỗi người theo cách mà Ngài thấy là phù hợp cho từng đối tượng. Chính ông Gioan đã giới thiệu Chúa Giêsu cho các môn đệ, nhờ đó họ biết và đi theo Người. Khi đã được biết và ở lại với Người, người môn đệ lại hớn hở giới thiệu Đấng Mêsia cho bạn mình. Chúa có thể gọi chúng ta cách trực tiếp hoặc qua những trung gian. Điều quan trọng là ta hãy có thái độ biết lắng nghe và mau mắn đáp trả lời mời gọi mỗi ngày. Chúa luôn yêu thương và kêu gọi chúng ta là những con người yếu đuối và đầy tội lỗi, không tài ba xuất chúng, thậm chí trước mặt Chúa ta cũng chẳng là gì. Vì thế, chúng ta đừng ngần ngại bởi những giới hạn nơi ta và đừng cảm thấy mình không xứng đáng. Một khi Chúa đã gọi chắc chắn Ngài có cách thánh hóa, ban cho chúng ta sức mạnh và tình yêu để bước theo Ngài. Điều cần thiết là chúng ta phải có niềm tin, lòng can đảm dứt bỏ và quảng đại bước theo Ngài. Trong một thế giới vàng thau lẫn lộn và những sự phù hoa luôn đầy hấp dẫn và lôi cuốn ta, nào ai muốn từ bỏ điều gì.

Lạy Chúa! Chúng con cảm tạ Chúa đã mời gọi chúng con và cho chúng con được bước đi theo Ngài. Xin Chúa cho chúng con có một thái độ, tinh thần mau mắn đáp trả lời mời gọi thân thương của Chúa. Nhờ đó, chúng con sẽ  được chung hưởng hạnh phúc với Ngài. Amen.

Về mục lục

.

CHÚA CẤT TIẾNG GỌI CON

Bông hồng nhỏ

Giêsu khai mạc công việc rao giảng Tin Mừng bằng việc kêu gọi người ta sám hối và tin vào Tin Mừng. Để rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu đã chọn gọi các môn đệ đầu tiên. Họ sẽ trở thành những cánh tay đắc lực của Thầy trên hành trình truyền giáo. Thầy Giêsu đã không đi đơn độc một mình dẫu rằng với quyền năng và tài giảng thuyết của mình, Thầy hoàn toàn có thể truyền giáo cách tốt đẹp. Thế nhưng, Con Thiên Chúa đã mời gọi con người cộng tác với mình.

Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần, con người được mời gọi sám hối và tin  vào Tin Mừng. Nước Thiên Chúa dành cho những ai có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Thế gian đầy dẫy những dối trá và bất công. Con Thiên Chúa xuống trần mang bình an và hy vọng cho con người và tẩy trừ mọi tội lỗi. Khi bước đi theo Thầy Giêsu, ta được mời gọi từ bỏ lối sống cũ để sống và làm chứng cho một Tình yêu hiến tế. Các môn đệ đầu tiên đã được chọn gọi không phải vì các ông tài ba xuất chúng hứa hẹn làm nên sự nghiệp nhưng chỉ vì tình yêu nhưng không của Thiên Chúa. Các ông chỉ là những ngư phủ suốt ngày lưới cá kiếm sống nhưng khi được Thầy gọi, các ông đã lập tức bỏ chài lưới lại, bỏ cha mình lại trên thuyền để theo Thầy Giêsu. Ta tự hỏi, các ông sẽ được gì khi dám bỏ mọi sự để theo Thầy. Các ông đã biết gì về Thầy và con đường Thầy đi để dám bước theo? Chỉ một lời hứa của Thầy thôi hay vì chính hấp lực nơi Thầy Giêsu đã cuốn các ông đi vào con đường mà chính các ông cũng không biết rõ. Ơn gọi quả là một mầu nhiệm.

Chính khi theo Thầy rồi, dần dần ta sẽ được Thầy thanh luyện để đi vào con đường Thầy đã đi cách sâu sát hơn. Cũng có những khi ta sẽ bị thế gian lôi kéo như kinh nghiệm của các môn đệ khi xưa. Các ông đã theo Thầy rồi, được ở với Thầy rồi nhưng các ông vẫn chưa chung lý tưởng với Thầy, chưa hiểu về những gì Thầy sẽ thực hiện. Con đường của Thầy đi là gian nan, là chống đối và mãi là con đường ngược dòng. Các ông đã từng bước đi bên cạnh Thầy đó những vẫn chỉ biết lờ mờ, vẫn vật vờ theo cái bóng của Thầy thôi. Khi Thầy bị bắt, các ông đã sợ hãi bỏ trốn. Điều đó Thầy biết trước bởi Thầy hiểu rõ tâm tư của từng người, Thầy hiểu rõ con đường mình đang đi không hề dễ dàng. Chỉ khi được ở trong Chúa, các ông mới thật sự bước đi vững vàng. Không còn một Phêrô nhút nhát và đầy sợ hãi trước người tớ gái nhưng là một Phêrô mạnh dạn tuyên xưng đức tin vào Con Thiên Chúa, một Phêrô dám thí mạng sống để làm chứng cho Thầy. Không còn một Gioan nóng nảy và mưu cầu danh lợi nhưng là một Gioan cảm nếm Tình Yêu và làm chứng cho Tình Yêu. Thầy đã phục sinh chiến thắng tội lỗi và sự chết. Thầy về cùng Chúa Cha và ban Thánh Thần cho những kẻ Thầy yêu mến.

Lạy Chúa Giêsu mến yêu! Mỗi ngày Chúa luôn cất tiếng mời gọi con bước đi theo Chúa để cảm nếm tình yêu của Chúa dành cho con. Chúa biết rõ những yếu đuối nơi con. Xin Chúa thanh tẩy tâm hồn con và ban cho con ơn sám hối và tin vào tình thương Chúa dành cho con. Xin cuốn con vào hấp lực của Chúa, cho con can đảm bước đi theo Chúa, để được sống trong Chúa. Mỗi ngày, xin Chúa dạy con biết lắng nghe tiếng Chúa nói trong con, nơi anh em và trong Bí tích Thánh Thể, để từng ngày con biết sống và làm chứng cho Chúa. Amen.

Về mục lục

.

SỨ MẠNG CỦA TÔI

Một buổi sáng nọ, trong khu vườn, những cây Hướng Dương đang vươn đóa hoa vàng rực rỡ của mình ra đón ánh nắng ban mai, tận hưởng niềm vui cuộc sống. Chợt nó nghe có tiếng thút thít ở dưới chân mình. Hình như bạn Nha Đam đang khóc. Hướng Dương nhẹ nhàng hỏi: “Hình như bạn có điều gì phiền muộn?” Nha Đam bối rối đáp: “Không có gì”. Hướng Dương nói: “Rõ ràng, tôi vừa nghe tiếng bạn khóc mà. Có điều gì thế, bạn kể cho tôi nghe đi. Mình là bạn bè, là hàng xóm của nhau, có gì thì cùng nhau chia sẻ”. Nha Đam ấm ức: “Tôi buồn lắm bạn ạ. Trời không thương tôi, nên cho tôi sinh ra với thân hình xấu xí. Đã thấp lè tè, lá lại kỳ quặc chẳng giống ai. Bạn thấy đấy, trong khu vườn này, muôn hoa đua sắc. Còn tôi có cố gắng đến mấy, cũng không thể ra hoa!” Hướng Dương nhẹ nhàng bảo: “Bạn Nha Đam ơi, bạn đừng buồn như thế. Mỗi loài đều có sứ mạng riêng. Tuy bạn không đẹp rạng rỡ như chúng tôi, nhưng bạn rất có ích”. Nha Đam thút thít: “Có ích à? Thôi, bạn đừng an ủi. Tôi chẳng có ích gì đâu”. Hướng Dương quả quyết: “Có đấy, bạn giúp cho con người trị được nhiều thứ bệnh. Những điều đó không đáng để cho bạn tự hào hay sao?” Nha Đam nghe vậy, liền ngập ngừng nói: “Nhưng tôi vừa thấp bé, vừa xấu xí. Sống trong khu vườn này, tôi bị chìm khuất. Chẳng ai để ý đến tôi”. Hướng Dương trả lời: “Không sao! Tuy bạn không nổi bật, nhưng người ta vẫn biết đến bạn. Giá trị của chúng ta không phải ở chỗ cao hay thấp, đẹp hay xấu, mà ở chỗ chúng ta giúp ích gì cho cuộc đời này. Bạn hãy vui lên, sống khỏe mạnh, đừng tự ti mặc cảm, rồi sẽ có ngày bạn được biết đến, hãy tin tôi!”

Hóa ra ở đời, cái vẻ đẹp bên ngoài đâu có quan trọng. Sống có ích cho đời, đó mới là điều quan trọng. Sống có ích, đó chính là sứ mạng của vạn vật. Càng chu toàn sứ mạng của mình, thì càng làm tăng thêm giá trị cho mình. Ta biết, mỗi vật đều được Chúa trao cho một sứ mạng. Từ con người cho đến vạn vật. Chẳng hạn: Mặt trời có sứ mạng tỏa ánh sáng và sưởi ấm mọi thụ tạo. Cây lúa có sứ mạng nuôi sống mọi sinh vật. Muôn hoa có sứ mạng tô điểm cho vạn vật tươi xinh. Dường như mọi loại đều đang cố gắng thi hành tốt sứ mạng của mình. Ánh mặt trời luôn tỏ rạng, để mang lại sự sống cho con người. Cây lúa luôn trổ bông trĩu hạt. Muôn hoa luôn xinh tươi lộng lẫy, đem lại hạnh phúc cho con người.

Khi xuống thế làm người, Chúa Giêsu cũng đã hoàn thành tốt sứ mạng Chúa Cha trao phó. Ngài đến trần gian vì vâng phục Chúa Cha. Ngài thi hành sứ mạng cứu rỗi nhân loại, qua sự chết và sống lại vinh quang. Ngài đã được rước về trời, sau khi đã hoàn thành tốt sứ mạng rao giảng Tin Mừng cứu độ trần gian.

Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu kêu gọi các Tông đồ, cho các ông được chia sẻ sứ mạng với Chúa. Những Tông đồ đầu tiên là Simon, Anrê, Giacôbê và Gioan. Các Ngài đã nhanh chóng bỏ lại việc riêng, để làm việc chung, lo cho Nước Chúa. Các Ngài đã bước đi theo Chúa, với niềm hăng say loan báo Tin mừng Nước Trời cho mọi người. Các Ngài vui vì được Chúa chọn gọi. Các Ngài hạnh phúc vì được cộng tác với Chúa trong sứ mạng cứu độ trần gian. Điều đó giúp các Ngài bỏ lại tất cả danh lợi thú, để chỉ phụng sự cho chương trình của Thiên Chúa mà thôi. 

Mỗi người đều có một sứ mạng. Cây cỏ còn có sứ mạng, huống chi con người. Vậy sứ mạng của ta là gì? Ta đã làm gì cho bản thân, cho gia đình, cho Hội Thánh và xã hội? Tôi nghĩ, cuộc đời sẽ tươi đẹp biết bao, nếu mỗi người luôn là ánh sáng của Chúa, luôn là muối mặn ướp đời, bằng sự cầu nguyện, hy sinh, phục vụ, bác ái vị tha. Xin Chúa giúp ta luôn chu toàn sứ mạng của mình, để giới thiệu Chúa cho mọi người.

AVE MARIA

Về mục lục

.

TRIỀU ĐẠI THIÊN CHÚA ĐẾN

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần

Tác giả Mác-cô tóm kết toàn bộ sứ điệp của Đức Giê-su vào một câu tuyên bố long trọng: “Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần!” Chắc chắn lời công bố này có một nội dung mạnh mẽ lắm đối với các thính giả thời đó, cách riêng đối với các môn đệ tin theo Ngài, và cả đối với các tín hữu thời Hội Thánh sơ khai. Ngày nay, ngoài một số nhà thần học và Thánh Kinh đào sâu vào từ vựng Hy Lạp ‘Kairos’ tôi thiết nghĩ rất ít Ki-tô hữu, thậm chí cả linh mục tu sĩ, thật sự nhận ra được tầm quan trọng và sâu sắc của sứ điệp nòng cốt này của Đức Ki-tô.

Đức Giê-su công bố: “Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần!”, tức là thời kỳ chin mùi trong kế hoạch của Thiên Chúa đã điểm; đã đến thời Thiên Chúa ra tay hành động. Người gọi đó là ‘Kairos’, là cao điểm, là lúc quyết định của toàn bộ lịch sử, lịch sử nhân loại nói chung cũng như lịch sử của từng cá nhân con người nói riêng. Lịch sử cũ đã hoàn toàn chấm dứt, và một kỷ nguyên mới đã thực sự mở màn, kỷ nguyên không do con người mà là do chính Thiên Chúa chủ động. Theo Catholic Dictionary thì trong Tân Ước, từ vựng ‘Kairos’ gắn với hành động mang tính quyết liệt. ‘Kairos được coi là ‘Krisis’ trong nội dung từ vựng Hy Lạp, nghĩa là một bước ngoặt, một đổi đời, giây phút mà một người hoàn toàn thoát khỏi cái cũ để tiếp nhận cái mới. Đức Giê-su thậm chí khảng định đó là một cuộc sinh lại (không phải chỉ là tái sinh theo nghĩa phổ thông) (x. Ga 3:3-6). Điều này được Phao-lô gọi là cuộc tạo dựng mới, trời mới đất mới, tạo vật mới, A-đam mới… Phao-lô đã không ngần ngại gọi các tín hữu Cô-rin-tô mới được rửa tội là ‘các người đã được hiến thánh trong đức Ki-tô Giê-su, được kêu gọi làm dân thánh, cùng với tất cả những ai ở bất cứ nơi nào kêu cầu danh Chúa của chúng ta.’ (1Cr 1:2), cho dầu sau đó gần như trong suốt lá thư thứ nhất gửi cho họ, ông không ngừng nêu lên những tội lỗi tầy trời họ phạm. Chắc hẳn ông đang nhấn mạnh trên con người mới thánh thiện của họ, trước cả khi kêu gọi họ sửa đổi con người cũ tội lỗi.

 Lối nhìn này không thể bị cho là suy tư thần học viển vông mà chính là một nhãn quan rất triệt để và căn bản về ơn gọi Ki-tô hữu và sứ điệp Tin Mừng. Thời đầu các Ki-tô hữu đã từng coi “hãy sám hối và tin vào Tin Mừng’ không như một tiến trình lâu dài tiệm tiến, ngược lại như một điều đang xảy ra tức thời, và hơn nữa đã được thành sự rồi. Ơn cứu độ không như một chỉnh sửa luân lý tiệm tiến, mà như một cuộc cách mạng toàn diện, đảo lộn tới tận gốc rễ. Nếu có lời kêu gọi sửa đổi thì cũng luôn mang tính cấp bách phải làm ngay, vì đã tới ‘Kairos’, ‘thời kỳ đã mãn’. Tư tưởng này mạnh tới nỗi ngày nay nhiều người có ấn tượng các tín hữu thời đó đã mắc phải sai lầm khi nghĩ rằng: giờ cánh chung, ngày quang lâm đã điểm tức thời, ngay trong thế hệ của họ.

Nguyên nhân của hai nhãn quan đối kháng nhau này phải chăng đơn giản vì hai khuynh hướng trái nghịch: gom lại hoặc tách rời hai vế ‘hãy sám hối’ và ‘tin vào Tin Mừng’? Ngày nay có nhiều người bó gọn Tin Mừng vào việc ‘hãy sám hội’, thậm chí có người còn coi ‘tin vào Tin Mừng’ chỉ là một khởi sự, thậm chí một phương tiện của việc tu thân tích đức. Người ta đã quên mất ‘thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần’, rằng với sự xuất hiện của Đức Giê-su Ki-tô, nhất là với sự chết và phục sinh của Người, ‘Kairos’ đã điểm. Không may suy nghĩ phổ thông của nhiều tín hữu vẫn là: một người được cứu độ chủ yếu là do đã sửa lỗi, đã ăn năn hoán cải và trở nên tốt lành, với sự hỗ trợ của các bí tich ban ơn sủng…, hơn là do chính ơn cứu chuộc Đức Ki-tô đã thực hiện qua Nhập Thể và Thập Giá. Nói nôm na bình dân, người ta nghĩ: được lên thiêng đàng là do công nghiệp mình đã thu tích, hơn là do lòng nhân hậu xót thương vô biên của Thiên Chúa. Ôi, cùng là Ki-tô hữu mà sao hai thế hệ lại có thể hiểu nghịch nhau đến như thế về nội dụng rất nền tảng của Tin Mừng?

Là linh mục, tôi làm tốt trong vai trò lãnh đạo khi giúp các tín hữu ăn năn sám hối để sửa chữa lỗi lầm đã phạm, nhưng tôi phải làm gì trong tư cách mục tử của Đức Ki-tô? Chính bản thân mình, tôi vẫn thường tự hào chau chuốt về trình độ tốt lành đạo đức mình đạt được (qua thời gian dài được đào tạo trong chủng viện?), hay vui mừng trông cậy vào ơn cứu độ Chúa đổ xuống tràn lan trên tôi? Và như Phao-lô, tôi có thật sự tôn trọng sự thánh hiến mà các tín-hữu đã lãnh hội từ ngày họ lãnh bí tích Rửa Tội, trong khi vẫn nỗ lực nhắc nhở họ vươn lên từ những khuyết điểm của đời sống thường ngày? Tôi có thật sự xác tín “Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần” phải được áp dụng cho chính tôi trước hết hay không?

Lạy Thiên Chúa từ nhân cứu độ, Chúa đến trần gian để chỉ lối và dẫn dắt các chiên đi vào con đường thẳng tắp của ơn cứu độ dẫn tới Chúa Cha, nhưng con, mục tử của Chúa, lại đưa chúng đi trên con đường vòng vo lê thê của luân lý và đạo hạnh; lý do là vì chính con chưa dám tin vào lối tắt đó. Xin dạy con biết xác tín rằng, hoàn toàn do lòng từ nhân, Chúa đã thánh hiến con trước cả khi con nên hoàn thiện. Xin cho con hiểu ‘thời kỳ đã mãn’ cho chính con, và cho hết thảy mọi người. A-men.

Về mục lục

.

SỐNG ƠN GỌI TRONG TÂM TÌNH SÁM HỐI

Lm. GB. Trần Văn Hào

Sống ơn gọi với tâm tình sám hối

Phụng vụ hôm nay với các bài đọc Lời Chúa, tiếp tục mời gọi chúng ta suy gẫm về mầu nhiệm ơn gọi Kitô hữu gắn liền với cảm thức sám hối khởi từ sâu thẳm trong nội tâm mỗi người. Ngày xưa, Chúa đã gọi và sai Giona đi rao giảng cho dân thành Ninivê để mời gọi họ sám hối và trở về. Hai ngàn năm trước, Chúa Giêsu cũng đã gọi 4 môn đệ đầu tiên để biến trở các ông trở thành những người phục vụ Tin Mừng. Ngày hôm nay Chúa cũng luôn vang vọng lời mời gọi gửi trao đến chúng ta để chúng ta biết quay trở về và trở nên môn sinh của Ngài.

Đứng trước lời Chúa mời gọi, chúng ta hãy nhìn lại chính mình và tự hỏi xem, tôi là ai, và tôi đã đáp trả lời Chúa mời gọi như thế nào. Thái độ căn bản đầu tiên rất cần thiết, là chúng ta phải biết sám hối hầu có thể trở nên môn đệ của Chúa Giêsu.

Sống ơn gọi gắn liền với sự sám hối

Chúa đã gọi Phanxicô Borgia qua hình tượng một xác chết, khi Phanxicô còn là một sĩ quan trong triều đình, đứng gác trước thi thể đang dần thối rữa của hoàng hậu Isabella. Cuối cùng Phanxicô Borgia đã nhận ra rằng, mọi giá trị trần thế như vinh hoa phú quý, sắc đẹp mặn mà, hoặc công thành danh toại,… tất cả chỉ là phù vân. Chúa cũng gọi Phanxicô Assisi khi Ngài gặp những người cùng khổ rách rưới bên vệ đường. Phanxicô đã nghe tiếng Chúa gọi mời. Ngài từ bỏ tất cả mọi giàu sang để trở nên một sứ giả hòa bình, sống khất thực nghèo khó để thuộc trọn về Chúa. Chúa đã gọi Ignatiô, một hiệp sĩ ôm bao hoài vọng, lúc Ngài bị thương tích, khiến ngài đã can đảm từ khước tất cả tham vọng trần gian để trở nên một hiệp sĩ phục vụ cho Nước Trời.

Tương tự như thế, Chúa cũng đang gửi trao đến chúng ta lời mời gọi qua bất cứ biến cố nào xảy ra trong cuộc sống. Có thể đó là một tai nạn giao thông trên đường phố khi chúng ta đứng trước cái chết của một người bạn thân mới hôm qua còn đang cụng ly vui vẻ, hôm nay chỉ còn lại một đống thịt bầy nhầy nằm bất động dưới gầm xe. Có thể Chúa gọi chúng ta qua một chuyến làm ăn thua lỗ khi mọi tài sản ky cóp đã sớm tiêu tan, để chúng ta nhận ra rằng tiền bạc không phải là tất cả. Chúa cũng có thể nói với chúng ta qua một cuộc tình tan vỡ, khi chúng ta bị người yêu bội phản và lặng lẽ chia tay để sớm nhận ra rằng chỉ có tình yêu Thiên Chúa mới trường cửu, còn tình người thường dễ thay trắng đổi đen. Tất cả mọi biến cố trong cuộc sống đều hàm ngậm một sứ điệp mà Thiên Chúa đang muốn gửi trao. Điều Chúa muốn nói với chúng ta, là thế gian đang qua đi, chỉ mình Thiên Chúa mới tuyệt đối và trường cửu. Đây cũng là chân lý mà thánh Phaolô đề cập đến trong bài đọc 2 hôm nay : “Những người có vợ hãy sống như không có. Ai khóc lóc hãy làm như không khóc,… Ai mua sắm hãy làm như không có gì cả. Kẻ hưởng dùng của cải của đời này hãy làm như chẳng hưởng. Vì bộ mặt của thế gian đang biến đi (1C 7,31)”.

Sống tinh thần từ bỏ tận căn

Lộ trình theo Chúa Giêsu sẽ đưa dần chúng ta đến đỉnh cao của mầu nhiệm tự hủy. “Ai muốn theo tôi, hãy bỏ mình vác thập giá hằng ngày mà theo”. Bốn môn đệ đầu tiên sau khi nghe Chúa mời gọi, đã bỏ lại ‘cha là ông Giêbêđê cùng với những người làm công mà đi theo Người (Mc 1,20)’. Có lẽ chúng ta nghĩ rằng, các môn đệ từ bỏ quá dễ vì tài sản của các ông chẳng có gì đáng giá, họa chăng chỉ là một chiếc thuyền nan cũ xì và vài manh lưới nhầu nát. Marcô đã mô tả :‘Hai ông đang vá lưới trên thuyền (c.19)’. Chúng ta không nên suy nghĩ một cách giản đơn như thế. Bản chất của ơn gọi Kitô hữu chính là cuộc hành trình sám hối và từ bỏ tất cả, nhất là cần phải đoạn tuyệt với quá khứ đan kín tội ác nơi chúng ta để đi theo Chúa Giêsu. Cái mà chúng ta phải từ bỏ không thuần chỉ là những quyến rũ của tiền bạc hay vinh hoa trần thế, nhưng là từ bỏ cái tôi của mình để thực hiện lộ trình quay đầu trở về. Sám hối hay ‘metanoia’ chính là trở về. Vì vậy, Giáo hội chọn bài đọc 1 trong phụng vụ hôm nay để nhắc nhở chúng ta về sứ điệp này. Giona đã kêu mời dân thành Ninivê bỏ đường gian ác để trở về với Giavê. Khi Chúa Giêsu bắt đầu thực hiện sứ vụ rao giảng công khai, thông điệp đầu tiên Ngài gửi đến tất cả mọi người là : “Anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,14). Sau khi công bố sứ điệp này, Ngài đã chọn 4 môn sinh đầu tiên, và tiêu chí căn bản để trở thành môn đệ cũng là cần phải ‘Sám hối và tin vào Tin Mừng’.

Cuộc hành trình sám hối không phải chỉ là một giai đoạn nhất thời, nhưng nó luôn gắn kết chặt chẽ trong cuộc sống những người học trò của Đức Giêsu. Sám hối và sống tinh thần từ bỏ là điều chúng ta phải thực hành cho đến chết, bởi vì cái tôi ích kỷ luôn mãi đeo bám, khiến chúng ta phải quyết tâm và cũng phải canh tân quyết tâm đó mỗi ngày. Thánh Tôma Aquinô còn nói một cách hơi cường điệu rằng, khi chúng ta chết đi, 15 phút sau, cái tôi ích kỷ đó mới chết hẳn.

Kết luận

Trong kho tàng truyện cổ Ấn Độ có viết một câu chuyện mang tính ngụ ngôn sau đây. Một người Hồi giáo bị bắt quả tang đang ăn trộm một ít thực phẩm của nhà hàng xóm bên cạnh. Theo luật, anh ta sẽ bị ném đá cho đến chết. Nạn nhân không chối cãi và trước khi bản án được thi hành, anh ta chỉ xin Đức Vua một ân huệ cuối cùng. Anh ta nói : “Tâu Đức Vua, trước khi chết, hạ thần chỉ xin Đức vua một ân huệ. Hạ thần có một hạt táo quý. Gieo trồng chỉ trong một ngày, hạt táo sẽ nảy mầm, sẽ lớn lên thành cây và cho trái ngay lập tức. Hạ thần muốn để lại hạt giống quý cho hậu thế, nhưng thứ hạt giống ấy phải được trồng do bàn tay của một người chưa bao giờ ăn cắp. Còn nếu đã trót một lần ăn cắp mà đụng vào hạt táo đó, người đó sẽ chết tức khắc. Xin nhà vua hãy trồng hạt giống đó”. Nhà vua đồng ý và ông cũng muốn tự tay trồng thử xem sao. Nhưng ông bỗng nhớ lại lúc còn nhỏ đã nhiều lần ăn cắp tiền của vua cha. Nhà vua rụt tay lại và chỉ vào quan tể tướng. Viên quan bước ra định trồng hạt táo, nhưng hình ảnh những lần ông ăn cắp tiền của dân chúng trước đây lại hiện lên trong đầu ông. Ông lại chỉ định vị quan khác thay thế. Cuối cùng cả triều đình không một ai dám đứng ra gieo trồng hạt táo quý đó. Bấy giờ, phạm nhân mới nói với Đức Vua : “Thưa Đức vua, tất cả chúng ta đã từng ăn cắp ít là một lần. Hạ thần chỉ vì quá nghèo, nhà đông con, vợ lại đang ốm, nên lỡ lấy trộm ít bánh mì của người hàng xóm bên cạnh. Hạ thần đáng tội chết, nhưng nhà vua và mọi người hãy bình tâm và nhìn lại chính mình. Câu nói của ông đã làm thức tỉnh lương tâm chai cứng của tất cả mọi người.

Là những Kitô hữu, chúng ta cũng được mời gọi trở nên môn đệ của Chúa Giêsu. Chúng ta cũng hãy nhìn lại nội tâm nơi chính mình, tự lục soát lương tâm để thực hiện việc sám hối và mạnh dạn bước đi trên con đường theo Chúa Giêsu.

Về mục lục

.

TRỞ VỀ

Lm. Trần Việt Hùng 

Khởi đầu sứ vụ truyền rao,

Kêu mời sám hối, đi vào nội tâm.

Ăn năn cải đổi lỗi lầm,

Sửa sai cuộc sống, gieo mầm đức tin.

Mở lòng tín thác cầu xin,

Nước Trời rộng mở, ngước nhìn lên cao.

Phúc âm chân lý khai mào,

Tin yêu theo Chúa, gian lao không sờn.

Nhiều người cúi lạy van lơn,

Chúa thương chọn gọi, ban ơn cao vời.

Bốn người chài lưới vào đời,

Si-mon anh cả, rạng ngời hiến thân.

An-rê từ bỏ gian trần,

Gio-an cất bước, dự phần chứng nhân.

Gia-cô-bê sáng vọng ngân,

Trở thành môn đệ, canh tân cuộc đời

Sau khi Gioan Tẩy Giả bị bắt, Chúa Giêsu bắt đầu ra rao giảng tại xứ Galilêa. Chúa đã mời gọi mọi người: Nước trời đã gần kề, anh em hãy sám hối và tin vào Phúc âm. Một kỷ nguyên mới đã khai mở. Chúa Giêsu đã bắt đầu thiết lập Đạo Giáo yêu thương. Ngài khởi đi từ chính nội tâm của con người. Ngài kêu gọi mọi người hãy tự sám hối. Đây là bước khởi đầu cho tất cả công cuộc cứu độ.

Chúa đến với từng trái tim của con người. Ngài thấu tỏ tâm can và những ý nghĩ thầm kín trong lòng người. Điều thiết yếu nhất là mỗi người hãy trở về với chính mình để nhận biết thân phận tội lỗi của mình. Chúng ta biết rằng giữa con người xuất hiện truớc công chúng và bộ mặt sống thật, còn khác xa nhau lắm. Hình thức bên ngoài đối xử với nhau xem ra có nhân nghĩa đạo đức, nhưng đời sống thật trong tâm có khoảng cách rất xa.     

Muốn theo Chúa, chúng ta được mời gọi làm một cuộc đổi đời. Đổi đời như các tông đồ đầu tiên. Từ những người đánh cá nghèo và thất học trở thành thợ chuyên môn đánh cá người. Phêrô đã có lần quỳ xuống xin Chúa rời xa, vì ông cảm thấy mình là người tội lỗi. Phaolô đang lùng bách hại đạo Chúa, bị ánh sáng đánh ngã ngựa, ông đã trở thành tông đồ nhiệt thành. Mỗi một thành viên trở về đều là một cuộc sám hối nội tâm. Lời mời gọi của Chúa trong ngày đầu ra rao giảng vẫn vang vọng trong tâm hồn mỗi người chúng ta. Ai trong chúng ta cũng cần sám hối và trở về. Trở về với Đấng yêu thương cứu độ chúng ta.    

Kinh nghiệm cuộc sống, chúng ta thích lên lớp giảng dạy và khuyên bảo người khác phải ăn năn sám hối trở về, nhưng chính chúng ta lại không muốn hồi tâm. Thật vậy, nhìn vào cuộc sống và lỗi lầm của người khác thì hấp dẫn và dễ dàng hơn là nhìn vào chính mình. Hầu như ai cũng ngại nhìn lại chính mình và ngại sám hối.

Chúng ta hãnh diện mình là Kitô Hữu và là môn đệ của Chúa Giêsu. Muốn làm môn đệ của Chúa, điều kiện trước tiên là chúng ta cần phải sám hối và canh tân đời sống. Xin Chúa thêm ơn phù trợ để mỗi người chúng ta can đảm trở về với chính mình và soi mình trong ánh sáng thật của Chúa Kitô.

Về mục lục

.

HÃY THEO TA

Lm. JB Nguyễn Minh Hùng

Hôm nay Chúa Giêsu mời gọi bốn tông đồ đầu tiên theo Chúa. Các ngài là hai cặp anh em: Simon (Phêrô) và Anrê; Giacôbê và Goan. Tất cả đều có nghề nghiệp ổn định: đánh bắt hải sản. Nghĩa là cả bốn tông đồ đều là những người đang làm ra tiền, đang sống tự do với nghề nghiệp. Cả bốn đều có đời sống riêng và có khả năng làm chủ cuộc đời mình…

Nhưng bỗng một ngày Chúa cất tiếng gọi: “Hãy theo Ta”. Đi cùng tiếng gọi là lời hứa: “Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người”. Chài lưới người để làm gì? Tại sao không là chài lưới cá, mà lại chài lưới người? Chài lưới người để kiếm tiền thay chài lưới cá sao? Nếu như thế thì phải chăng theo Chúa để lừa đảo kiếm sống?

Lời mời gọi của Chúa Giêsu xem ra khó hiểu. Nếu nghe thoáng qua, lời mời gọi của Chúa chắc chắn sẽ làm người nghe băn khoăn nhiều hơn, khó tin tưởng và càng khó bước theo hơn.

Thế nhưng cả bốn tông đồ, ngay sau khi được Chúa Giêsu mời gọi, đã bỏ lại phía sau tất cả. Cả bốn lập tức bước theo Chúa. Cả bốn lập tức bỏ sự nghiệp. Cả bốn đã nhanh chân “đầu quân” bên Chúa.

Nói như thế, không có nghĩa là các tông đồ nhẹ dạ. Bởi các ngài là những người biết suy nghĩ, khôn ngoan. Ta không thể tìm ra lý do để cho rằng, với những người đang trải nghiệm trong cuộc đời bằng lao động để tìm kế sinh nhai, lại là những người không biết gì, những người ngu muội.

Như vậy, chắc chắn, các tông đồ đã có một hành trình trải nghiệm về Chúa. Các ngài đã từng quen biết Thầy Giêsu và kính nể Người. Bây giờ, đã đến thời điểm Chúa đòi hỏi các ngài phải dứt khoát, phải dấn thân trọn vẹn. Và đây là lúc Chúa hoàn toàn chinh phục các ngài. Các ngài sẵn sàng ra đi theo Chúa, lòng nhẹ tênh, đầy tín thác.

Các ngài hiểu được lời mời gọi: “Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người” không nhắm vào vật chất, nhưng là lời mời gọi bước vào chân trời vĩnh cửu, một lý tưởng sống không tàn không phai. Họ hiểu Chúa Giêsu mới chính là đích đến, là hạnh phúc trọn vẹn cho cuộc đời, cho sự sống, cho lý tưởng của từng con người.

Chắc chắn, thánh Marcô, khi viết Tin Mừng, đã lược bỏ nhiều chi tiết. Trong ý hướng mà thánh nhân muốn nhấn mạnh, đó là xây dựng ơn gọi của các tông đồ là ơn gọi cấp bách, nhanh chóng, không toan tính, không ngoảnh lại phía sau.

Qua đó, thánh nhân dạy chúng ta bài học của sự đáp lại tiếng Chúa và bước theo Chúa không bao giờ chần chờ, không bao giờ được phép để chậm trễ tích tắc nào. Phải nhanh chóng hết sức để đáp lại tiếng Chúa. Trước lời mời gọi của Chúa, dù là ai, hãy tín thác cả cuộc đời, con người, sự sống, sự nghiệp, gia nghiệp… của mình cho Chúa, chỉ trọn một lòng tiến về phía Chúa, gắn bó cùng Chúa.

Chúa Giêsu vẫn đi ngang qua đời ta mỗi ngày như xưa Người đã đi dọc biển hồ Galilê để gọi các tông đồ. Người thấy ta như đã từng thấy các tông đồ. Chúa thấy ta trước khi ta thấy Chúa. Cái nhìn của Chúa trên ta không làm ta tê liệt vì cái nhìn ấy khơi dậy những năng lực thánh thiêng, làm mạnh mẽ trọn vẹn con người của ta để sáng danh Chúa và cứu độ ta.

Dẫu ta vẫn còn đó những yếu đuối, lỗi lầm, nhưng Chúa đón nhận ta, Chúa thánh hóa ta, tha thứ cho ta, tuôn đổ ơn để ta tiếp tục sống với Chúa. Hãy nhớ: Hạnh phúc cho ai được thấy Thiên Chúa. Nhưng hơn nữa, hạnh phúc cho ai được Thiên Chúa thấy.

Hãy nhanh chóng bước theo Chúa. Hãy chỗi dậy để làm mới cuộc đời của mình bằng cộng tác với ơn Chúa sinh kết quả thánh thiện cho mình, cho muôn người.

Có một điều mà chúng ta luôn phải ghi nhớ: Các tông đồ ngày xưa theo Chúa không hề biết đến tương lai, không hề có bất cứ một bảo đảm nào. Các ngài theo Chúa chỉ mang trong tâm tư của mình lời hứa “Ta sẽ làm cho các người thành những kẻ chài lưới người”, rồi cứ thế mà tự ném mình vào vô định, tự ném mình cho lý tưởng Nước Trời.

Ngày nay chúng ta cũng không khác. Đáp lời Chúa, ta hãy ra đi. Ra đi dứt khoát. Ra đi không ngại ngần, dẫu có phải dấn mình vào cuộc tương lai mờ mịt. Nhưng chỉ mang theo một hành trang duy nhất là đặt trọn niềm tín thác vào Đấng yêu thương chúng ta.

Hãy theo Chúa Giêsu trên mỗi chặng đường có khi gập ghềnh, có khi gió bụi nhưng đầy trung kiên, dẫu có phải đối mặt cùng những đanh đá hay điềm đạm, giận dữ hay dịu dàng, chia rẽ hay hiệp nhất, Hận thù hay yêu thương, xa lạ hay huynh đệ, ích kỷ hay rộng lượng, hám danh hay tha thiết phục vụ…

Từng chút một, ta cần thay đổi mình để nên tông đồ của Chúa, dẫu phải chấp nhận đảo lộn đời mình, chấp nhận nghiền nát như tấm bánh, chấp nhận đổ vạ, cáo gian, sống một cuộc sống tử đạo, thậm chí cả cái chết phi lý trên thập giá.

Hãy chỉ mang trong tim một lời nhắn của Chúa: “Hãy theo ta” để làm lẽ sống, làm sức mạnh, làm lý tưởng nhằm vượt thắng tất cả.

Về mục lục

.

SÁM HỐI VÀ TIN

JM. Lam Thy

Mở đầu sứ vụ công khai, Chúa Giê-su đã kêu gọi: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1, 15) và Người bắt đầu thu nhận môn đệ. Nghe lời kêu gọi của Chúa, 4 người có mặt (gồm các ông Si-mon, An-rê, Gia-cô-bê và Gio-an) liền không chần chừ gì cả, mà sẵn sàng từ bỏ mọi sự, kể cả người thân cận nhất là cha mẹ mình, để đi theo Người. Điều này chứng tỏ 4 vị Tông đồ tiên khởi đã được gặp Chúa, đã tin và sám hối (từ bỏ mọi sự thế gian) như Lời Chúa dạy. Cùng một Lời Chúa dạy, Thánh sử Mat-thêu thì ghi lại “Anh em hãy sám hối vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 4, 17). Như vậy lời dạy “tin vào Tin Mừng” tức là hãy tin vào Lời Chúa loan báo: “Nước Trời đã đến gần”. Biết được Nước Trời đã đến gần thì điều kiện tiên quyết để có thể đạt được Nước Trời là hãy sám hối. Rõ ràng sám hối và tin là hai chiều kích đan kết vào nhau và là điều kiện của nhau: Nếu anh tin vào Tin Mừng thì hãy sám hối và khi anh sám hối thì niềm tin của anh sẽ được thăng hoa. Tại sao lại thế ?

Có một châm ngôn La-tinh khá phổ biến: “Errare humanum est” (Lầm lỗi là bản tính của con người). Đông phương cũng có câu “nhân vô thập toàn” (con người không bao giờ có được thập phần – 10/10 – hoàn hảo). Đã là con người thì ai cũng có những sai lầm thiếu sót không tránh khỏi. Những lỗi lầm sai sót của con người ví như bụi bặm bám trên làn da của một tấm thân và vì thế mới gọi đời là trần gian (trong đám bụi), trần thế (bụi đời), trần ai (bụi sầu), hồng trần (bụi hồng). Bụi bặm bám vào da người không chỉ làm cho xấu đi nước da, mà còn phát sinh bệnh tật (hôi hám, ngứa ngáy, ghẻ lở, nấm mốc…). Tất nhiên khi thân mình đầy bụi thì cần phải tắm rửa, không những chỉ để giữ cho thân thể sạch đẹp mà còn giúp cho sức khoẻ tăng trưởng tốt.

Tắm rửa sạch sẽ rồi thì sau đó cơ thể sẽ dơ bẩn trở lại, và nếu thế thì lại phải tiếp tục tắm rửa. Châm ngôn sống phải là: “Tắm rửa hàng ngày, tắm rửa luôn luôn”. Với bụi bặm hữu hình còn như vậy, huống chi những bụi bặm vô hình bám vào và làm thối rữa tâm hồn. Chắc chắn không một ai nghĩ rằng “Tắm rửa rồi thì sau đó thân thể lại dơ bẩn trở lại. Vậy thì khỏi cần tắm rửa chi cho mất công”. Đó chỉ là “lý sự cùn”! Tuy vậy, bản thân kẻ viết bài này đã vấp phải lập luận “lý sự cùn” tương tự như trên. Ngu mỗ vẫn chưa quên một câu chuyện cứ ám ảnh khôn nguôi: Hồi nhỏ thân phụ sai ngu mỗ quét nhà. Vì đang mải chơi, ngu mỗ cãi lại: “Con có quét sạch thì lát nữa nó cũng dơ bẩn trở lại”. Thân phụ nghiêm nét mặt: “Được lắm! Vậy thì trưa và chiều nay con khỏi ăn cơm, vì có ăn thì rồi cũng đói lại mà thôi”. Ngu mỗ giật mình xin lỗi và ngay lập tức líu ríu cầm chổi quét nhà.

Một câu chuyện tương tự khác xảy ra bên Tây Ban Nha: Tại nhà thờ một Giáo xứ có một cây Thánh Giá mà trên đó là tượng Chúa Giê-su thay vì hai tay dang thẳng sang 2 bên, thì chỉ có tay trái dang thẳng, còn tay phải thì thõng xuống đưa về phía trước như muốn xoa đầu hay vẫy gọi ai đó. Hỏi sự tích thì được biết: Trước đó đã lâu lắm, có một người đến xưng tội với cha xứ, chỉ xưng có một tội duy nhất. Thấy đó là một tội trọng, cha xứ ôn tồn khuyên bảo phải kiên quyết chừa cải không mắc phạm nữa. Cách một tháng sau, cũng người đó đến xưng tội và cũng chỉ một tội y như lần trước. Cha xứ nghiêm khắc cảnh cáo: “Phải ăn năn dốc lòng chừa, không được tái phạm nữa, và nếu còn tái phạm tội này thì không tha được đâu”. Vài tháng sau, cha xứ lại thấy người đó xưng chỉ một tội y như lần trước. Cha xứ bực dọc: “Tôi đã nói rồi mà tại sao ông không nghe. Thôi thì lần nay tôi giải tội cho, nhưng không có lần nữa đâu đấy nhé”.

Không ngờ hơn một tháng sau, người ấy cũng đến xưng tội và cũng chẳng khác 3 lấn trước. Cha xứ không kềm được tức giận, đuổi thẳng. Người đó buồn rầu lủi thủi ra về. Đến giữa nhà thờ, cúi mình bái Thánh Giá, bỗng thấy có một bàn tay đặt trên đầu kèm theo một lời nói rất điềm đạm: “Cha xứ không giải tội cho con, thì lại đây Ta giải cho”. Ngẩng đầu lên, người đó hoảng hốt khi thấy bàn tay phải của Chúa  Giê-su đã rời khỏi Thánh Giá, đang đặt trên đầu minh và lời nói vừa rồi từ chính miệng Người phát ra. Kể từ đó, nhà thờ giữ nguyên hiện tượng Đức Giê-su trên thập giá có tay phải thõng xuống và đưa về phía trước (nguồn: Wikipedia).

Thế đấy! Chẳng ai dám tự vỗ ngực xưng mình là xưng tội nào thì chừa hẳn được tội đó. Ấy là chưa kể trong cuộc đời trần thế này có vô vàn vô số hình thức cám dỗ khác nhau, nên cũng rất nhiều hình thức tội lỗi không thể lường trước được. Tuy nhiên “Lầm lỗi là bản tình của con người” nên chi cũng đừng lo sợ thái quá. Điều quan trọng là cần phải biết luôn luôn nhìn lại con người mỏng giòn và yếu đuối của mình, mà sám hối và tin vào Tin Mừng Cứu Độ của Thiên Chúa, thì sẽ được tha thứ, như dân thành Ni-ni-vê thủa xưa (Bài đọc 1 CN III/TN-B – Gn 3, 1-5.10). Ấy cũng bởi vì “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy. Nhờ đức tin ấy, các tiền nhân đã được hiên Chúa chứng giám.” (Dt 11, 1-2).

Con người vốn dĩ rất dễ bị dao động trước những hiện tượng thiên nhiên và vì thế nên thường đặt niềm tin không đúng chỗ, nếu không muốn nói là sai lầm (ví dụ: Thay vì tin vào một ông thần duy nhất là Ông Trời, thì lại đi tin vào thần cây đa cây đề, thần sông thần núi, thần gió thần mưa, thần sấm thần chớp…). Cho nên để có được đức tin, người tín hữu phải cậy nhờ vào hồng ân của Thiên Chúa. Nếu không có hồng ân, chắc chắn không thể có đức tin sáng suốt (“Đức tin là hồng ân của Thiên Chúa, là nhân đức siêu nhiên do Người phú bẩm. Để có được đức tin nầy, cần có ân sủng Thiên Chúa đi trước giúp đỡ và có sự trợ giúp bên trong của Chúa Thánh Thần, Đấng thúc đẩy và qui hướng con tim về cùng Thiên Chúa, mở mắt tinh thần và ban cho “mọi người cảm thấy dịu ngọt khi đón nhận và tin theo chân lý” (DV 5).” –  Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, số 153).

Khi đã có được hồng ân cao cả đó, con người cần phải sống đúng, sống đủ với đức tin của mình. Một cách cụ thể, cần phải thể hiện đức tin bằng hành động bởi “Đức tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2, 17). Cũng bởi con người thường quen thói “nói mà không làm” nên nhiều khi niềm tin của họ chao đảo như cơn gió thoáng qua, “lời nói theo gió bay đi” mất. Vì thế, người tín hữu chỉ có thể tin nhờ ân sủng và những trợ lực bên trong của Chúa Thánh Thần. Tuy vậy, tin vẫn là một hành vi đích thực của con người. Tin tưởng Thiên Chúa và gắn bó với những chân lý mạc khải không đi ngược với tự do và trí khôn con người. Quả thật “Trong đức tin, trí khôn và ý chí con người hợp tác với ân sủng Thiên Chúa: “Tin là một hành vi của trí khôn chấp nhận chân lý mạc khải theo lệnh của ý chí được ân sủng Thiên Chúa tác động.” Tắt một lời : “Đức tin là một hành vi nhân linh” (Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, số 154-155).

Có thể khẳng định hành trình đức tin gồm 4 bước: 1- Đến với Lời Chúa (gặp gỡ Thiên Chúa); 2- Chiêm niệm (“lắng nghe và suy nghĩ trong lòng” như Đức Maria Mẹ Thiên Chúa – Lc 2, 19); 3- Sám hối và tin vào Lời Chúa (Mc 1, 14); 4- Cuối cùng hãy biến đức tin của mình thành “hành vi nhân linh” bằng hai tiếng “xin vâng” (như Đức Maria khi được sứ thần truyền tin chịu thai Chúa Giê-su bởi phép Chúa Thánh Thần; hoặc như “Mẹ Đức tin” Maria đã dạy tại tiệc cưới Cana: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” – Ga 2, 5). Chẳng cần tìm ở đâu xa, mà ngay trong thời đại hiện nay, đã có một tấm gương rất gần gũi, rất thân tình là Thánh Giáo hoàng Gioan-Phaolô II: Ngài đã đề ra châm ngôn “Canh tân và sám hối” rồi kiên trì thực hiện trong suốt triều đại của ngài, đến nỗi đã bị ám sát hụt.

Thánh GH không những đã kêu gọi con cái sám hối, mà còn đổi mới cả cung cách sám hối khi mạnh dạn xin lỗi về những sai lầm thiếu sót của Giáo hội cả trong những triều đại tiền nhiệm xa xưa, đồng thời thực hiện đúng Lời Chúa đã truyền dạy “hãy yêu cả kẻ thù” khi ngài vui vẻ tha thứ rồi còn vỗ về an ủi kẻ đã ám sát mình. Viết về tấm gương sáng chói của Thánh GH Gioan-Phaolô II, kẻ viết bài này thật tâm đắc khi nhớ tới hồi nhỏ, mỗi khi xét mình ăn năn tội, cha xứ thường khuyên bảo “hãy ăn năn dốc lòng chừa cải”. Thật là một lời khuyên chân tình đúng mực: Ăn năn tội không chỉ là CHỪA (từ bỏ tội lỗi vì hối hận) mà còn phải CẢI (sửa chữa, đổi mới con người của mình) nữa. Quả nhiên muốn canh tân thì phải biết sám hối, có dốc lòng sám hối mới canh tân được cuộc sống. Sám hối và canh tân vừa là tiền đề, vừa là kết quả của hành trình đức tin Ki-tô hữu vậy.

Tóm lại, Ðức tin là những đòi hỏi cần thiết để được hưởng hồng ân cứu độ, như Ðức Giê-su đã nói với các môn đệ khi Người từ cõi chết sống lại: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Ai tin và chịu phép Rửa sẽ được cứu độ, còn ai không tin, thì sẽ bị kết án.” (Mc 16, 15-16). Ơn cứu độ ấy sẽ hoàn thành trong ngày sau hết, nhưng ngay từ bây giờ, đức tin cho ta nếm hưởng ánh sáng vĩnh cửu. Vì thế, đức tin là khởi điểm của cuộc sống vĩnh hằng. Rõ ràng hành trình đức tin là “tin và chịu Phép Rửa (sám hối)” (Mc 16, 16), là “sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1, 15), không thể khác hơn. Ấy cũng bởi vì “Đức tin là hy vọng” (“Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy.” (Dt 11, 1).

Ôi! Lạy Chúa! Con rất muốn được dốc lòng ăn năn chừa cải về những sai lầm thiếu sót của con trong quá khứ và hiện tại, nhưng con còn rất yếu đuối, không đủ can đảm để nhận ra hết được những lầm lỗi sai sót đó. Cúi xin Chúa thương ban cho con Đức Tin để con vững tin vào Tin Mừng Cứu Độ, đồng thời cũng xin Chúa thương ban Thánh Thần soi sáng cho con để con đủ sáng suốt nhìn lại con người thật của mình với biết bao sai lầm thiếu sót, đồng thời có đủ dũng khí sẵn sàng từ bỏ tội lỗi, đổi mới cuộc đời con. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.

Về mục lục

.

THẦY GỌI TRÒ ĐÁP NHỊP NHÀNG

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

Người bảo các ông: “Các anh hãy đi theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ lưới người như lưới cá.”

Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà theo Người.

I. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG MÁC-CÔ (1,14-20):

(14) Sau khi ông Gio-an bị nộp, Đức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. (15) Người nói: “Thời kỳ đã mãn, và Triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.”

(16) Người đang đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê, thì thấy ông Si-mon với người anh là ông An-rê, đang quang lưới xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá. (17) Người bảo các ông: “Các anh hãy đi theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ lưới người như lưới cá.” (18) Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà theo Người.

(19) Đi xa hơn một chút, Người thấy ông Gia-cô-bê, con ông Dê-bê-đê, và người em là ông Gio-an. Hai ông này đang vá lưới ở trong thuyền. (20) Người liền gọi các ông. Và các ông bỏ cha mình là ông Dê-bê-đê ở lại trên thuyền, với những người làm công, mà đi theo Người.

II. TÌM HIỂU VÀ SUY NIỆM LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG MÁC-CÔ (1,14-20):

2.1 Bối cảnh của câu chuyện Đức Giê-su gọi bốn môn đệ đầu tiên:

a)  Về thời gian:là sau khi ông Gio-an Tiền Hô bị cầm tù và Đức Giê-su xuất hiện  như một vị ngôn sứ rao giảng Tin Mừng Cứu Độ và kêu gọi sám hối.

b) Về không gianlà dọc bờ biền hồ Ga-li-lê nơi có nhiều ngư dân họat động đánh bắt cá.

2.2 Diễn tiến của câu chuyện: ”Thầy GỌI” ”trò ĐÁP” không thể nhịp nhàng hơn:  

a) ”Thầy gọi”: “Các anh hãy đi theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ lưới người như lưới cá.”

b) ”Trò đáp”: Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà theo Người.

2.3 Nội dung của câu chuyện: Từ nghể cũ (lưới cá) chuyển sang nghề mới (lưới người) một cách nhẹ nhàng: Đức Giê-su tuy không phải là một ngư dân chuyên nghiệp, nhưng lại rất am tường về nghề bắt cá Ngài đã dùng chính cái nghề của An-rê, Si-mon, Gio-an và Gia-cô-bê để nói về công việc Ngài sẽ giao cho họ: ”Tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ lưới người như lưới cá.” Và bốn môn đệ đầu tiên nắm bắt ngay công việc mới của mình. Cả bốn vị đã chu toàn sứ vụ chinh phục con người cho Chúa Giê-su Ki-tô bằng một đời sống dấn thân truyền giáo.

III. THỰC THI  LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG MÁC-CÔ (1,14-20):

3.1 Chúng ta được Thiên Chúa mời gọi trong chính môi trường quen thuộc của mình:

Các Ki-tô hữu linh mục triều được Chúa gọi thì sẽ được giám mục giáo phận sai đến một môi trường truyền giáo hoặc là giáo xứ hoặc là giáo điểm để chinh phục con người cho Chúa Ki-tô.

Các Ki-tô hữu tu sĩ nam nữ được Chúa gọi thì sẽ được bề trên Dòng gửi đến một môi trường truyền giáo hoặc là giáo xứ hoặc là giáo điểm để chinh phục con người cho Chúa Ki-tô.

Còn các Ki-tô hữu giáo dân được Chúa gọi thì sẽ được Chúa đặt vào trong môi trường gia đình, học đường, khu phố, công ty, xí nghiệp… để họ ”thả lưới bắt người” cho Chúa và biến đổi các môi trường ấy thành Nước Thiên Chúa.

3.2 Công việc biến đổi các môi trường đòi chúng ta phải hy sinh, từ bỏ và thánh thiện:

Kinh nghiệm cho chúng ta thấy ”thả lưới bắt người” và biến đổi gia đình và xã hội không phải là chuyện đơn giản. Có nhiều cản trở từ bên trong cũng như từ bên ngoài. Lòng người ngày nay cũng rất khó mà chinh phục, lôi cuốn. Vì thế mà chúng ta phải cậy vào sức mạnh của Thần Khí mà tiếp xúc và thuyết phục. Nhưng trước hết chúng ta phải có một cuộc sống hy sinh từ bỏ và kết hiệp mật thiết với Chúa Ki-tô là Đấng đã gọi chúng ta và giao công việc ”thả lưới bắt người” cho chúng ta.

IV. CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG MÁC-CÔ (1,14-20):

Lạy Chúa Giê-su Ki-tô là Con Thiên Chúa làm người,

con cảm tạ Chúa vì Chúa đã luôn mời gọi con đi theo Chúa và thả lưới bắt người cho Chúa. Cả hai việc ấy đều rất khó, vì một đàng là do bản thân con yếu kém, nhát gan, lười biếng, ngại hy sinh vất vả; đàng khác là do lòng người khó thuyết phục.

Xin Chúa ban cho con một lòng nhiệt thành, một ý chí kiên cường và một phương pháp thích hợp để con mạnh dạn ”thả lưới bắt người” cho Chúa.

Con cầu xin Chúa là Đấng hằng sống hằng trị cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần đến muôn ngàn đời. Amen.

Về mục lục

.

ĐƯỜNG LỐI THIÊN CHÚA

Lm.Giuse Nguyễn Hữu An

Có một thầy ẩn tu tên là Xê-bat-chiêng thường đến cầu nguyện tại một nhà nguyện vắng vẻ trên núi. Trong nhà nguyện này dân chúng tôn kính một tượng Thánh Giá với tước hiệu là “Tượng Chúa ban ơn”.

Thấy dân chúng có lòng tin thường đến cầu xin ơn lành, thầy Xê-bat-chiêng cũng thêm lòng tin cậy.

Một hôm vắng người, thầy quỳ gối trước Thánh Giá và chân thành khấn nguyện: “Lạy Chúa, con ước ao được chia sẻ đau khổ với Chúa, xin cho con được thế chỗ Chúa trên thánh giá”.

Thầy quỳ yên lặng, mắt đăm đăm nhìn lên Thánh Giá mong đáp lời. Một lúc sau, từ Thánh Giá có tiếng phán bảo: “Được, Ta bằng lòng để con thế chỗ Ta trên Thánh Giá nhưng với một điều kiện duy nhất là bất cứ điều gì xảy ra, tai con nghe gì, mắt con thấy gì, con đều phải giữ im lặng không được nói năng gì hết”. Xê-bat-chiêng hứa và được Chúa Giêsu cho lên thế chỗ Ngài trên Thánh Giá.

Ngày qua ngày, dân chúng vẫn đến trước tượng Thánh Giá để cầu nguyện. Không ai hay biết về việc đổi chỗ này.

Một hôm, có người xứ nọ đến cầu nguyện. Khi ra về, ông để quên dưới ghế quỳ cái túi đầy những đồng tiền vàng. Thấy vậy thầy vẫn yên lặng.

Lúc sau, có một người nghèo khổ vào nhà nguyện, ông ta sung sướng nhìn túi tiền vàng, tưởng là Chúa ban cho liền xách túi, tạ ơn và đi ra.

Rồi có một chàng thanh niên vào quỳ gối khẩn nguyện xin ơn che chở vì sắp đi xa. Vừa ra khỏi nhà nguyện thì gặp người phú hộ trở lại tìm túi tiền. Không thấy đâu, ông nghi chàng thanh niên đã lấy đi, tranh cãi và cả hai mời cảnh sát phân xử.

Không cầm lòng được nữa, từ trên Thánh Giá, thầy Xê-bat-chiêng hét lên: Đứng lại. Mọi người ngạc nhiên. Thầy phân trần sự việc. Người phú hộ tìm người nghèo xin lại túi tiền. Chàng thanh niên cũng vội vã đi cho kịp chuyến tàu.

Khi không còn ai trong nhà nguyện, Chúa Giêsu lên tiếng bảo Xê-bat-chiêng: “Con hãy xuống ngay khỏi Thánh Giá, con không xứng đáng thế chỗ cho Ta, vì con đã không biết giữ yên lặng như lời con đã hứa”.

Thầy vội vã phân trần: Nhưng lạy Chúa, làm sao con có thể chịu đựng được cảnh bất công đó?

Chúa Giêsu đáp: Thật con không hiểu gì hết! Tiền của người phú hộ là tiền bất lương, trong khi người nghèo đói kia vất vả mà không kiếm đủ miếng cơm manh áo cho đàn con nhỏ. Và nếu chàng thanh niên kia có bị cảnh sát giữ lại, anh ta lỡ chuyến tàu, như thế đã cứu được mạng sống mình. Kìa, tàu của anh ta đang lao đao giữa biển cả sắp chìm vì sóng to gió lớn. (Trích tuyển tập truyện hay, Giấc Mộng Vàng, trang 27).

Câu chuyện gợi nhớ Lời Chúa trong sách Isaia: Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, đường lối của Ta không phải là đường lối của các ngươi. Như trời cao hơn đất bao nhiêu thì tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng của các ngươi bấy nhiêu.

Ngôn sứ Isaia mời gọi các dân tộc : “Hãy đến, chúng ta hãy lên núi Chúa và lên nhà Thiên Chúa của Giacóp. Người sẽ dạy chúng ta đường lối của Người, và chúng ta sẽ đi theo ý định của Người”; vì luật pháp sẽ ban ra từ Sion, và lời Chúa sẽ phát ra từ Giêrusalem. Thế nhưng, dân Chúa đã bao phen chối bỏ đường lối của Chúa: “Đây là dân tâm hồn lầm lạc, chúng nào biết đến đường lối của Ta…” (Tv 95,10-11;x.Xh 16,7-8; Ds 11,18-20; 14,27; Tv 81,11-13; Is 8,6;31,1-2.15; Lc 7,30; x. Lv 26,15; 1V 19,14; Hs 8,1).

Dân Israen đã được chuẩn bị hàng ngàn năm để đón nhận Đức Mêsia, nhưng rốt cuộc họ đã không đón nhận được Đức Mêsia. Không phải chỉ có những người biệt phái kiêu căng, không phải chỉ có Sa đốc an thân, mà hầu như tất cả những người Do Thái, từ Gioan Tẩy Giả, đến các môn đệ của Đức Giêsu cũng đều không hiểu được cách thức cứu độ của Thiên Chúa, đường lối của Ngài.

Cũng vậy, trong suy nghĩ của con người, chúng ta không thể hiểu được tại sao Chúa Giêsu lại gọi bốn môn đệ đầu tiên để đặt nền tảng xây dựng Giáo hội như bài Phúc âm hôm nay vừa kể.

Đó là những người chài lưới “ăn với sóng, nói với gió”, ít học, quê mùa. Chúa Giêsu lại chọn họ làm môn đệ. Tại sao Chúa Giêsu không chọn những Luật sĩ, những Pharisiêu, những Ký lục thông thái?

Cũng như chúng ta cũng hỏi, tại sao Chúa Giêsu không sinh ra nơi cung điện nguy nga lộng lẫy mà lại chọn hang đá Bêlem hôi hám lạnh lẽo để giáng sinh? Tại sao Chúa Giêsu lại chọn cái chết Thập giá đau đớn tủi nhục để làm phương thế cứu độ? Ngắm nhìn Hài Nhi trong máng cỏ cũng như nhìn lên tử tội Giêsu trên thập giá, chúng ta thường tự hỏi tại sao Chúa lại thích những điều nghịch lý? Làm sao người ta có thể tuyên xưng Người là Đấng Giải Thoát khi Người đến trong dáng vẻ yếu đuối bé bỏng?

Thánh Phaolô đã từng thốt lên: “Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ” (1 Cr 1, 22-24). Thập giá là một sự điên rồ với người Hy Lạp; Thập giá là một ô nhục với người Do Thái. Thật ra, Thập giá là thách đố đối với tất cả mọi người, những kẻ mang thân phận “người phàm mắt thịt”.

Bởi đó, đường lối của Thiên Chúa không phải là đường lối của con người. Thiên Chúa là Thiên Chúa. Con người là thụ tạo.

Chúa Giêsu truyền lại cho các môn đệ, những người được mời gọi đi vào nẻo được cứu độ “ngược đời tuyệt diệu”. Người thường chọn những cái nghịch lý để làm những điều vĩ đại. Tám mối phúc thật là nghịch lý đối với người đời nhưng lại là Hiến Chương Nước Trời. Chúa Giêsu không đến với sức mạnh bạo lực nhưng với những gì yếu ớt mỏng manh kết tụ nơi Hài Nhi bé nhỏ. Chúa Giêsu cũng kêu gọi những người tầm thường, những người khiêm nhường bé nhỏ. Chính bằng cái mỏng manh bé nhỏ ấy mà Người khơi dậy nơi con người cái chân tâm để rồi tình yêu của Người giúp họ biến đổi để trở nên những rường cột của Giáo hội.

Như thế Chúa nhìn con người với cái nhìn yêu thương, tôn trọng, luôn thấy cái tốt, cái đáng yêu nơi mỗi người cho dù họ nhỏ bé, họ tầm thường. Chính sự bé nhỏ đó mà Chúa biến đổi để nên lớn lao.
Mỗi người chúng ta trong cách nhìn về tha nhân cũng cần học theo gương của Chúa. Đó là cái nhìn về phía đàng trước, về phía tương lai.

Nhiều lần ta khóa chặt anh chị em mình trong quá khứ lỗi lầm. Nhiều khi chỉ vì vài xích mích, vài lỗi lầm trong cuộc sống, nhưng ta lại vịn vào đó mà phủ nhận, mà phán đoán và đánh giá chính họ theo thành kiến của mình. Có người giận Cha xứ mà bỏ Nhà thờ không đi lễ, không xưng tội rước lễ. Có người tâm sự: mọi người coi tôi như một người xấu xa, ai cũng lên án, ai cũng xa lánh, cùng lắm chỉ thương hại, không còn cánh cửa mở ra phía trước cho tôi.

Về mặt xã hội, mấy mươi năm qua cũng có thái độ xét đoán con người như thế. “Chủ nghĩa lý lịch” tạo nên sự kỳ thị khủng khiếp. Biết bao nhân tài bị mai một, không phát huy được tài năng chỉ vì lý lịch. Biết bao kẻ bất tài nhờ lý lịch được thăng quan tiến chức. Khóa chặt con người trong quá khứ, một quá khứ do cha mẹ, do hoàn cảnh xã hội tạo nên. Vì quá khứ ấy mà mà mọi cánh cửa mở ra cho tương lai của xã hội đất nước cũng bị thiệt thòi.

Cho nên xem ra con người ta vẫn hay nhìn lại phía đàng sau hơn là nhìn về phía đàng trước. Trong khi đó, niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng mở ngỏ cho tương lai lại thúc bách ta nhìn về phía tương lai.
Nhìn về phía tương lai là không chấp nhận thái độ thất vọng: thất vọng về chính mình, về anh em, về cuộc đời. Nhìn về phía tương lai là thay thế thất vọng bằng niềm tin: tin vào chính mình, tin vào con người, tin vào cuộc đời…Niềm tin gắn liền với hy vọng. Thất vọng như Giuđa nên đã thắt cổ tự vẫn. Hy vọng như Phêrô, đã từng sa ngã và tin vào ơn thứ tha nên tìm lại mùa xuân tâm hồn. Vào một buổi sáng mùa xuân, có hai người mất hy vọng đang đi với nhau, buồn phiền sầu não chán chường mệt mỏi. Nhưng Đấng Hy Vọng đã tới với họ. Người chuyện trò với họ. Hai môn đệ trên đường Emmau quyết định quay về Giêrusalem. Niềm hy vọng làm bừng dậy sức sống mới. Từ đó Đấng Hy Vọng là niềm hạnh phúc cho nhân loại.

Nhìn về phía tương lai là tin vào Thiên Chúa, Đấng mở ngỏ và dẫn đưa chúng ta đi về quê trời dấu yêu, niềm hy vọng tuyệt vời trên hành trình đức tin.

“Các dân thiên hạ sẽ được tập họp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau …” (Mt 25,32). Sự công bằng luân lý của Thiên Chúa được mạc khải trong các lề luật và xét xử của Ngài. Các giới răn và phán quyết của Chúa là khuôn mẫu của sự công minh. Hình phạt và ân thưởng của Ngài hoàn toàn công bằng. Sự công minh của Chúa không thiên vị. Thật đáng ca ngợi, việc Chúa bênh vực hối nhân và người khốn khổ không được ai bảo vệ. Rốt cuộc, mọi đường lối Chúa phải được coi là chính trực công bình.

Lạy Chúa, xin dạy chúng con theo đường lối của Người, và chúng con sẽ đi theo ý định của Người. Amen.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 3 THƯỜNG NIÊN_B

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam

Bài Tin mừng Chúa nhật III Thường niên có hai nội dung chính:

– Tóm lược nội dung lời rao giảng của Chúa Giêsu tại Caphanaum, trung tâm truyền giáo của Chúa Giêsu. Người nói: “Nước Trời đã đến gần”.Người cho biết điều kiện để gia nhập Nước trời là: “Hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin mừng”.

Chúa Giêsu chọn 4 môn đệ đầu tiên: Anrê, Phêrô, Gioan, Giacôbê để sai các ông đi loan báo Tin mừng cứu độ cho mọi người.

Lịch sử cứu độ, lịch sử nhân loại, lịch sử dân Do Thái, lịch sử cuộc đời người Kitô hữu luôn diễn tiến theo con đường sau đây:

“Tội lỗi –> ăn năn sám hối –> Thiên Chúa tha thứ”.

Dân Do thái đã bao lần phạm tội, phản bội Chúa, trong sa mạc họ đã bỏ Chúa và thờ bò vàng. Nhưng dân Do Thái đã nhìn nhận lỗi phạm của mình, ăn năn sám hối, rồi Chúa tha thứ. Dân thành Ninivê đã ăn năn sám hối theo lời kêu gọi của tiên tri Giona: “Dân thành Ninivê tin vào Thiên Chúa, bỏ đường gian ác mà trở lại…”. Thiên Chúa đã tha thứ không phạt họ nữa.

Theo Chúa Giêsu, ăn năn sám hối là điều kiện cần thiết để được gia nhập Nước Thiên Chúa và được ơn cứu độ. Ăn năn sám hối là quay trở về với Thiên Chúa, là đổi mới cuộc sống, từ bỏ nếp sống cũ tội lỗi và quyết tâm sống một cuộc sống mới lương thiện, đạo đức.

Con người luôn có những lầm lỗi, thiếu xót: “Errarre humanum est!”. Tất cả chúng ta đều là tội nhân trước mặt Chúa; không ai xứng đáng được ơn cứu độ… Vì thế cần phải ăn năn sám hối quay trở về với Thiên Chúa để được thứ tha và trở thành công dân Nước Trời. Thân phận con người yếu đuối, tội lỗi, nên việc sám hối, sửa mình là điều cần thiết mà mỗi người phải ưu tiên thực hiện từng ngày từng giờ trong cuộc sống, luôn luôn phải bắt đầu lại ngay hôm nay để có một ngày mai tốt đẹp. Chính vì thế, bắt đầu công việc rao giảng, sứ điệp đầu tiên mà Chúa Giêsu gởi đến cho mọi người là: “Hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin mừng” (Mc 1,15).

Nội dung thứ hai là Đức Giêsu muốn con người cộng tác trong công trình cứu độ, nên Ngài đã chọn các tông đồ, sai họ đi khắp nơi loan báo tin mừng cứu độ cho mọi người. Các môn đệ đã mau mắn đáp lại lời mời gọi của Đức Giêsu, các ông từ bỏ mọi sự và đi theo Người. Theo Chúa là phải chấp nhận hy sinh, gian khổ, vác thập giá, từ bỏ những gì thân thương nhất để rồi chỉ ưu tiên cho công việc loan báo tin mừng; Thiên Chúa luôn muốn con người cộng tác để cứu độ nhân loại.

Thông điệp của Chúa Giêsu: “Hãy ăn năn sám hối và tin vào tin mừng”luôn cần thiết cho con người hôm nay. Biết bao lần chúng ta đến với Chúa trong bí tích Giải Tội, nhưng vì không có quyết tâm sửa mình, không có tâm tình sám hối ăn năn chân thành, nên chúng ta không thể đổi mới tâm hồn, chứng nào tật nấy. Phải nhận ra sai lỗi mới có thể sửa sai và tiến bộ trên đường đạo đức.

Tin vào Tin mừng là thực thi Lời Chúa, sống Lời Chúa, đem Lời Chúa vào cuộc sống nghĩa là mến Chúa và yêu thương anh em, phục vụ anh em… Đó là điều kiện để được vào Nước Chúa và trở nên môn đệ Đức Giêsu.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 3 THƯỜNG NIÊN_B.

Lm. Giuse Đinh Tất Quý

“Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15)

A. Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại hai sự việc Chúa đã làm vào lúc khởi sự cuộc đời công khai của Người.

  1. Tuyên bố về nội dung sứ vụ của Ngài nơi trần thế.
  2. Gọi 4 môn đệ đầu tiên.

Nếu chỉ nhìn một cách thoáng qua thì xem ra như hai sự việc này chẳng có liên hệ gì với nhau. Nhưng nếu nhìn kỹ một chút thì chúng ta sẽ thấy chúng có liên hệ rất mật thiết 

B. Nếu nghiên cứu Tin Mừng mừng một cách nghiêm chỉnh thì chúng ta sẽ thấy Chúa xuất hiện không như một chuyên viên làm phép lạ.

Những phép lạ được ghi lại trong Tin Mừng của Marcô rất ít nhưng những người được thụ hưởng phép lạ của Chúa thì Marcô nói tới một con số rất nhiều. 

Mục đích quan trọng nhất và chính yếu nhất trong cuộc đời của Chúa là loan báo cho con người một Tin mừng. Và Tin Mừng này có một nội dung rất rõ rệt đó là Nước Trời, nước Thiên Chúa. 

Với bài Tin Mừng ngày hôm nay Chúa nói: “Nước trời đã gần đến”(Mc 3,2) 

Vào khoảng giữa cuộc đời công khai của Chúa thì Chúa lại bảo: “Nước Trời đang ở giữa anh em”(Lc 17,19) 

Trong Luca cuối đoạn 17 Chúa lại khẳng định: “Nước Trời ở trong lòng anh em” (Lc 17,21) 

Tại sao lại có sự khác biệt trong ba lời loan báo như thế?. 

Rõ rệt là Chúa muốn nói đến những kết quả mà lời rao giảng của Chúa đã đạt được. Những người được nghe rao giảng đã dần dần hiểu ra rằng Nước Trời mà Chúa rao giảng không phải là một nước theo kiểu của trần thế mà là một thực tại cao cả hơn, siêu việt hơn. Nước đó sẽ đem lại cho con người công lý, sự an bình – tình thương – và hy vọng…nếu  con người trở thành công dân trong nước ấy. 

* Nhưng để trở thành một người công dân của Nước Trời thì con người phải làm gì?. Trong bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu đưa ra 2 con đường: Sám hối và tin vào Tin Mừng. 

+ Sám hối là gì thì trong suốt mùa vọng vừa qua, chúng ta đã nghe Gioan Tẩy giả nói. 

– Sám hối đơn thuần không phải chỉ là một tác động đau lòng ăn năn về những lỗi lầm tội lỗi của mình. Nếu chỉ dừng lại ở đó thì việc sám hối mới chỉ là một hành vi có tính cách tiêu cực. Sám hối như thế chưa phải là sám hối của Tin Mừng. 

– Sám hối theo tinh thần của Tin Mừng còn phải là một cuộc quay trở về với Thiên Chúa. Tin Mừng dùng chữ metaloia – một sự trở về sau khi đã bỏ ra đi giống như người con hoang đàng trong Tin Mừng của Luca. 

+ Thêm vào đó hay xa hơn thế là Tin vào Chúa. 

– Tin không chỉ là một hành vi chấp nhận một mớ những chân lý của Chúa. Tin như thế chưa phải là tin đích thực. 

– Tin còn phải là một cái gì hơn nữa. Tin là đi theo Chúa. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô đệ I bảo:”Tin là liều mạng theo Chúa” 

Con đường theo Chúa không phải là dễ dàng. Chúa Giêsu đã diễn tả con đường khó khăn này bằng một khẳng định làm cho nhiều người cảm thấy phải sợ: “Ai muốn theo Tôi mà không từ bỏ cha mẹ, nhà cửa, vợ con và cả mạng sống mình thì không xứng đáng là môn đệ của Tôi”.(Lc 14,26) Đòi hỏi gắt gao thật. Một cách nào đó nó cho chúng ta thấy tích cách nghiêm chỉnh của vấn đề. 

+ Chúng ta cứ nhìn vào cuộc đời của 4 môn đệ đầu tiên của Chúa chúng ta sẽ thấy điều đó. 

– 4 môn đệ mà Tin Mừng hôm nay kể tên là những môn đệ đặc biệt. Ngoại trừ Andrê, còn thì ba người kia là Phêrô, Gioan và Giacôbê là 3 môn đệ có thể nói là “ruột” của Chúa. Ba người này gần gũi Chúa một cách đặc biệt. Chúa cũng tỏ ra ưu ái cách riêng với bộ ba này. 

– Thế nhưng thử hỏi con đường theo Chúa đối với họ có dễ dàng hay không? 

Tin Mừng cho chúng ta thấy con đường theo Chúa thực không dễ dàng chút nào cả. Có rất nhiều trường hợp Chúa buồn với bộ ba này. 

Lúc đầu khi mới theo Chúa, cái chất “người” trong họ còn rất cao. Chúa phải rất vất vả lắm mới cải tạo được họ. Đôi khi Chúa cũng cảm thấy buồn vì họ. 

 * Gioan và Giacôbê thì Chúa gán cho họ cái biệt danh là “con của sấm sét”. 

  * Còn Phêrô thì có lần Chúa đã rủa là “Đồ Satan”. 

– Con đường Chúa chinh phục những con người này quả là một quá trình nhọc mệt và vất vả. Có lần Chúa đã phải than:”không biết Thầy còn phải ở với chúng con cho đến bao giờ nữa?”(Mt 17,17) 

– Bằng việc kêu gọi họ Chúa đã làm cho các môn đệ của Chúa dần dần biết lìa xa đầu óc trần thế. Nghiên cứu Tin Mừng chúng ta sẽ thấy rõ điều đó. 

– Rồi bằng cuộc sống cũng như lời dậy nhất là bằng chính cái chết và sự phục sinh của Ngài, Ngài đã làm cho họ thuộc hẳn về Ngài để cuối cùng họ đã liều mạng vì Ngài, dám chết cho Ngài. 

Như vậy chúng ta thấy con đường mà các môn đệ của Chúa đi vào để trở thành những công dân ưu tú của Nước trời, làm tông đồ của Chúa không phải là con đường nào xa lạ. Đó cũng là con đường có tên là sám hối và Tin vào Chúa. Các Tông đồ đã xoay lưng lại với danh – lợi – thú của của trần gian để tìm đến với Chúa, quay về với Chúa. Và sau khi đã quay về với Chúa họ đã để cho Chúa biến đổi cuộc đời của họ, làm cho họ trở nên những con người mới -những con của Thiên Chúa. Và bằng đời sống dấn thân quảng đại với niềm tin yêu vô hạn vào Chúa họ đã trở thành những chứng nhân sống động cho Ngài….và họ đã được lịch sử ca ngợi là những con người “đã làm thay đổi cả lịch sử nhân loại và làm cho bộ mặt của địa cầu đẹp hơn”. 

C. Vâng kính thưa anh chị em,

Đó là câu chuyện của ngày xưa…nhưng xưa không có nghĩa là nó chỉ còn tồn tại như một kỷ niệm mà như một tấm gương cho hậu thế. Giáo Hội đã rất có lý khi nói rằng: “Các tông đồ là nền tảng của Giáo Hội”. Đây không phải là một nền tảng bằng đá, bằng bêtông cốt sắt mà là bằng cuộc đời và sự nghiệp các Ngài để lại. Cuộc đời của các tông đồ của Chúa Giêsu vẫn còn là tấm gương cho những thế hệ tiếp theo, mai sau và mãi mãi. Cuộc đời các Ngài vẫn còn là tấm gương cho chúng ta. Các Ngài đã cho chúng ta biết thế nào là hy sinh, thế nào là quên mình, thế nào là từ bỏ, thế nào là tin, thế nào là một cuộc đời có ý nghĩa. Các Ngài cũng dạy cho chúng ta biết làm cách nào để “cướp” được Nước trời. Đó chính biết liều mạng để đi theo Chúa. 

Vào một buổi chiều năm 1953 các ký giả và một số nhân viên chính phủ tụ tập nhau lại tại một nhà ga xe lửa ở Chicago để chào mừng người vừa được giải thưởng Hòa bình Nobel năm đó trở về quê quán của mình. 

Người vừa xuống khỏi xe là một người đàn ông to lớn, tóc ngắn, chòm râu cắt rất gọn ghẽ. 

Các máy hình chớp liên hồi. Còn các nhân vật cao cấp của thành phố thì  mở rộng vòng tay chuẩn bị  đón chào người con yêu quí của quê hương. 

Người được giải Nobel đưa tay chào mọi người và rồi ngay lâp tức ông đưa mắt hướng về hướng bên phải của  sân ga. Sau đó ông xin kiếu mọi  mọi người vài phút rồi đi thẳng về hướng đó. Mọi người đều nghĩ là chắc ông để quên một cái gì chăng. 

Ông băng qua đám đông đi thẳng đến chỗ một người đàn bà lớn tuổi đang khệ nệ với hai cái “valises” nặng hai bên. Ông giơ tay đỡ lấy một cái, mỉm cười với bà và dẫn bà ra một chiếc xe búyt gần đó. Sau khi giúp người đàn bà lên xe xong, ông chúc bà thượng lộ bình an. Rồi quay lại với những người đang chờ chào đón ông, ông  nói với họ: “Xin lỗi quí vị vì đã bắt quí vị phải chờ đợi”

Người mà tôi vừa nói đó là Bác sĩ Albert Albert Schweitzer, một nhà truyền giáo nổi tiếng đã dành cả cuộc đời của mình để phục vụ những người nghèo tại Phi châu. Chính vì những phục vụ vô vị lợi và cao cả của ông mà ủy ban Nobel đã quyết định trao giải thưởng Nobel Hoà bình năm đó cho Ông.

Chứng kiến cử chỉ bình thường nhưng cũng rất cao thượng đó, một người trong ban tổ chức lễ đón tiếp đã nói với các ký giả như thế này “Đây là lần đầu tiên tôi thấy một bài giảng biết đi”.

Về mục lục

.

QUYẾT ĐINH

Trầm Thiên Thu

Từ chuyện nhỏ tới chuyện to, hành động nào cũng cần có quyết định, điều càng quan trọng càng khó quyết định. Ai cũng có tự do để quyết định, khi không muốn quyết định mà vẫn phải làm, đó là lúc miễn cưỡng, và khi đã quyết định rồi thì phải chịu trách nhiệm. Tự do và trách nhiệm có hệ lụy với nhau, Thánh TS Tôma Aquinô (1225-1274, lễ ngày 28-1) xác định: “Tự do là khả năng chọn làm điều thiện với một trách nhiệm”.

Thánh Elizabeth Ann Seton (1774-1821, lễ ngày 1-4) có quyết định thật tuyệt vời: “Thứ nhất, tôi muốn công việc hàng ngày của tôi là làm theo Ý Chúa; thứ nhì, tôi làm điều đó theo cách Ngài muốn; thứ ba, tôi làm điều đó vì đó là Thánh Ý Chúa”.

Văn sĩ kiêm triết gia Elbert Green Hubbard (1856–1915, người Mỹ) nhận định: “It does not take much strength to do things, but it requires great strength to decide on what to do – Không cần nhiều sức mạnh để làm điều gì đó, nhưng cần nhiều sức mạnh để quyết định phải làm gì”. Đó là tính quyết đoán rất cần trong cuộc sống, và điều đó chứng tỏ bản lĩnh sống của một con người.

Trong cuộc sống đời thường, đến một thời điểm quan trọng nào đó, người ta thường nói: “Giờ đã điểm” – tức là “lúc phải hành động”. Và người ta gọi thời điểm đó là Giờ G. Có thể Giờ G mang nghĩa tốt hoặc xấu. Đó là lúc “chạy nước rút”, bởi vì nếu nước đến chân rồi mới nhảy thì không kịp nữa. Chúng ta cảm thấy “sốt ruột” khi nhìn chiếc đồng hồ cát chậm rãi chảy, và cứ nghĩ là còn lâu, nhưng rồi bất ngờ nó chảy hết cát. Bom nổ!

Thiên Chúa luôn công bằng, không hề thiên tư, quan phòng và tiền định mọi sự. Thật vậy, Ông Trời sinh ra ai thì đã có kế hoạch rạch ròi cho người đó. Một bậc kỳ tài được sinh ra là để dùng vào một sứ mệnh nào đó, nhưng trước khi trao sứ mệnh đó, họ phải trải qua trăm cay ngàn đắng để tôi luyện tâm tính. Như người ta thường ví von: “Tài mệnh tương đố”, hoặc “Hồng nhan bạc phận”. Chắc hẳn đó là sự công bằng của Thiên Chúa. Khi được trao nhiệm vụ và nếu tự nguyện chấp nhận thì phải chu toàn: Thà hối hận về những điều mình đã làm còn hơn hối tiếc về những điều chưa làm.

Quy trình rõ ràng và hợp lý: Mời gọi, đi theo, rồi hành động. Đó là một chuỗi động từ gắn kết và có hệ lụy với nhau thành một Tam-Giác-Sống, trước khi Giờ G điểm.

Kinh Thánh cho biết rằng Thiên Chúa nói với tiên tri Giôna lần thứ hai: “Hãy đứng dậy, đi đến Ninivê, thành phố lớn, và hô cho dân thành biết lời tuyên cáo Ta sẽ truyền cho ngươi” (Gn 3:2). Ông Giôna mau mắn đứng dậy và đi Ninivê. Kinh Thánh cho biết Ninivê là “một thành phố cực kỳ rộng lớn, đi ngang qua phải mất ba ngày đường”. Ông vào thành và công bố: “Còn bốn mươi ngày nữa, Ninivê sẽ bị phá đổ” (Gn 3:4). Dân thành tin vào Thiên Chúa, họ công bố lệnh ăn chay và mặc áo vải thô, từ người lớn đến trẻ nhỏ – kể cả súc vật. Thiên Chúa thấy việc họ làm, thấy họ bỏ đường gian ác mà trở lại, thế là Ngài đã không giáng tai họa xuống trên họ nữa. Rõ ràng việc cầu nguyện và canh tân đời sống có thể thay đổi số phận của con người.

Đoạn Kinh Thánh ngắn gọn mà hàm súc, dễ đọc và dễ hình dung. Chính Thiên Chúa là Đấng giàu Lòng Thương Xót, Ngài “không đành bẻ gãy cây lau bị giập và chẳng nỡ tắt tim đèn leo lét” (x. Mt 12:20). Người nào càng tội lỗi thì Ngài càng thương, vì Ngài đến để “TÌM và CỨU những gì đã mất” (Lc 19:10). Đó là điều rất thật mà đôi khi chúng ta không dám tin, vì Ngài đại lượng ngoài sức tưởng tượng và vượt xa trí tuệ của phàm nhân. Suy nghĩ về chính cuộc đời mình thì chúng ta sẽ thấy rõ, không cần dẫn chứng đâu xa.

Thật vậy, lịch sử Giáo hội đã có nhiều chứng nhân về Lòng Chúa Thương Xót: Thánh vương Đa-vít, Thánh giáo hoàng Phêrô, Thánh Phaolô, Thánh Augustinô, người phụ nữ ngoại tình, người phụ nữ tội lỗi,… Đặc biệt nhất là “thánh trộm” Dismas cùng bị đóng đinh với Chúa Giêsu. Tuy Chúa Giêsu có trí nhớ tốt nhưng lại mau quên, vì dù biết tay này là tên trộm cướp khét tiếng, thế nhưng nghe “hắn” năn nỉ mấy tiếng là Ngài đồng ý ngay: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với Tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23:43). Sướng rơn! Không ai “đã” như “thánh trộm” này, bởi vì ông là người đầu tiên được nối gót Chúa Giêsu vào Thiên Đàng ngay đêm hôm đó.

Với tâm tình đó, Tv 25 sử dụng những lời thật tha thiết, từng câu như rót vào tâm trí: “Lạy Chúa, đường nẻo Ngài, xin dạy cho con biết, lối đi của Ngài, xin chỉ bảo con” (Tv 25:4). Xin như vậy thì sao Chúa lắc đầu được. Xin như vậy nghĩa là muốn thực hành theo Ý Chúa, mà Chúa rất thích người ta làm theo Ý Ngài. Đức Mẹ nhờ “xin vâng” mà được nên cao trọng, khiến mọi người mọi thời đều ca tụng Mẹ là “người diễm phúc” (Lc 1:48). Người có niềm tin yêu vẫn kiên trì tiếp tục năn nỉ: “Xin dẫn con đi theo đường chân lý của Ngài và bảo ban dạy dỗ, vì chính Ngài là Thiên Chúa cứu độ con” (Tv 25:5). Đó là một quyết định đúng đắn.

Thế nhưng vẫn chưa thỏa lòng, chúng ta lại kể “chuyện cổ tích” cho Chúa nghe: “Lạy Chúa, xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu Ngài đã từng biểu lộ từ muôn thuở muôn đời. Tuổi xuân trót dại bao lầm lỗi, xin Ngài đừng nhớ đến, nhưng xin lấy tình thương mà nhớ đến con cùng” (Tv 25:6-7). Tuổi trẻ luôn bồng bột và ngang ngược, càng có tuổi thì người ta càng “ngộ” ra và “khôn” ra. Chúa chỉ chờ chúng ta “nên người” như thế, vì “Chúa là Đấng nhân từ chính trực, chỉ lối cho tội nhân, dẫn kẻ nghèo hèn đi theo đường công chính, dạy cho biết đường lối của Người” (Tv 25:8-9).

Và rồi cũng đến lúc điểm Giờ G. Người ta cứ đồn thổi ngày nọ, tháng kia sẽ tận thế. Đã rất nhiều lần như vậy, người ta đã từng nhốn nháo lo sợ sốt vó, nhưng rồi không thấy “động tĩnh” gì, người ta lại “vô tư”, cứ “xả láng” như chưa hề có chuyện gì. Thật lạ, các “tiên tri giả” cứ thay phiên nhau xuất hiện. Thế nhưng họ chỉ là những “thầy bói mù đoán mò”, chỉ là những kẻ yếu bóng vía, dốt hay nói chữ, muốn “chơi nổi” để tự tôn, chứng tỏ chẳng biết gì về Kinh Thánh. Chúa Giêsu đã nói rạch ròi: “Về ngày và giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay cả người Con cũng không, chỉ một mình Chúa Cha biết mà thôi” (Mt 24:36). Và rồi nay lại thấy có tà giáo “Đức Chúa Trời Mẹ” (*). Đúng là… “chuyện động trời” mà!

Còn nữa, cái gọi là “Sứ Điệp Từ Trời” cũng chỉ lấy danh nghĩa Sự Thật mà nói những lời châm chọc, khích bác, không hề yêu thương như Chúa dạy. Thật buồn khi thấy một số người vẫn tin vào loại “sứ điệp” như vậy (sic!). Người Pháp thật chí lý khi thẳng thắn nói: “Đừng vì kính mến Chúa mà chống đối người khác”. Đức tin rất cần lý trí lành mạnh để không ảo tưởng hoặc cuồng tín. Cuồng tín là phi đức tin, và biến thành mê tín. Thánh TS Tôma Aquinô nói: “Có ba điều cần để con người được cứu độ: biết mình TIN gì, biết mình MUỐN gì, và biết mình LÀM gì”.

Thật là quái gở! Làm không lo làm mà cứ lo… rình mò. Sống không lo sống tốt mà cứ tìm cách phá đám, thọc gậy bánh xe, rồi khoác lác đủ thứ. Tin không lo tin mà cứ dị đoan. Thánh Phaolô cũng đã từng cảm thấy ái ngại nên ân cần nhắn nhủ: “Thời gian chẳng còn bao lâu” (1 Cr 7:29), và giải thích tường tận: “Từ nay, những người có vợ hãy sống như không có; ai khóc lóc, hãy làm như không khóc; ai vui mừng, như chẳng mừng vui; ai mua sắm, hãy làm như không có gì cả; kẻ hưởng dùng của cải đời này, hãy làm như chẳng hưởng. Vì bộ mặt thế gian này đang biến đi” (1 Cr 7:30-31). Thật như thế chứ còn thật như thế nào nữa? Nghe mà vừa thấy “lạ” vừa thấy… rờn rợn, nhưng đó lại là sự thật minh nhiên và tuyệt đối!

Có mà như không, không mà lại có. Đó là điều kỳ lạ, ngay trong đời thường chúng ta cũng khả dĩ cảm nhận được như vậy. Nhưng ai tự quyết định sống như vậy mới là “cao thủ”, bởi vì đó là cách buông bỏ rất cần trong đời sống Kitô hữu, cách sống mà Chúa Giêsu luôn khuyến khích: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy. Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?” (Mt 16:24-26; x. Mc 8:34-37; Lc 9:23-25).

Một hôm, khi đến miền Galilê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa, Chúa Giêsu vừa xác định vừa cảnh báo: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy SÁM HỐI và TIN vào Tin Mừng” (Mc 1:15). Ngài thấy ông Simôn với người anh là ông Anrê đang quăng lưới xuống biển, Ngài bảo: “Các anh hãy theo Tôi, Tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” (Mc 1:17). Hai anh em lập tức bỏ chài lưới mà đi theo Ngài. Sau đó, Ngài thấy hai anh em Giacôbê và Gioan, con ông Dêbêđê, đang vá lưới ở trong thuyền, Ngài cũng gọi cả hai, và họ cũng bỏ cha mình ở lại trên thuyền mà đi theo Ngài.

Cả hai cặp tông đồ đầu tiên này đều có điểm chung là mau mắn “đi theo” ngay sau khi “được mời gọi”, nghĩa là họ không hề đắn đo, lần lữa, mà quyết định ngay. Đó là động thái rất quan trọng trong cuộc sống – cả đời và đạo, bởi vì “vâng lời trọng hơn của lễ” (1 Sm 15:22 và Tv 50:8-9). Nhận biết Ý Chúa là điều không dễ, nhưng khả dĩ vui vẻ chấp nhận và hoàn toàn “xin vâng” thì lại càng khó hơn nhiều. Con người rất yếu đuối, nếu không có Chúa thì chúng ta không thể làm gì được (x. Ga 15:5), nói theo ngôn từ ngày nay là “BoTay.com”. Đúng thế thật!

Lạy Thiên Chúa, xin cứ lấy hết tự do và trí nhớ của con, cả sự hiểu biết và ý muốn của con, bởi vì tất cả những gì con có và sở hữu đều do Ngài cho phép con quản lý. Ngài đã ban cho con thì Ngài có quyền lấy lại (x. G 1:21). Mọi sự đều là của Ngài, xin Ngài sử dụng theo Thánh Ý Ngài. Xin thương ban cho con tình yêu và ân sủng của Ngài, vì như thế là đủ cho con rồi.

Lạy Đấng là Chân Lý, nếu con có gì lệch lạc, xin Ngài dập tắt ngay từ khi manh nha, xin dạy con biết đường lối của Chúa, xin giúp con quyết định đúng theo Thánh Ý Ngài và giúp con tuân hành trong suốt cuộc đời con.  Xin cho bất kỳ ai gặp con thì cũng đều gặp được Ngài, và con cũng thực sự nhận thấy Ngài nơi họ. Con cũng chỉ xin Ngài như bổn mạng của con là Thánh Tôma Aquinô: “Con chỉ muốn Chúa mà thôi”.  Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ nhân loại.  Amen.

——-

 (*) World Mission Society Church of God được thành lập bởi Ahnsahnghong (1918-1985) vào năm 1964. Ahnsahnghong (1918-1985, sinh tại Nam Hàn trong một gia đình có truyền thống Phật giáo). Sau khi qua đời, Ahnsahnghongđể lại quyền lãnh đạo giáo hội cho Zahng Gil-Jah (người vợ tâm linh, gọi là “Mẹ Thiên Thượng”) và Kim Joo-Cheol (Mục sư Hội Trưởng).

Trụ sở chính được đặt tại Bundang, thành phố Sungnam, tỉnh Kyunggi. Zahng cũng là Chủ tịch của Quỹ phúc lợi Cuộc Sống Mới (New Life Welfare) và Tổ chức quốc tế Chúng Tôi Yêu Bạn (We Love You).

Tà giáo này tuyên bố đã thành lập hơn 400 nhà thờ tại Hàn Quốc và 2.200 nhà thờ tại 150 quốc gia với gần 2 triệu tín hữu (tính đến tháng 4-2012). Tà giáo này đến Việt Nam vào đầu thế kỷ 21. Tại TPHCM, sự xuất hiện của tà giáo này được ghi nhận lần đầu tiên vào khoảng năm 2007, riêng tại Hà Nội có lẽ nó đã bắt đầu hoạt động từ vài năm trước đó.

Về mục lục

.

HÃY HỐI CẢI VÀ TIN VÀO TIN MỪNG

Lm. Bùi Thượng Lưu

Ninivê kinh thành sám hối: một kinh thành “lớn quá trời rộng ba ngày đàng” (Ga 3,3), đặc biệt đó là một kinh thành ngoại giáo. Chính trong kinh thành này, lời sấm của Ngôn sứ Giona đã vang dội khắp hang cùng ngõ hẻm, dội tới cung điện đức vua.

Điều kinh ngạc là dân thành đã “tin vào Thiên Chúa” và tin vào lời rao giảng sám hối của sứ giả Thiên Chúa sai đến. Nhà vua đã ra chiếu chỉ bắt toàn dân từ vua quan tới thứ dân phải theo nghi tiết sám hối… Và Thiên Chúa đã chấp nhận tấm lòng thống hối của Ninivê.

Đức Kitô, sau thời gian tĩnh tâm trong sa mạc đã khai mào việc rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa tại Galiê:

“Thời buổi đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần bên” (Mc 1,14)

Theo địa dư, Galilê giáp với xứ Samarie và miền Syrô-Phénicie, ngoài dân địa phương là người Do Thái lập cư, còn có các sắc dân thiểu số ngoại bang khác cư trú, họ là những người ngoại giáo. Điều đáng lưu ý là Đức Kitô đã bắt đầu sứ vụ loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa từ Galilê. Rồi sau khi sống lại, Ngài cũng hẹn với các môn đệ của Ngài ở Galilê (Mc 14,28 và 16,7). Quả thực, Tin Mừng đã được công bố cho cả dân tộc Do Thái và dân ngoại.

Một trong những điều kiện tiên quyết để đón nhận nước Thiên Chúa chính là lòng hối cải: “Hãy hối cải và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,14). Đọc hạnh các thánh, nhất là những vị đại thánh, chúng ta kinh ngạc và thán phục con đường cải quá tự tân dẫn các ngài từ con đường sa đọa tội lỗi quay trở về với Thiên Chúa: Một Augustin, một Charles de Foucauld… và biết bao những tâm hồn lành thánh khác. Lòng hối cải thường bắt đầu với sự đánh động từ thâm sâu của Thiên Chúa, nói một cách khác chính ân thánh của Thiên Chúa biến cải tâm hồn và làm cho con người tìm về đàng ngay nẻo chính. Tiếp đến là một đoạn tuyệt, cắt đứt với đời sống dĩ vãng, cởi bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới, con người được tái tạo trong ân thánh. Dân thành Ninivê đã nhận lấy lời cảnh cáo của sứ giả Thiên Chúa, đã ăn năn sám hối và chắc hẳn đã cải bỏ nếp sống lăng loàn cũ để bắt đầu cuộc sống mới trong đức tin vào Thiên Chúa.

Lý do khiến con người hối cải thật lớn lao: để tiếp nhận Nước Thiên Chúa, đón nhận ơn cứu độ. Con người từ bỏ kiếp sống nô lệ tội ác trở về với thiên chức con cái Thiên Chúa. Trong cái nhìn vĩnh cửu và khải huyền đó, thánh Phaolô đã khuyên tín hữu thành Corinthô hãy hướng nhìn về tương lai:

“Vì bộ dạng thế gian này đang qua đi” (1 Cr 7,31)

Dân thành Ninivê sống vào thế kỷ thứ 8 trước kỷ nguyên, rồi đến các tín hữu thành Côrinthô cũng như những người đồng thời với Đức Kitô quả thực họ đã qua đi. Bao nhiêu đế quốc đã sụp đổ hoang tàn không còn vết tích. Và thế gian với những phù hoa của nó: tiền tài, danh vọng và sắc dục… tất cả cũng sẽ qua đi. Sống trong kiếp phù du, con người thường bị vật chất ru ngủ, quên đi kho tàng khôn sánh ví là Nước Thiên Chúa. “Và tức khắc họ đã bỏ cả chài lưới mà theo Ngài”, các môn đệ đầu tiên theo Đức Kitô hẳn đã hiểu phần nào Tin Mừng nước Thiên Chúa họ đã nghe Thầy mình rao giảng, họ đã sẵn sàng từ bỏ tất cả, ngay cả những gì cấp thiết nhất cho kế sinh nhai của họ. Còn chúng ta, những người con đang sống trong thế giới mau qua chóng hết này, chúng ta phải có thái độ và nếp sống nào đối với Tin Mừng Nước Thiên Chúa chúng ta đã lãnh nhận?

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 3 THƯỜNG NIÊN. NĂM B

Lm. Anthony Trung Thành

Sám hối là điều kiện cần thiết để được tha thứ tội lỗi và để được vào Nước Trời. Vì thế, sám hối là chủ đề xuyên suốt Kinh Thánh và cũng là chủ đề chính mà Lời Chúa hôm nay đề cập tới.

Bài đọc I, Thiên Chúa mời gọi tiên tri Giona rao giảng về sự sám hối cho thành Ninivê: “Hãy chỗi dậy và đi đến Ninivê, một thành phố lớn, và rao giảng cho nó điều Ta sẽ nói cho ngươi.”(Gn 3,2). Giona đã làm theo lời Chúa dạy, tới Ninivê và rao giảng rằng: “Còn bốn mươi ngày nữa, Ninivê sẽ bị phá huỷ.”(Gn 3,4). Nghe lời Giona rao giảng, dân thành Ninivê đã tin tưởng vào Thiên Chúa và quyết tâm sám hối bằng cách: “Công bố việc ăn chay và mặc áo nhặm, từ người lớn đến trẻ nhỏ.” (Gn 3,5). Thấy được sự sám hối chân thành của họ, vì họ bỏ đời sống xấu xa, nên Thiên Chúa đã bỏ ý định phạt họ (x. Gn 3,10).

Bài đọc II, Thánh Phaolô mời gọi các tín hữu Conrintô phải có thái độ sống siêu thoát, không dính líu với những của cải vật chất và những thực tại trần gian. Ngài nói:“những ai có vợ, hãy ở như không có; những ai than khóc, hãy ăn ở như không than khóc; những kẻ hân hoan, hãy ăn ở như không hân hoan; những người mua sắm, hãy ăn ở như không có gì; những ai dùng sự đời này, hãy ăn ở như không tận hưởng” (1Cr 7,29-31). Lời mời gọi này xem ra nghịch lý với cuộc sống thông thường nhưng đó lại là sự thật. Bởi vì, mọi sự thuộc thế gian này rồi sẽ qua đi, chỉ có Thiên Chúa và những gì thuộc về Ngài mới tồn tại.

Bài Tin mừng được Thánh Marcô ghi lại về những hoạt động của Đức Giêsu trong thời gian khởi đầu sứ vụ công khai của Ngài. Đề tài rao giảng của Ngài là mời gọi mọi người sám hối. Ngài nói: “Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; Hãy sám hối và tin vào Tin mừng” (Mc 1,15). Đề tài này được Ngài lặp đi lặp lại nhiều lần trong suốt thời gian hoạt động công khai. Tiếp nối sứ mạng của Ngài, suốt hai ngàn năm qua, Giáo hội cũng không ngừng rao giảng và kêu gọi con cái mình thực hành sám hối.

Vậy, sám hối là gì? Công đồng Trentô định nghĩa: “Sám hối là cảm thấy đau buồn, gớm ghét tội đã phạm và quyết chí chừa cải”(DZ.1676). Theo ý công đồng, sám hối không chỉ là thái độ đau buồn, gớm ghét vì tội lỗi đã phạm trong quá khứ, mà còn phải có tâm tình hướng tới tương lai để quyết tâm chừa bỏ tội lỗi, đồng thời phải ra sức làm nhiều việc lành phúc đức. Việc làm này tương tự như người nông dân sau khi làm cỏ ruộng mình. Để cỏ không mọc trở lại, họ cần phải trồng cây khác thế vào đó.

Ai cần phải sám hối ? Tất cả mọi người, vì đã là con người thì ai cũng có tội. Ngạn ngữ La tinh có câu : “errare humanum est”, nghĩa là : con người là sai lầm. Thánh Gioan Tông Đồ thì nói: “Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta.”(1Ga 1,8). Vì thế, để được tha tội, để được vào Nước trời thì cần phải sám hối. Một hôm Satan kêu trách Chúa rằng : “Chúa thật là bất công ! Cụ thể là có rất nhiều kẻ phạm đủ thứ tội ác, thế mà Ngài vẫn hay tha tội cho chúng. Có nhiều kẻ sa đi ngã lại nhiều lần cùng một thứ tội, mà khi chúng ăn năn sám hối thì Ngài vẫn tha thứ cho chúng. Còn tôi, tôi chỉ phạm tội không vâng lời Ngài duy chỉ một lần, thế mà Ngài kết án phạt tôi phải hoả ngục đời đời, và không bao giờ tha thứ cho tôi.” Bấy giờ Thiên Chúa ôn tồn nói với Satan rằng : “Sở dĩ Ta tha tội cho con cái loài người tội lỗi vì chúng khiêm tốn nhận mình là kẻ có tội, và hồi tâm sám hối, quyết tâm canh tân đời sống. Còn ngươi, từ ngày ngươi phạm tội kiêu ngạo bất tuân lời Ta và bị phạt trong hoả ngục đến nay, đã có bao giờ ngươi khiêm nhường nhận lỗi và hồi tâm sám hối để xin Ta tha thứ cho ngươi hay chưa?”

Để sám hối cần phải nhận ra tội lỗi của mình : Tội là sự xấu xa làm cho ta mất liên lạc với Chúa và tha nhân. Tội có thể trong tử tưởng, lời nói hoặc việc làm. Để sám hối, hối nhân phải ý thức và chấp nhận mình có tội như nội dung Kinh Thú Nhận :“lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.” Nhưng trong thực tế, để nhận ra tội lỗi của mình không phải là chuyện dễ dàng. Con người thường có khuynh hướng đổ lỗi cho kẻ khác. Ngày xưa, ông Adong đã đổ tội cho bà Evà. Bà Evà lại đổ tội cho con rắn. Ngày hôm nay, cha mẹ – con cái, vợ – chồng, cấp trên – cấp dưới, ngày này – người khác…thường đổ lỗi cho nhau. Ít khi người ta can đảm để nhận trách nhiệm về mình. Vì cái tôi của người ta lớn quá. Vì người ta mất ý thức về tội. Vì vậy, người ta khó thực hành việc sám hối ăn năn.

Để nhận ra tội lỗi của mình cần phải biết sống khiêm nhường : Khiêm nhường như người thu thuế lên đền thờ cầu nguyện, ông đứng xa xa, đấm ngực ăn năn và thưa với Chúa : “Lạy Chúa xin thương xót con là kẻ tội lỗi.”(x. Lc 18,13) ; Khiêm nhường như ông Giakêu : đường đường là một thủ lĩnh thu thuế, nhưng ông không ngại “trèo lên” cây sung để được nhìn thấy Đức Giêsu và ông cũng không ngại “tụt xuống” để mong muốn được gặp Ngài. Khi gặp được Đức Giêsu thì ông đã quyết tâm từ bỏ nghề cũ, thực thi bác ái bằng cách chia nữa tài sản của mình cho người nghèo và đền trả gấp bốn những gì ông làm thiệt hại cho kẻ khác (x. Lc 14,1-10) ; Khiêm nhường như Phêrô, sau khi chối Chúa, nghe tiếng gà gáy, nhớ lại lời Chúa, ông đã ra ngoài khóc lóc thảm thiết (x. Lc 22,60-62). Khiêm nhường như kẻ trộm lành đã nhận ra tội lỗi của mình và xin Chúa thứ tha (x. Lc 23, 40-43) ; Khiêm nhường như Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Ngài luôn xác nhận rằng: “Tôi là người tội lỗi.”

Vâng, chúng ta là người tội lỗi, nên chúng ta cần phải sám hối để được Chúa tha tội và được vào Thiên đàng. Đồng thời chúng ta cũng được mời gọi tiếp tục đi rao truyền Lời Chúa để cho mọi người được sám hối như lời mời gọi của Đức Giêsu đối với bốn môn đệ đầu tiên: “Hãy theo Tôi, Tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ chài lưới người”(Mc 1,17).

Lạy Chúa Giêsu, xin cho mọi người chúng con biết khiêm nhường nhận ra tội lỗi của mình và hết lòng sám hối ăn năn. Đồng thời, xin Chúa cho chúng con biết noi gương các Tông đồ tiếp tục ra đi rao giảng sự sám hối cho muôn dân. Amen.

Về mục lục

.

SÁM HỐI VÀ TIN VÀO TIN MỪNG

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

Có lẽ dễ hơn khi nói Tin vào Tin Mừng là điều dẫn đến sám hối. Vì sám hối là một hành vi nhận thức được những sai lầm cần được sửa chữa để đón nhận Tin Mừng giải thoát nhờ Chúa đến ban tặng. Vậy tin vào Tin Mừng là gì và cần điều chỉnh lại lỗi lầm gì nhờ ánh sáng của Tin Mừng soi chiếu?

Tin Vào Tin Mừng

Trong một khía cạnh chân lý, Tin Mừng là chính Chúa đến mạc khải về chân lý, và “Chân lý giải thoát anh chị em” (Ga 8, 32). Do đó, nhờ tin vào Lời Chúa là Lời Chân Lý để đối chiếu đời mình để chính mình, tự và được sửa chữa trong tương quan với tha nhân.

Sửa lại những lỗi lầm.

Định kiến: Một định kiến xem một người là không bao giờ thay đổi, dù người đó đã thay đổi hôm qua khác với hôm nay. Có một nhận thức, nó làm cho không nghĩ khác hơn về một người đã ghét bỏ. Định kiến không dừng lại ở đó, khi người nuôi định kiến luôn giải thích mọi hành động của người bị thù ghét theo chiều hướng ác tâm, muốn gây hại cho kẻ thù.

Chúa Giê su trong tranh luận về Người, Chúa cũng gặp phải những người mang định kiến như vậy trong Ga 8, 13 – 59. Nhưng Chúa cũng nói với họ chỉ có ở “Chân lý mới giải thoát anh chị em” khỏi những định kiến sai lầm về con người.

Đánh giá cách đơn giản hóa.

Đánh giá người khác qua một hành vi sai trái và tóm gọn cả con người vào đó. Lối đơn giản hóa sự việc như vậy thường dẫn đến hiện tượng “hiệu ứng hào quang”. Có ấn tượng tốt thì tốt mãi, ấn tượng xấu thì xấu mãi. Trong trường hợp này, Chúa Giêsu cũng dạy các môn đệ: “Cẩn thận điều anh em nghe, anh em đong bằng đấu nào sẽ đong lại bằng đấu ấy” (Mc 4, 24). Con người không vẹn toàn nên khoan dung và Chúa dạy: “Đừng đoán xét để khỏi bị xét đoán” ( Mt 7, 1).

Đánh giá theo cảm xúc.

Trong khung cảnh đổ vỡ từ trong các gia đình hiện nay, việc đánh giá theo cảm xúc thường xảy ra dẫn đến xung đột và đôi khi đến ly dị. Cảm xúc bị bỏ rơi, bị ức chế,  thường những cảm xúc này dẫn về những quá khứ đã qua, khơi lại những tiêu cực, giải thích ngược lại những tích cực. Cái gì xưa là đẹp là tốt nay giải thích lại là xấu là giả dối…

Xử lý theo cảm xúc thường là phóng chiếu cảm xúc của mình lên người khác. Chúa Giêsu khi loan báo Người phải chịu nộp vào tay người đời, chịu chết, Chúa đã sửa dạy Phêrô: “Hỡi Satan, hãy lui ra đàng sau Thầy: con làm cho Thầy vấp phạm, vì con chẳng hiểu biết những sự thuộc về Thiên Chúa, mà chỉ hiểu biết những sự thuộc về loài người” (Mt 16, 23).

Lời Chúa mời gọi hoán cải.

Hoán cải chính mình là điều quan trọng nhất, mỗi người chịu trách nhiệm về mình, chứ không đợi người khác hoán cải rồi mình mới thay đổi. Trong đời sống thực tế, người ta thường đòi người khác thay đổi còn chính mình không thay đổi. Chúa dạy: “Lấy cái xà ra khỏi mắt anh trước đã, rồi anh sẽ thấy rõ, để lấy cái rác ra khỏi mắt người anh em.” (Mt 7, 5).

Suy nghĩ tích cực về người khác.

Nuôi dưỡng suy nghĩ tích cực sẽ dẫn đến những hành động tích cực. Chúa Giêsu luôn mời gọi sống tích cực qua nhiều lần nhiều cách: “”Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” (Mt 7, 12); “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ.” (Lc 6, 36).

Tôi lỗi bị lên án, tội nhân được xót thương, đó là cách thức của Chúa cư xử với người tội lỗi, lúc nào Chúa cũng nói: “tôi con đã được tha” (Lc 5, 20). Thế nên, việc nhìn nơi anh chị em mình trong những điều thiện hảo sẽ giúp đỡ những người anh chị em mình tốt hơn và chính mình cũng được tốt hơn.

Tin vào Tin Mừng để hoán cải là cách thức tối ưu hóa trong cách sống tương quan với tha nhân, để có thể nói: “Con yêu mến anh chị em trong Thiên Chúa” vì nơi đó con yêu mến sự tốt lành của Thiên Chúa nơi anh chị em.

Về mục lục

.

SÁM HỐI NGAY TỪ HÔM NAY

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Một ngạn ngữ La-tinh thông dụng được truyền tụng như sau: “Errare humanum est”, (lầm lỗi vốn thuộc bản tính con người). Đúng vậy, đã là người thì không ai tránh khỏi lỗi lầm.

Bởi vì ai trong chúng ta cũng thường xuyên mắc phải lỗi lầm nên việc sám hối, sửa mình là điều mỗi người phải ưu tiên thực hiện từng ngày, từng giờ trong cuộc sống.

Chính vì thế, khi bắt đầu sứ vụ rao giảng, ông Gioan Tẩy giả cất cao lời kêu gọi dân chúng: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời gần đến” (Mt 3,1-2).

Đặc biệt là qua bài Tin mừng trích đọc hôm nay, thánh sử Mác-cô viết: “Sau khi ông Gio-an bị nộp, Đức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin mừng của Thiên Chúa. Người nói: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15).

Sau này, khi Nhóm Mười hai được Chúa Giê-su sai đi thi hành sứ vụ, việc đầu tiên mà các ông quan tâm thực hiện là “kêu gọi người ta ăn năn sám hối” (Mc 6,12).

Sám hối là điều tối cần

Chiếc xe đang phóng nhanh trên đại lộ luôn có khuynh hướng đi trệch ra ngoài tuyến đường đang chạy nên có thể đưa đến tai họa thảm khốc bất cứ lúc nào; thế nên tài xế phải luôn tỉnh táo để lái xe chạy đúng làn đúng tuyến.

Tương tự như thế, có vô vàn mãnh lực dưới nhiều dạng thức khác nhau liên tục lôi kéo con người đi trệch ra ngoài vòng luân thường đạo lý, nên mỗi người phải thường xuyên phản tỉnh và quay về với nẻo chính đường ngay. Làm như thế là thực hành sám hối như lời Chúa Giê-su mời gọi.

Làn da chúng ta mỗi ngày đón nhận vô số bụi bặm trong không gian, những thứ nầy hoà quyện với mồ hôi và dưới tác động của vô vàn vi khuẩn đang sống lúc nhúc dầy đặc trên làn da (mỗi cm2 da có đến 32 triệu vi khuẩn cư ngụ!) khiến cho cơ thể hoá ra dơ bẩn, ngứa ngáy… Vì thế, việc tắm rửa hằng ngày là điều tối cần để duy trì một thân thể sạch sẽ, khỏe mạnh.

Tương tự như thế, vô vàn “bụi bặm” vô hình như kiêu căng, ích kỷ, tham lam, ganh ghét, gian dối… đang bao trùm xã hội ta đang sống và thường xuyên thấm nhập vào tâm hồn, trí não chúng ta… hòa quyện với những xu hướng xấu trong ta, có thể làm cho con người chúng ta ra hư đốn, bại hoại.

Vì thế, chúng ta cũng cần phải tắm gội tâm hồn hằng ngày.

Sám hối là tắm gội tâm hồn để tẩy sạch tâm hồn khỏi những thứ “bụi bặm” vô hình nhưng vô cùng tai hại này.

Thân xác ta cần được tắm rửa hằng ngày để khỏi bị dơ bẩn và hôi  hám.

Áo quần chúng ta vương nhiều bụi bặm và vết bẩn cũng phải được thay đổi ngay.

Ngôi nhà ta đang ở vẫn thường xuyên được quét dọn sạch sẽ tươm tất mỗi ngày…

Thế thì tại sao tâm hồn ta đang vướng nhiều lỗi lầm và thói hư tật xấu… Chúng làm cho ta trở nên khả ố trước mặt mọi người, làm cho phẩm giá bị hạ thấp, làm cho danh dự của ta bị thương tổn… thì không được quan tâm?

Bao giờ mới bắt đầu sám hối?

Dường như tất cả mọi người đều nhìn nhận rằng sám hối, sửa mình, cải thiện cuộc sống là việc cần thiết, không cần bàn cãi, nhưng dường như ai cũng chần chừ không quyết làm ngay.

Nhiều người nói: “Tất nhiên tôi sẽ sám hối, nhưng từ từ đã, vội gì, có thể là ngày mai”… và cái ngày mai đó dường như không bao giờ đến. Thế rồi người ta cứ lần lữa mãi cho đến lúc xuống mồ mà vẫn chứng nào tật ấy.

Muốn tẩy sạch tâm hồn, chúng ta chỉ có hai lựa chọn: hoặc là ngay bây giờ hay là không bao giờ. Nếu ta không bắt đầu ngay hôm nay, thì chẳng hy vọng ở ngày mai.

Vậy ta hãy noi gương dân thành Ni-ni-vê được trích đọc trong phụng vụ hôm nay, mau mắn đáp lời mời gọi sám hối từ tiên tri Giô-na.

Khi “Giô-na bắt đầu vào thành, đi một ngày đường và công bố: “Còn bốn mươi ngày nữa, Ni-ni-vê sẽ bị phá đổ.” Nghe lời ấy, dân Ni-ni-vê tin vào Thiên Chúa, họ (tức thời) ăn chay và mặc áo vải thô, từ người lớn đến trẻ nhỏ… Thiên Chúa thấy việc họ làm, thấy họ bỏ đường gian ác mà trở lại, Người hối tiếc về tai hoạ Người đã tuyên bố sẽ giáng trên họ, Người đã không giáng xuống nữa” (Giôna 3, 4-5).

Lạy Chúa Giê-su,

Xin giúp chúng con biết nhìn lại mình và thường xuyên rà soát tâm hồn để nhận ra biết bao lầm lỗi chất chứa bên trong và đang huỷ diệt tư cách, phẩm giá và danh dự của chúng con, xô đẩy linh hồn chúng con vào cõi chết.

Xin ban cho chúng con có đủ quyết tâm để tắm gội tâm hồn và có đủ nghị lực để để bắt tay vào việc sám hối ngay từ hôm nay.

Về mục lục

.

CHIÊM NGẮM CHÚA GIÊSU RAO GIẢNG TIN MỪNG

Lm. Giuse Nguyễn Văn Hữu

Tin Mừng thánh Marcô hôm nay tường thuật cho chúng ta biết về thời điểm, nơi chốn, nội dung và phương cách rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu.

  1. Thời điểm

Đức Giêsu khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng khi Gioan Tẩy Giả bị bắt giam.

Gioan Tẩy Giả là kẻ đi trước. Chúa Giêsu là người đến sau. Người trước đã bị tống giam và chặt đầu, thì người sau cũng thẳng thể khá hơn.

Quả thật, cũng như và còn hơn Gioan Tẩy Giả, Chúa Giêsu đã bị thế gian bắt bớ, đánh đòn và đóng đinh trên cây thập giá như một người tử tội.

Thế gian đã ghét bỏ các ngôn sứ và Chúa Giêsu, thì cũng sẽ ghét bỏ các Kitô hữu. Tổ tiên chúng ta đã bị người ta bách hại đạo, thì chúng ta là con cháu cũng bị bách hại đạo. Có khác chăng là mỗi thời mỗi cách bách hại đạo khác nhau. Do đó chúng ta đừng ảo tưởng mà cho rằng: thời xưa người ta bách hại tôn giáo, sát hại người Kitô hữu; thời nay người ta cho tự do tôn giáo và yêu mến người Kitô hữu!

  1. Nơi chốn

Địa danh và nơi chốn mà Chúa Giêsu khởi đầu cho sứ vụ rao giảng Tin Mừng là Galilêa.

Galilêa là vùng đất của dân ngoại, dân xôi đỗ, bị người Dothái khinh thường. Chọn Galilêa là miền đất đầu tiên để rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu đã thể hiện một công tác và ý hướng truyền giáo. Ngài tìm cách tiếp xúc với những người ngoại giáo, những người không quen với các sinh hoạt tôn giáo và nếp nghĩ của người Dothái.

  1. Nội dung

 Nội dung, sứ điệp rao giảng của Chúa Giêsu là “Thời kỳ đã mãn, Nước Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”.

Đây quả là một bài giảng, một sứ điệp vô cùng ngắn gọn, nhưng lại rất đầy đủ. Qua đó Chúa Giêsu loan báo chương trình và hành động của Thiên Chúa đã bắt đầu và cho biết Nước của Người đã hiện diện trên trần gian. Con người có thể tiếp nhận Chúa bất cứ lúc nào, khi con người biết sám hối và tin vào Tin Mừng. Nếu không sám hối thay đổi đời sống và không tin vào Tin Mừng, con người sẽ phải chết trong tội của mình.

Sám hối ăn năn là gì? Là thay đổi đời sống, từ tội lỗi khô khan đến đạo đức thánh thiện, từ nếp sống cũ sang đời sống mới. Dân thành Ninivê nhờ sám hối ăn năn, chừa bỏ tội lỗi, mà được Thiên Chúa tha thứ, không đánh phạt (x. Gn 3,1-5.10).

  1. Phương cách

Khi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu không làm việc một mình, Ngài tìm người cộng tác. Đó là các Tông đồ.

Những vị tông đồ đầu tiên được Chúa Giêsu chọn gọi, là các ông Anrê, Gioan, Giacôbê và Simon-Phêrô. Họ là những người làm nghề chài lưới, có địa vị thấp kém trong xã hội, đã ‘bị mắc vào lưới’ của Chúa Giêsu, để rồi mai ngày cùng đi ‘thả lưới bắt người’ với Chúa.

Ơn gọi là do sáng kiến của Thiên Chúa, chứ không phải của con người. Chúa muốn ai thì Ngài chọn gọi người ấy. Nếu Chúa không muốn thì chẳng ai có thể tự chiếm cho mình một sứ mạng hay chức vị nào đó trong Giáo Hội. Vì chức vị trong Giáo Hội là để phục vụ và trao ban, chứ không phải để được hưởng thụ: “Nhận nhưng không, thì hãy cho nhưng không” (x.Mt 10,8).

Nói khác đi, ơn gọi là một màu nhiệm của tình thương Thiên Chúa, chứ không phải do tài đức và công lao của con người. Chúa chọn gọi ai là tuỳ Chúa quyết định, chứ không phải con người quyết định. Có chăng phần góp của con người, đó là sự đáp trả tự do: Chúa gọi, con người xin vâng.

  1. Sống sứ điệp Tin Mừng

Chiêm ngắm Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay, ta rút ra được những hệ luận sau:

– Làm người ai cũng được sinh ra trong một thời điểm nhất định, sống trong một nơi chốn cụ thể và làm việc trong một quãng thời gian nào đó. Ai cũng có một khởi đầu và một kết thúc: ngày tháng năm sinh và ngày tháng năm mất. Vì thế, còn sống ngày nào, con người phải làm việc ngày đó.

– Người Kitô hữu, ai cũng có một nơi chốn để sinh sống và loan báo Tin Mừng, đó là gia đình, làng xã, quê hương đất nước, giáo xứ và Giáo hội. Vì thế, người Kitô hữu phải loan báo Tin Mừng cho người đang sống chung quanh mình. Cha mẹ phải loan báo Tin Mừng, dạy Đạo cho con cái. Anh chị em phải loan báo Tin Mừng cho nhau. Người Kitô hữu phải loan báo Tin Mừng cho những người ngoại đạo.

– Làm người ai cũng có một nghề nghiệp, một công việc, một sứ vụ nhất định phải chu toàn: Người lao động chân tay, kẻ lao động trí óc. Người làm bác sĩ, kẻ làm kỹ sư. Người lập gia đình sinh con cái, kẻ sống đời tu trì, tận hiến đời mình cho Thiên Chúa và phục vụ tha nhân. Mỗi ơn gọi mỗi cuộc đời. Do vậy, dù ở bậc sống nào, nghề nghiệp nào, người Kitô hữu đều phải sống và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa.

– Mọi người đều có liên đới với nhau. Không ai là một hòn đảo, không có liên hệ liên quan đến người khác. Liên đới, cộng tác với nhau là sống như ‘đầu cần đến tay chân, tay chân cần đến đầu’ (x. 1Cr 12,20-21). Con cái sống nhờ cha mẹ, cha mẹ sống vì con cái: ‘trẻ cậy cha, già cậy con’. Tẩy chay, loại trừ nhau là chết!

Nhờ tổ tiên ông bà cha mẹ, mới có ta ngày nay. Tổ tiên gầy dựng nên cơ nghiệp và trao vào tay con cháu. Con cháu phải trân trọng đón nhận, gìn giữ và làm phát triển gia tài mà tổ tiên đã để lại. Không đón nhận, không gìn giữ và làm tăng triển gia tài tổ tiên đã để lại, là vô ơn, bất nhân và bất hiếu.Vì thế, ta phải biết ơn nhau, nhìn nhau mà sống, cộng tác với nhau mà làm việc và loan báo Tin Mừng, để gìn giữ và làm tăng triển gia tài mà thế hệ trước đã chuyển trao cho chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết noi gương Chúa mà rao giảng Tin Mừng đúng thời đúng lúc, đúng nơi đúng chỗ, đúng vấn đề, đúng trọng tâm và đúng đối tượng. Xin cho con biết  nhìn nhau mà sống, cộng tác với nhau mà rao giảng Tin Mừng mở mang Nước Chúa. Amen.

Về mục lục

.

SỐNG TỰ DO ĐỂ BIẾT LẮNG NGHE MÀ SÁM HỐI

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

“Sau khi ông Gioan bị nộp, Chúa Giêsu đến miền Galilê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói: Thời kỳ đã mãn, và Triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,1-2). Đề tài sám hối mãi là đề tài không bao giờ lỗi thời, bởi cuộc đời con người là một chuỗi thăng trầm không ngơi. Hết lầm rồi lại lỗi, hết sai rồi lại phạm, từ nhỏ đến lớn, từ nhẹ đến nặng nề. Hình như không một ai ngoài mẹ Maria, có thể thoát được vòng xoáy của tội luỵ. Chính vì thế, sứ điệp sám hối ăn năn dường như rất dễ đi vào lòng người, mặc dù đã từng có nhiều người cố tình lên án Hội Thánh là làm vẩn đục bức tranh nhân gian khi đề cập đến chủ đề tội lỗi quá nhiều.

Thế nhưng hiện tình của xã hội hôm nay, qua thông tin đại chúng, người ta phải chân nhận sự hiện hữu của tội lỗi và hậu quả xấu xa, tàn ác của nó trên chính nhân loại. Chiến tranh, bạo lực, bất công…như đang nhan nhản trước mắt chúng ta. Tiếng súng vẫn nổ đó đây. Máu vẫn chảy lênh láng nơi này, nơi kia. Mạng sống trẻ thơ vô tội vẫn bị đe doạ từ trong trứng nước. Môi sinh ngày càng bị ô nhiễm và bao điều tệ hại đang đe doạ sự tồn vong của con người. Hầu hết là do tội lỗi của con người gây ra.

Hãy mau mau sám hối! Không phải là những tình cảm ân hận chóng qua. Cũng không phải là một vài nghi thức đấm ngực bên ngoài. Sám hối là đổi thay. Sám hối là quay bước trở lại. Thế nhưng để có được hành vi sám hối, thì tiên vàn cần biết lắng nghe và chân thành đón nhận sự thật trong sự khiêm nhu.

Chúa Giêsu đã từng nêu gương vua quan và dân thành Ninivê ngày xưa. Bài đọc thứ nhất trích đọc trong thánh Lễ Chúa Nhật III TN B lại đề cập đến sự kiện sám hối ăn năn của họ. Từ vua đến quan, đến thường dân đều “bỏ đường gian ác mà quay trở lại” (Gn 3,10). Đây là một cử chỉ đáng kinh ngạc khiến Chúa Giêsu đã từng gọi đó là dấu lạ (x.Lc 11,29-32). Giona đã trở nên dấu lạ cho dân thành Ninivê, vì đã to gan nói những lời chướng tai, khó nghe. Chúa Giêsu còn là một dấu lạ lớn hơn cả Giona qua các lời dạy bảo của Người “như có vẻ đi ngược với quan niệm người đương thời”. Người lại còn tố cáo tội lỗi những người danh cao, vị trọng, bằng những lời rất thẳng thừng và đanh thép. Tuy nhiên có một dấu lạ khác khiến cho Chúa Giêsu nói rằng ngày sau dân thành Ninivê sẽ đứng lên tố cáo đoàn dân Chúa lúc bấy giờ, đó là họ đã khiêm nhu chân thành lắng nghe và đón nhận sự thật qua sứ điệp của ngôn sứ Giona.

Sẽ không có sám hối nếu không biết lắng nghe trong khiêm hạ. Sự lắng nghe ở đây không chỉ bằng thính giác mà còn bằng cả mọi giác quan và chính thái độ sống của con người. Cần thú nhận rằng môi sinh con người hiện nay như bị nhiễu sóng do bởi nhiều yếu tố bên trong lẫn bên ngoài. Xã hội ngày nay với các kỷ thuật công nghệ tiên tiến, với cuộc sống “phải bon chen, giành giật”…thì mọi người đành phải tất tả chạy đua cách không biết ngơi nghỉ. Phải chạy, vì dừng lại là sẽ thua người, sẽ bị tụt hậu. Cuộc sống hối hả khiến thời gian như đang ngắn lại. Trong cái vòng xoáy của cuộc sống ấy, con người có vẻ đang bị cuốn theo một cách lệ thuộc. Hơn nữa sự lệ thuộc còn nằm ở tâm lý tiêu thụ. Đã quen hưởng dùng tiện nghi, của cải…thì dường như không thể thiếu nó. Quả thật, lâu lâu, bỗng có sự cố “cúp điện” thì người người la toáng lên. Nếu điện nước bị cắt, cúp một vài ngày thì như là sắp tận thế không chừng.

Khi đã ở trong “tình trạng dính bén, bị lệ thuộc, bị cuốn theo”, thì chúng ta thật khó mà nghe rõ ràng và chính xác các sứ điệp tâm linh. Với trình thuật kể chuyện dân Ninivê trong bài đọc thứ nhất, lời dạy của thánh Tông đồ dân ngoại qua bài đọc thứ hai cũng như thái độ của các tông đồ ngày xưa qua bài Tin Mừng, chúng ta có thể rút ra được một điều kiện cần để biết lắng nghe đó là thái độ tự do.

Tự do với chức phận của mình: Sách Giona như một chuyện dụ ngôn thật ý vị. Giả như vua quan thành Ninivê ngày xưa còn dính bén với chức phận quyền quý của mình, giả như dân thành Ninivê còn dính bén với vị thế của dân đang thống trị thì hẳn sẽ không biết lắng nghe, cho dù ngôn sứ Giona có khản cổ rao giảng, vì ngài chỉ là một dân đen của một nước đang bị đô hộ. Biết bao sứ điệp Chúa gửi đến cho chúng ta hằng ngày, thế mà chúng ta dẫu cho có tai mà vẫn chẳng biết nghe. Trong nhiều lý do thì có lý do quan trọng này, đó là chúng ta còn quá dính bén với danh vị, chức phận của mình. Các nhà hướng dẫn linh thao thường khởi đầu cuộc hướng dẫn linh thao bằng việc mời gọi những người tham dự cuộc thao luyện tâm linh rằng hãy cởi bỏ mọi quyến luyến để sẵn sàng biết lắng nghe.

Tự do với các mối tương quan trần thế, với cả hiện trạng của chúng ta và với những gì ta đang sở hữu: Thánh Tông đồ dân ngoại chỉ dạy: “Ai có vợ hãy sống như không có; ai khóc lóc, hãy làm như không khóc; ai vui mừng, như chẳng vui mừng; ai mua sắm, hãy làm như không có gì cả; kẻ hưởng dùng của cải, hãy làm như chẳng hưởng” (1Cr 7, 30-31). Các tông đồ đầu tiên đã có được sự tự do này. Chài lưới hay người thân vẫn không làm các Ngài vướng chân, bó lòng. Khi nghe lời kêu gọi của Thầy Giêsu, lập tức Simon và Anrê đã “bỏ chài lưới mà theo Người” (Mc 1,18); Giacôbê và Gioan cũng “bỏ cha mình là ông Giêbêđê ở lại trên thuyền với những người làm công, mà đi theo Người” (Mc 1,20).

Khi đã có được thái độ tự do, không còn quyến luyến các loài thụ tạo, cho dù chúng tốt đẹp, thì chúng ta sẽ có thái độ sẵn sàng biết lắng nghe sứ điệp của Chúa, đặc biệt sứ điệp mời gọi hoán cải ăn năn. Chúng ta dễ nhận ra điều này trong cuộc sống là khi sự hiểm nguy đang vây bủa, khi cái chết đang cận kề thì người ta rất dễ sám hối ăn năn. Cận kề cái chết hay đang ở trong tình cảnh hiểm nguy thì người ta mới thoáng thấy mọi sự như sắp rời khỏi tầm tay. Và một cách nào đó nó giúp ta thoát được sự quyến luyến khiến ta được tự do hơn. Được tự do thì sẽ biết lắng nghe.

Tuy nhiên điều tốt đẹp hơn cả là thái độ biết tự do ngay trong chính đời thường của mình. Kinh nghiệm cha ông ngày xưa dọn mình chết lành hằng ngày là một phương thế tuyệt diệu. Thế nhưng với các bạn trẻ và cả với những bậc trung niên thì thói quen tốt này xem ra khó tập. Thánh Phaolô tông đồ nhìn nhận: Bộ mặt thế gian này đang qua đi và sẽ qua đi (x.1Cr 7,31). Chúng đang qua đi và sẽ qua đi, sao ta lại qua dính bén và bị lệ thuộc?

Về mục lục

.

MẺ LƯỚI LỚN BẮT ĐƯỢC CÁ BỰ

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh

Nếu hiểu bài đọc 1 tiên tri Gona hôm nay (Gn 3:1-5, 10) theo nghĩa đen thì có thể nói đây là một mẻ lưới lớn bắt được rất nhiều cá bự, vì Gona đã được Thiên Chúa ủy quyền mang lời cảnh báo đến dân làng Assyria và thành công rực rỡ. Nói cách khác, những ai đã từng nghe và chứng kiến cảnh tượng này với con mắt đức tin thì phải hiểu sâu xa hơn. Điều chính yếu không phải là kích thước con cá của Thiên Chúa, cũng không phải diện tích rộng lớn của những thị trấn hay số người trở lại đường ngay nẻo chính.

Đối với những người có niềm tin thì câu chuyện của Gona có một ý nghĩa sứ điệp sâu xa hơn. Dân Ninive đã ăn năn thống hối và từ bỏ con đường tội lỗi thì Chúa bèn nghĩ laị và rút lời chúc dữ không sửa phạt dân thành nữa. Xem vậy, chẳng có ai, một nơi nào hay tình trạng nào mà không được Chúa nhìn đến thương xót và chữa lành.

Kito giáo đã coi Gona là hình ảnh tích cực của chúa Kito và sứ điệp Tin Mừng của Người. Qua chúa Kito, Thiên Chúa tiếp cận với thế giới theo một cách thức mới rõ ràng và nhất định để hoàn thành những mong đợi và hy vọng nói trong Cựu Ước.  

CHÚA GIESU ĐI VÀO THỊ TRẤN

Khi các môn đệ bỏ thuyền, bỏ lưới, bỏ nhà cửa, nghề nghiệp, bạn bè và cha mẹ để theo Chúa đón nhận Vương quốc Thiên Chúa (Mc 1:14-20), thì các ngài đã hiểu là bỏ lại cái gì và nhận được cái gì. Chúng ta mang Tin Mừng của Thiên Chúa và của đức Giesu đến các thị trấn, làng mạc, cộng đồng của chúng ta thế nào trong khi phạm vi thì quá rộng lớn lại không đồng nhất và bận rộn, ồn ào suốt ngày đêm?

Có khi nào chúng ta lại không tìm kiếm “một đường lối khác” để qua sông hay ra khơi mà lại dùng đò thuyền để đến một nơi yên tịnh ít phiền toái và đối nghịch với sứ mạng của chúng ta không? Làm sao chúng ta có thể là linh hồn, trọng tâm của thị trấn, của cộng đồng chúng ta?

Chúng ta hãy thờ lạy, chầu Mình Thánh Chúa với hết tâm hồn và lòng yêu mến. Chúng ta  hãy cầu nguyện liên lỉ. Chúng ta hãy tiếp tục ăn chay hãm mình một cách kín đáo từng ngày và suốt đời trong thinh lặng và vui vẻ. Chúng ta hãy chịu phép rửa một cách ngay thẳng và trịnh trọng. Chúng ta hãy thực hành tám mối phúc thật hàng ngày, đừng bao giờ bỏ sống Lời Chúa và chia sẻ cho tha nhân bằng lời nói và việc làm.

HÃY GIỮ VỮNG NIỀM TIN

Chắc chúng ta nghĩ rằng giảng Lời Chúa quá buồn tẻ, chẳng ai muốn nghe, và người nghe đôi khi lại cho mình là giả hình nhân đức, dở hơi! Chúa Giesu chắc đôi lúc cũng có cảm tưởng như vậy. Có ai thực sự lắng nghe Lời Chúa không? Ngày 25 tháng giêng là ngày Lễ thánh Phaolo trở lại. Ngài là tông đồ dân ngoại, chúng ta có nghĩ rằng ngài nản chí bỏ cuộc không muốn giảng Tin Mừng cho dân ngoại không?

Công Vụ Tông Đồ ghi, khi Phaolo trở lại Corinto thì nhiều người đã nghe biết và tin ông rồi tìm đến ông và xin chịu phép rửa. Một đêm trong giấc ngủ, thánh nhân đã nghe Chúa nói: “Đừng sợ, hãy cứ nói, đừng thinh lặng nữa vì Ta luôn luôn ở với ngươi, không ai có thể hãm hại ngươi được, vì trong thành này có nhiều dân ta.”(Cv 18:8-10).  

NĂM THÁNH PHAOLO

Một trong những hy vọng lớn và mục đích của Biển Đức XVI khi ngài tuyên bố Năm Thanh Phaolo và tháng 6 năm 2008 là mọi người Công Giáo nam cũng như nữ phại tự vấn mình: “Tôi có xác nhận và cương quyết rao truyền Niềm Tin Công Giáo như thánh Phaolo không?”

Niềm tin của chúng ta chỉ có thể lớn mạnh và nảy nở khi chúng ta có ý thức đầy đủ và hết lòng chia sẻ với mọi người. Chúa Kito sẽ nhìn mỗi chúng ta với ánh mắt khoan dung trìu mến mỗi khi chúng ta xét đoán đúng đồng thời Người sẽ hỏi chúng ta đã làm gì  để mời gọi mọi người gia nhập cộng đồng của chúa Giesu và Giáo Hội? Cuối cùng Chúa sẽ hỏi chúng ta: “Con có yêu Thầy không? Con đã rao truyền Tin Mừng Chúa cho ai? Con đã mang lai được bao nhiêu người đi theo con?”  

NHIỆM VỤ TỐI HẬU.

Chúa Giesu Kito đòi hỏi chúng ta cái gì ở thời đại ngày nay? Ăn năn thống hối, cải tà qui chính, bỏ đi tư tưởng về việc điều hành Nước Trời phải thế này thế nọ mà hãy tin vào giảng huấn và gương mẫu của Chúa Kito về vương quốc Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta đây đó. Nhiệm vụ tối hậu của chúng ta là rao giảng Lời Chúa.

Chớ gì Lửa Chúa Thánh Thần đổ vào lòng thánh Phaolo hun nóng tâm can chúng ta,  biến chúng ta thành những nhà truyền giáo đắc lực sáng ngời trong suốt cuộc đời chúng ta. Chớ gì Chúa Thánh Thần cũng đẩy mạnh niềm tin chúng ta để chúng ta không bao giờ bị khuất phục, nhất là những lúc chẳng có ai muốn lắng nghe chúng ta. Những lúc như vậy, Thiên Chúa sẽ nói với chúng ta: “Đừng sợ! Hãy nói lên, đừng yên lặng nữa. Ta đang ở với con, không ai có thể hãm hại con được, vì trong thành, trong cộng đồng có rất nhiều người của ta” (Cv 18:9-11).

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 3 TN_B

Lm. Inhaxiô Hồ Thông

Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay dọi chiếu ánh sáng vào lời đáp trả mau mắn không một chút trì hoãn trước tiếng gọi của Thiên Chúa.

Gn 3: 1-5, 10

Dân thành Ni-ni-vê, dù là một thành phố ngoại giáo, đã không một chút chậm trễ ăn năn sám hối khi nghe lời rao giảng của ngôn sứ Giô-na.

1Cr 7: 29-31

Thánh Phao-lô mời gọi các tín hữu Cô-rin-tô hãy sống tận mức ơn gọi làm Ki-tô hữu của mình vì chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của ơn cứu độ.

Mc 1: 14-20

Trước tiếng gọi của Đức Giê-su, các môn đệ đầu tiên đã đáp trả triệt để bằng cách từ bỏ tất cả mà đi theo Ngài.

BÀI ĐỌC I (Gn 3: 1-5, 10)

Sách Giô-na được viết theo thể loại ngụ ngôn luân lý, theo đó trí tưởng tượng trộn lẫn với óc khôi hài; nhưng bài học giáo huấn của sách mở ra những viễn cảnh phổ quát.

Ngôn sứ Giô-na không là tác giả nhưng là nhân vật chính của câu chuyện được kể trong sách. Chúng ta không biết một chút gì về tác giả. Theo lời kể trong sách, ngôn sứ Gio-na được Đức Chúa sai đi thi hành sứ vụ của mình cho dân thành Ni-ni-vê vào thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên. Tuy nhiên, thành đô này đã bị phá hủy vào năm 612 trước Công Nguyên, tức là thành đô này đã không còn nữa trước đó gần hai thế kỷ. Vì thế, bối cảnh của chuyện kể là hư cấu và nhân vật là tưởng tượng.

  1. Bài học của câu chuyện

Tuy nhiên, điều cốt yếu không phải ở nơi tính lịch sử của câu chuyện nhưng bài học mà câu chuyện muốn gởi gắm. Việc chọn thành đô này có một ý nghĩa chính xác: Ni-ni-vê là kinh đô của đế quốc Át-sua vào thời cực thịnh. Đây là thành phố thù địch không đội trời chung với dân Do thái và là biểu tượng tinh hoa của thế giới ngoại giáo.

Ấy vậy, khi vị ngôn sứ cất bước rao giảng chưa hết một phần ba thành đô, thì toàn thể dân thành đã ăn năn sám hối rồi, từ vua quan cho đến thường dân. Đây mới thật sự là một bài học nhớ đời cho dân Ít-ra-en. Khi đọc câu chuyện này, làm thế nào dân Do thái không thể nghĩ đến việc ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã công bố những lời cảnh báo ngăm đe như thế cho dân thành Giê-ru-sa-lem để kêu gọi họ ăn năn sám hối; ấy vậy triều thần và ngay cả vua đã ra lệnh đốt sách sấm ngôn của vị ngôn sứ? Vì thế, đó là lý do tại sao thành đô Giê-ru-sa-lem đã bị đánh chiếm và bị phá hủy, còn dân thành đã phải chịu cảnh lưu đày ở đất khách quê người.

Chính Đức Giê-su nêu gương sám hối của dân thành Ni-ni-vê như một bài học cho thế hệ của Ngài: “Trong cuộc phán xét, dân thành Ni-ni-vê sẽ trỗi dậy cùng với thế hệ này và sẽ kết án họ, vì xưa dân này đã sám hối khi nghe ông Giô-na rao giảng; mà đây thì còn hơn ông Giô-na nữa” (Mt 12: 41).

  1. Ơn cứu độ phổ quát

Thật ra, nhân vật chính của sách không là ngôn sứ Giô-na mà chính là Đức Chúa, Ngài không chỉ là Thiên Chúa của dân Do thái, nhưng còn là Thiên Chúa của muôn dân muôn nước nữa. Ngài quan tâm đến những tội lỗi của một dân ngoại giáo; nhưng trước khi trừng phạt dân này, Ngài sai một vị ngôn sứ đến với họ như Ngài đã từng làm đối với dân Ngài chọn. Như vậy, Đức Chúa ban khả năng cứu độ cho hết mọi người không trừ một ai. Ngài chỉ cốt cảnh báo để đánh thức lương tri và thúc dục lòng ăn năn sám hối, vì thế, tấm lòng từ bi nhân hậu của Ngài trải rộng ra với hết mọi dân nước.

BÀI ĐỌC II (1Cr 7: 28-31)

Chúng ta tiếp tục đọc thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô. Trong đoạn trích dẫn hôm nay, thánh nhân trả lời những vấn nạn mà cộng đoàn đã nêu lên cho ngài; đoạn ngài loan báo một vấn đề cốt yếu: “Tôi xin nói với anh em điều này: thời gian chẳng còn bao lâu nữa”.

  1. Lời loan báo gây sửng sốt

Thật không may, bản dịch: “thời gian chẳng còn bao lâu nữa” không thể lột tả hết tư tưởng của thánh nhân. Theo nguyên ngữ Hy lạp, lời loan báo này gợi lên một hình ảnh rất sống động: “đây là lúc thuận tiện, các buồm thuyền đã được cuốn lại” khi con thuyền sắp cập bến. Vì thế, đây là thời gian sẵn sàng vì thuyền sắp cặp bến. Từ đó, thái độ phải có đối với các tín hữu là phải hành xử như người sắp cập bến đời đời.

  1. Phần minh chứng

Tiếp đó, thánh nhân đưa ra những minh chứng được kết nối vào nhau một cách tự nhiên như một chuỗi dây xích: từ nay, những ai sống đời sống vợ chồng đừng gắn bó với những ham muốn xác thịt; những ai sống trong phiền muộn, đừng than khóc như những người không có niềm hy vọng; những ai sống trong niềm vui hãy nghĩ rằng hạnh phúc trần thế chỉ là thoáng qua; những ai có nhiều của cải đừng cho mình là chủ nhân, vân vân.

  1. Chủ đích của thánh Phao-lô

Phải chăng thánh nhân nghĩ rằng ngày Chúa quang lâm sắp đến gần rồi? Cũng có thể lắm, nhưng đó không là điều tất yếu. Thánh nhân đã khai triển chủ đề này rồi. Thật ra, trong thư thứ nhất gởi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca, dường như thánh nhân hy vọng rằng ngày Chúa quang lâm sẽ xảy đến vào thời thế hệ của ngài: “Dựa vào lời của Chúa, chúng tôi nói với anh em điều này, là chúng ta, những người đang sống, những người còn lại vào ngày Chúa quang lâm, chúng ta sẽ chẳng đi trước những người đã an giấc ngàn thu đâu” (1Tx 4: 15). Nhưng trong thư gởi tín hữu Rô-ma, thánh nhân nghĩ rằng ngày Chúa quang lâm sẽ đến khi nào toàn thể dân Ít-ra-en ăn năn sám hối (Rm 11: 25-26). Chúng ta có thể nói rằng đối với thánh nhân, cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Ki-tô đã làm tăng tốc Lịch Sử Cứu Độ. Chúng ta đã bước vào kỷ nguyên cứu độ, nghĩa là sống trong thời kỳ viên mãn. Như vậy, cách ăn nếp ở của những người Ki-tô hữu phải khác với dân ngoại. Chúng ta không được sống nước đôi, bắt cá hai tay, vì chúng ta biết rằng thế giới này đang qua đi.

TIN MỪNG (Mc 1: 14-20)

Khi nghe tin Gioan Tẩy bị bắt, Đức Giê-su nghĩ rằng phải cẩn trọng hơn; vì thế, Ngài rời bỏ miền Giu-đê mà trở về miền Ga-li-lê. Giờ Ngài chưa đến để đón nhận một số phận như thế. Ấy vậy, tiểu vương Hê-rô-đê An-ti-pa, người đã ra lệnh bắt giam Gioan Tẩy Giả, hiện đang cai trị xứ Ga-li-lê. Vì thế, xem ra hợp lý hơn, Đức Giê-su đã muốn lánh xa Giê-ru-sa-lem là trung tâm quyền lực Do thái giáo. Quả thật, Tin Mừng Gioan viết: “Nhóm Pha-ri-sêu nghe tin Đức Giê-su thâu nạp nhiều môn đệ hơn ông Gioan… Biết thế, Đức Giê-su bỏ miền Giu-đê mà trở lại miền Ga-li-lê” (Ga 4: 1-3).

  1. Lời rao giảng đầu tiên của Đức Giê-su(1: 14-15)

Vào thời đó, miền Ga-li-lê được xem là “ngã tư quốc tế”, vì các đoàn quân ngoại quốc và các thương nhân đều phải qua lại miền này. Ngoài ra, miền này từ lâu được mệnh danh là “miền đất của dân ngoại” (Is 8: 28) vì ở đây dân Do thái không chỉ sống chung với dân ngoại nhưng còn là nơi giao tiếp với muôn dân. Vì thế, khi định vị sứ vụ đầu tiên của Đức Giê-su ở miền Ga-li-lê, thánh Mác-cô muốn nhấn nhấn mạnh rằng sấm ngôn về ơn cứu độ phổ quát của ngôn sứ I-sai-a đã được ứng nghiệm nơi sứ điệp đầu tiên của Đức Giê-su: “Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” (Is 9: 1).

Tiếng nói của vị Tiền Hô không còn vang lên nữa. Sứ mạng dọn đường cho Tin Mừng đã đến hồi kết thúc. Từ đây, chính Đấng hiện thân Tin Mừng xuất đầu lộ diện. Chúng ta ghi nhận rằng Đức Giê-su bắt đầu sự vụ của mình ở Ga-li-lê với lời công bố tương tự như lời công bố của Gioan Tẩy Giả. Tuy nhiên, có một điểm khác biệt cốt yếu, sứ điệp của Đức Giê-su không nhằm chuẩn bị cho tương lai, nhưng nhấn mạnh thời hiện tại: “Thời kỳ đã mãn”.

  1. Thâu nạp các môn đệ đầu tiên(1: 16-20)

Câu chuyện về ơn gọi của các môn đệ đầu tiên được Tin Mừng Mác-cô tường thuật rất ngắn gọn nhưng gợi nhiều ý tứ. Hai anh em ông Si-mon và An-rê “đang quăng lưới bắt cá”. Trước lời mời gọi của Đức Giê-su: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá”, cả hai bỏ lại những ngư cụ và lợi tức nghề nghiệp của mình mà đi theo Ngài. Đối với Gia-cô-bê và Gioan, đoạn tuyệt còn dứt khoát hơn, họ không chỉ bỏ lại nghề nghiệp của mình mà còn cả người cha già mà họ có bổn phận phải phụng dưỡng nữa.

Qua Tin Mừng Gioan, chúng ta biết rằng cuộc gặp gỡ này chắc chắn không là cuộc gặp gỡ đầu tiên. Trước đó không bao lâu, ở miền Giu-đê, họ đã có một cuộc hội ngộ nhớ đời với Đức Giê-su rồi (Ga 1: 35-42). Thánh Lu-ca đặt việc Đức Giê-su thâu nạp các môn đệ đầu tiên tiếp liền ngay sau mẽ cá diệu kỳ; trong khi thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu nhấn mạnh tính bất ngờ và không chút trì hoãn về hành động dấn thân của họ, như vậy, cả hai thánh ký đều nêu bật lời đáp trả dứt khoát của họ không phải trước một nhà phép thuật thần thông nhưng trước một bậc tôn sư khôn sánh có sức hấp dẫn không thể nào cưỡng kháng được.

  1. Tận hiến

Câu chuyện về ơn gọi của bốn ngư phủ miền Ga-li-lê đã trở nên một mẫu thức. Đức Giê-su lên tiếng gọi: Thiên Chúa luôn luôn đi bước trước. Lời mời gọi của Ngài được họ đáp trả một cách tích cực, không một chút đắn đo tính toán hơn thiệt: từ bỏ nghề nghiệp, lợi tức và gia đình.

Hoạt cảnh những người con của ông Dê-bê-đê từ giã gia đình trái ngược với những hoạt cảnh khác bày tỏ tấm lòng nhân hậu của Đức Giê-su khi Ngài trao lại bé gái cho cha mẹ của em (Mc 4: 29), khi Ngài trao lại cậu con trai duy nhất cho bà mẹ góa của cậu (Lc 7: 15), và khi Ngài trao lại anh La-da-rô cho hai người chị của anh (Ga 11: 32-44). Vì thế, đối với những ai mà Ngài muốn liên kết vào sứ mạng của Ngài một cách tròn đầy tận mức, Đức Giê-su đòi hỏi một tinh thần siêu thoát triệt để: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy” (Mt 10: 37).

Khi nghe đọc bản văn Tin Mừng này, các cộng đoàn Ki-tô giáo tiên khởi biết rất rõ rằng việc dấn thân từ bỏ này đã dẫn những môn đệ đầu tiên này đến mức độ nào: thánh Gia-cô-bê, vị Tông Đồ đầu tiên đã được phúc tử đạo vào năm 44, vì thế, vị Tông Đồ này chắc chắn đã qua đời rồi vào lúc thánh Mác-cô ghi những dòng chữ này. Còn thánh Phê-rô, chắc chắn đã nhiều lần kể cho cộng tác viên của mình là thánh Mác-cô câu chuyện ơn gọi trên bờ hồ Ti-bê-ri-át này, cũng đã làm chứng cho Đức Giê-su bằng mạng sống của mình ở Rô-ma, có lẽ vào năm 64.

Về mục lục

.

THEO TIẾNG CHÚA KÊU GỌI

Lm. Giuse Đinh Lập Liễm

A. DẪN NHẬP.

Tuần trước chúng ta đã đề cập đến ơn gọi của mọi người: Chúa muốn con người hợp tác với Chúa trong việc ban phát ơn cứu độ vì Chúa không muốn làm việc một mình. Tuần này chúng ta suy niệm việc Đức Giêsu khởi sự rao giảng Tin mừng cùng với lời kêu gọi “Hãy sám hối và tin vào Tin mừng” để được vào Nước Trời và được hưởng ơn cứu độ Chúa thương ban.

Để thực hiện chương trình này, Chúa đã chọn một số người cộng tác với Ngài trong việc rao giảng này, trước hết Chúa đã gọi 4 ngư phủ đầu tiên làm tông đồ là Anrê và Phêrô, Giacôbê và Gioan. Trông thấy các ông đang đánh cá, Chúa chỉ gọi các ông rất vắn tắt:”Hãy theo Ta”,  thế mà các ông đã dứt khoát từ bỏ mọi sự mà đi theo Chúa.

Thái độ từ bỏ dứt khoát của 4 Tông đồ là mẫu gương đẹp cho mọi Kitô hữu. Trong cuộc sống hằng ngày Chúa vẫn kêu gọi chúng ta theo Chúa, Chúa vẫn khích lệ chúng ta cố gắng sống xứng đáng một Kitô hữu chính danh. Muốn đáp lại lời mời gọi của Chúa, chúng ta cần phải nỗ lực làm việc, chịu đựng vất vả hy sinh, đôi khi phải hy sinh cả tính mạng để tỏ lòng trung thành với Chúa và xứng đáng là tông đồ của Ngài.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.

Bài đọc 1Gn 3:1-5.10.

Giona là một trong số 12 tiên tri nhỏ của người Do thái, nên sách Giona cũng chỉ là một tác phẩm nhỏ. Sách này được viết ra để loan báo tính cách phổ quát của Tin mừng, nghĩa là Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người, muốn cho mọi người được ơn cứu độ, không phân biệt chủng tộc, mầu da hay một nền văn hoá nào.

Thiên Chúa sai tiên tri Giona đến thành Ninivê rộng lớn để công bố lời Thiên Chúa phán quyết hủy diệt những kẻ ngoại đạo, theo những tư tưởng ông nhận được tại Israel. Ông ngại ngùng và cố tình đi hướng khác, nhưng Chúa cho tầu chở Giona bị bão, thủy thủ quăng ông xuống biển. Một con cá nuốt ông vào bụng rồi nhả ông trên bờ biển Ninivê. Cuối cùng Giona chỉ còn đành theo lệnh Chúa vào thành rao giảng. Kết quả là thành Ninivê đã hoán cải ngay sau lần giảng đầu tiên của Giona. Dân thành Ninivê đã được ơn tha thứ.

Bài đọc 21Cr 7:29-31.

Thánh Phaolô nhắc nhở các tín hữu  Côrintô về giá trị của thực tại trần gian. Tất cả chỉ mỏng manh không có gì là tuyệt đối vững bền, cho nên đừng dính bám vào của cải trần gian. Chỉ có Chúa là Đấng tuyệt đối và là cùng đích và duy nhất của cuộc sống, còn tất cả chỉ là tương đối và chóng qua.

Vì thế, thánh Phaolô đưa ra một lời kêu gọi có vẻ nghịch lý nhưng thực sự đó là chân lý:”Ai có vợ hãy ăn ở như không có, ai than khóc hãy ăn ở như không than khóc, kẻ hân hoan hãy ăn ở như không hân hoan, người mua sắm hãy ăn ở như không có gì”. Chỉ những ai ý thức được chân lý này mới có thể từ bỏ tất cả để theo đuổi mục đích tối hậu là chiếm hữu được Thiên Chúa.

Bài Tin  mừngMc 1:14-20.

Bài Tin Mừng hôm nay có thể được chia thành 2 phần:

  • Phần một: Sau khi Gioan bị bỏ tù, Đức Giêsu khởi sự sứ vụ rao giảng Tin mừng ở Galilêa, một vùng đất có đa số là dân ngoại. Nội dung việc rao giảng của Ngài là:”Thời giờ đã mãn và Nước Thiên Chúa đã đến gần. Hãy sám hối và tin vào Tin mừng”.
  • Phần hai: Để loan báo Nước Thiên Chúa, Đức Giêsu gọi 4 môn đệ đầu tiên mà 3 trong 4 ông đã có dịp gặp Ngài trước kia ở Giuđêa do ông Gioan Tẩy giả giới thiệu là Anrê và Phêrô, Giacôbê và Gioan. Ngài mời gọi các ông rời bỏ tất cả, từ bỏ cả địa vị xã hội và gia đình của họ để trở nên Tông đồ.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.

Thiên Chúa vẫn mời gọi con người

Bài Tin mừng hôm nay nói về những việc xẩy ra sau khi Đức Giêsu khởi sự rao giảng.  Chúng ta nhận ra hai ý tưởng chính:

  • Tóm tắt việc Chúa rao giảng: giới thiệu Nước Thiên Chúa và điều kiện để được vào Nước Thiên Chúa: sám hối và tin vào Tin Mừng.
  • Đức Giêsu chọn 4 Tông đồ  đầu tiên đang khi các ông thả lưới dưới biển.

I. ĐỨC GIÊSU ĐI RAO GIẢNG TIN MỪNG.

1. Đề tài rao giảng.

Sau khi đã ăn chay cầu nguyện 40 đêm ngày trong hoang địa, Đức Giêsu bỏ xứ Giuđêa vì ở đây không thuận tiện cho việc rao giảng, nhất là sau khi Gioan bị bắt. Chúa trở về Galilêa để rao giảng Tin mừng vì ở đây dân chúng dễ chấp nhận lời Chúa hơn ; đàng khác Hêrôđê cũng ít biết đến Ngài nên không có gì đáng ngại.

Nội dung việc rao giảng của Đức Giêsu là:”Thời giờ đã mãn và Nước Thiên Chúa đã gần đến. Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”.  Đức Giêsu loan báo cho họ biết thời giờ Thiên Chúa dự liệu đời đời để Nước Người trị đến thì nay đã đến. Thời giờ mong chờ Đấng Cứu thế đã hết, vì Đấng Cứu thế đã đến rồi. Chúa dạy họ hãy dọn lòng để thực hiện những điều kiện để được vào Nước đó.

Đây là hai điều kiện để được vào Nước đó:

a) Hãy sám hối.

Sám hối là một thái độ cởi bỏ những chướng ngại là tội lỗi, để sẵn sàng đón nhận những chân lý phải tin.

Sám hối là ăn năn thống hối về các lỗi lầm của mình. Theo nguyên ngữ, Metanoia có nghĩa là trở về, có ám chỉ một thái độ từ bỏ tâm trạng cũ, một não trạng xưa.  Việc sám hối đây không phải chỉ bỏ một số tội lỗi, hay lo buồn về một hành vi quá khứ đáng tiếc, nhưng là quay trở về hoàn toàn. Từ quay trở về căn bản là trở về với Thiên Chúa, con người sẽ trở về với chính mình. Với thái độ quay trở về, thay đổi nào trạng cũ xưa, con người mới đáng đón nhận Tin Mừng từ Thiên Chúa ban cho.

Đức Giêsu bắt đầu sứ vụ bằng lời kêu gọi “Hãy sám hối”. Lời này được gửi đến ai ? Dĩ nhiên là gửi đến những người tội lỗi trước tiên, nhưng cũng gửi đến tất cả mọi người nữa, kể cả những người tốt lành.  Việc sám hối đối với những người tội lỗi thì dễ hiểu, còn đối với người tốt lành thì khó hiểu, bởi vì họ không thấy có gì phải sám hối.  Họ thấy lỗi của người khác rõ ràng, còn đối với họ thì rất mù mờ, họ có thể lên án người khác mà lại quên chính bản thân mình. Đúng như người ta nói:Bàng quan giả tỉnh, đương cục giả mê”: việc người thì sáng, việc mình thì quáng.

Truyện:  Việc mình thì quáng

Thi sĩ La Fontaine, một nhà thơ ngụ ngôn của Pháp, có kể chuyện như sau: Một hôm, chúa tể sơn lâm triệu tập cả triều thần nhà thú lại và phán bảo:

Hiện nay tất cả chúng ta đều bị bệnh dịch hoành hành. Theo trẫm xét thấy thì hẳn có người đã phạm tội xúc phạm đến Thượng Đế. Bởi vậy, theo ý trẫm  thì tất cả mọi người đều phải thú tội. Ai có tội nặng hơn cả thì phải làm con vật hy sinh đền tội. Có như vậy, mới mong Thượng Đế nguôi cơn giận, tha phạt cho toàn dân. Thế là mọi người đều lần lượt thú nhận tội lỗi.

Trước hết sư tử thú nhận hay ăn cừu, ăn nai, đôi khi ăn cả thịt người. Sau sư tử, các con thú khác cũng ra trước mặt mọi người thú tội một cách công khai. Cuối cùng, một chú lừa hiền lành, khờ khạo, than rằng mình cũng có ăn một ít cỏ mà không xin phép chủ ruộng. Thế là cả hội đồng đứng lên la hét buộc tội chú lừa, cho chú lừa là kẻ phạm tội nặng nhất, là nguyên nhân của tai họa.

Lắm khi chúng ta cũng có thái độ của thú đối với người đồng loại của chúng ta. Tội ác đè nặng con nguời của chúng ta, chúng ta không thấy được. Nhưng một lỗi lầm nhỏ bé của người bên cạnh đã khiến chúng ta phẫn uất và lên án gắt gao.

Sám hối là nhận diện con người của chúng ta, và khi cảm nhận được lòng tha thứ của Chúa, chúng ta hãy sẵn sàng tha thứ cho những người chung quanh. (Cử hành phụng vụ Chúa nhật, năm B, tr 117)

Con người sám hối trước hết phải thấy không hài lòng với chính mình và kế đó phải mong muốn cho mình được tốt hơn. Phải ý thức có một cái gì đó sai lạc hoặc ít ra là còn thiếu. Cảm nghiệm sám hối bắt đầu với sự nhận biết rằng mình chưa phải là con người hoàn thiện, mình chưa phải là điều mình phải là.

Sám hối cũng cần có một sự can đảm: can đảm nhận ra thực trạng của mình, can đảm phá bỏ con đường cũ để theo con đường mới, phải giết con người cũ để mặc lấy con người mới. Sự can đảm này rất cần thiết, bởi vì con người thường thích đi trên những đường xưa lối cũ, con người thường đã lún sâu trong những thói quen đã ăn sâu, cho nên thay đổi là rất khó.

Sám hối còn đòi con người biết hạ mình khiêm nhường nhận lỗi lầm của mình, không đổ lỗi cho người khác, con người biết cam đảm nói lên: lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng. Khiêm nhường hạ mình xuống là một điều kiện để được Chúa ban ơn tha thứ.

Truyện:  Ma qủi và sám hối.

Một hôm Satan kêu trách Chúa rằng: – Chúa thật là bất công ! Cụ thể là có rất nhiều kẻ phạm đủ thứ tội ác, thế mà Ngài vẫn hay tha tội cho chúng. Có nhiều kẻ sa đi ngã lại nhiều lần cùng một thứ tội, mà khi chúng ăn năn sám hối thì Ngài vẫn tha thứ cho chúng. Còn tôi, tôi chỉ phạm tội không vâng lời Ngài duy chỉ một lần, thế mà Ngài kết án phạt tôi phải hoả ngục đời đời, và không bao giờ tha thứ cho tôi       Bấy giờ Thiên Chúa ôn tồn  nói với tên qủi kia rằng: – Sở dĩ Ta tha tội cho con cái loài người tội lỗi vì chúng khiêm tốn nhận mình là kẻ có tội, và hồi tâm sám hối, quyết tâm canh tân đời sống. Còn ngươi, từ ngày ngươi phạm tội kiêu ngạo bất tuân lời Ta và bị phạt trong hoả ngục đến nay, đã có bao giờ ngươi khiêm nhường nhận lỗi và hồi tâm sám hối để xin Ta tha thứ cho ngươi hay chưa ?

b) Hãy tin vào Tin Mừng.

Phải thi hành hai điều kiện thì mới được vào Nước Trời: Sám hối và tin vào Tin Mừng.  Nhưng Tin Mừng nào ?

Ở đây Marcô dùng một từ ngữ chuyên môn. Thoạt đầu chữ “Tin Mừng” gợi lên những buổi trọng đại trong đời sống xã hội. Sứ giả của nhà vua được sai đi thông cáo cho toàn dân thiên hạ biết những sự vui mừng có liên hệ mật thiết đến hạnh phúc của họ. Nào là việc mới có một hoàng đế lên ngôi, ngài vừa có một thái tử, ngài lập đông cung thái tử lên chức kế vị ngai vàng, chẳng hạn…  Đó là những Tin mừng vì mật thiết liên hệ đến đời sống ấm no của chư dân. Nhưng phần lớn, đó chỉ là những tin mừng chủ quan và hạn chế.

Tin Mừng đích thực cho mọi thời và mọi nơi đúng như lời các thiên sứ đã loan báo cho mục đồng là Chúa Cứu thế đã giáng sinh. Thành ra khi sách Tân ước dùng chữ Tin Mừng và giục chúng ta tin vào Tin Mừng, thì chúng ta phải hiểu  đây chính là sứ điệp cứu độ: Thiên Chúa đã thi hành kế hoạch cứu thế của Ngài khi sai Con của Ngài đến chịu chết và sống lại cho loài người chúng ta. Đó là Tin Mừng của Thiên Chúa công bố trong thời đại cuối cùng. Và nội dung Tin Mừng ấy toàn nói về Đức Giêsu Kitô ; và cũng là chính Đức Giêsu Kitô. Rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa là công bố kế hoạch cứu thế của Ngài trong Đức Giêsu Kitô, là công bố đời sống và sự nghiệp của Đức Giêsu Kitô, là công bố chính Đức Giêsu Kitô. Nên  Tin Mừng và Đức Giêsu Kitô cũng là một.

Vậy, đã có Đức Giêsu Kitô là sứ giả đặc biệt của Thiên Chúa để rao giảng Tin Mừng ; Ngài đã đến đất Galilêa dân ngoại để làm chứng Tin Mừng phải được mang đến cho các dân tộc. Hơn nữa Người đã rao giảng Tin Mừng khi thực hiện việc chịu chết và sống lại để cứu thế ; thì không những từ nay người ta phải hối cải và tin vào Tin Mừng, và hơn nữa phải có nhiều người đi rao giảng Tin mừng ấy. (GM Nguyễn sơn Lâm, Lời Chúa các Chúa nhật năm B, tr 244-245)

II.  ĐỨC GIÊSU CHỌN 4 TÔNG ĐỒ ĐẦU TIÊN.

Đức Giêsu bắt đầu chức vụ công khai bằng rao giảng Tin Mừng về Nước Thiên Chúa.  Tin Mừng này rõ ràng ngày càng liên hệ đến bản thân và chức vụ của Ngài. Thời gian tại thế ngắn ngủi mà ý định mà mọi người  khắp thế giới phải được nghe Tin Mừng cứu độ. Vậy việc  gọi  và chọn môn đệ để huấn luyện và sai đi là cần thiết.

Chúa gọi 4 môn đệ đầu tiên vào thời gian trước ngày rao giảng và làm phép lạ tại Capharnaum. Các ông này là những người bình thường chuyên nghề đánh cá, tính tình thì mộc mạc dễ thương, không có cao vọng gì.

  1. Chúa gọi Phêrô và Anrê.

Từ Giuđêa trở về, các ông lại tiếp tục công việc thường nhật của các ông là đánh cá. Chính trong lúc đang hành nghề mà Chúa đã kêu gọi các ông. Các ông sinh sống bằng nghề đánh cá ở Biển hồ. Biển này dài 21 cây số và rộng 12 cây số, mang nhiều tên khác nhau: Biển hồ, hồ Gênêsareth hoặc biển hồ Tiberiade. Gọi là Tiberiade vì vua Antipas muốn lấy lòng vua Tibère nên khi xây một thành phố ở Biển hồ đã lấy tên Tibère mà đặt.  Tại đây, khi nghe tiếng Chúa gọi, các ông đã bỏ tất cả mà đi theo Chúa.

  1. Chúa gọi Giacôbê và Gioan.

Hai ông này là anh em con ông Giêbêđê và bà Salomê, làm nghề chài lưới và thường hợp tác với Simon và Anrê (Lc 15,10) và sống không cách xa nhau. Sau khi Chúa gọi, hai ông cũng mau mắn bỏ mọi sự mà theo Chúa.

  1. Cách thức Chúa gọi.

Chúa gọi các ông một cách gọn gàng và đơn sơ:”Hãy theo Ta”. Vừa nghe, chúng ta thấy 4 ông này tưởng chừng bị thôi miên, vừa nghe một tiếng nói đã đứng lên theo ngay, không suy nghĩ, không tính toán.

Thật ra, bốn ông này không xa lạ gì với Chúa Giêsu. Ít ra, hai người đã biết Chúa Giêsu lúc ông Gioan Tẩy giả giới thiệu cho Anrê và Gioan khi Chúa Giêsu đi ngang qua “Đây là Con chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian”. Hai ông nghe xong liền đi theo Chúa Giêsu, đàm đạo với Ngài từ 4 giờ chiều tới tối. Sau đó, ông Anrê lại giới thiệu Simon cho Chúa Giêsu và Chúa đã nói với Simon:”Ngươi sẽ được gọi là Kê-pha” nghĩa là đá.

Ta có cảm giác như Đức Giêsu có cái nhìn hết sức lôi cuốn. Ngài không nói:”Ta có một hệ thống thần học muốn đầu tư vào các ngươi, Ta có một số triết thuyết muốn các ngươi suy nghĩ , Ta muốn được thảo luận với các ngươi”. Nhưng Ngài chỉ phán:”Hãy theo Ta”. Tất cả đều bắt đầu bằng một xúc động từ thâm tâm, làm  nảy sinh lòng trung thành không gì lay chuyển nổi.

Nói thế không có nghĩa là một khi đã theo Chúa Giêsu chẳng có ai suy nghĩ gì cả, nhưng phần đông chúng ta, theo Chúa Cứu thế như là “phải lòng”, là bắt đầu yêu vậy.  Nói theo số đông, sở dĩ chúng ta theo Chúa Giêsu chẳng phải do điều Ngài đã phán, nhưng do tất cả những gì vốn tự có nơi Ngài.

Truyện:  Montalembert và cô con gái.

Văn hào Montalembert có một cô con gái dâng mình làm nữ tu. Ông viết:”Người tình ấy là ai, chết treo trên cây thập giá mà có thể lôi kéo như vậy ? Người tình ấy là ai mà có một sức hấp dẫn không cưỡng lại được, như một con chim mồi sà xuống và cuốn đi ? Phải chăng đó là một người ? Không. Đó là Thiên Chúa. Đó là bí ẩn, đó là chìa khóa đưa vào cõi thâm sâu. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể thành công và đòi hỏi một cuộc hy sinh như thế”.

Ngài không gọi để họ gặp mọi sự dễ dãi, thoải mái, Ngài gọi họ để phục vụ. Ngài gọi họ vào một nhiệm vụ mà họ phải dành cả đời sống, phải hăng say gấp rút để cuối cùng, phải chết cho Ngài và cho đồng loại. Ngài gọi họ vào một nhiệm vụ mà chẳng những họ không được gì cho riêng mình, nhưng còn phải hiến dâng tất cả cho Ngài và cho tha nhân.

  1. Thái độ của các ông.

Khi Đức Giêsu kêu gọi các ông theo Ngài, các ông đã có thái độ nào ? Ta hãy nghe thánh Marcô kể lại:”Hai ông bỏ cha là Giêbêđê ở lại trên thuyền cùng với các người làm và đi theo Ngài”. Tác giả hình như muốn cho chúng ta thấy hai ông đã phải hy sinh lớn lao: hai ông không những bỏ chài lưới, nhưng bỏ cả cha già tức là bỏ cả gia đình để theo Chúa. Chúa đã lôi cuốn được người ta  bỏ mọi sự mà theo Ngài. Mà Chúa cũng muốn cho người ta thấy rằng muốn theo Chúa thì phải bằng lòng bỏ tất cả.

Thực vậy, các tông đồ đầu tiên thoát ly mọi sự trước kia đã ràng buộc các ông là để gắn bó với Chúa Giêsu. Các ông đi theo Ngài một cách tin tưởng mà không hỏi xem Ngài sẽ dẫn các ông đi đến đâu và tương lai sẽ ra sao. Các ông đi theo Ngài để chia sẻ vui sướng, nhưng đồng thời cũng đồng lao cộng khổ với Ngài.  Các ông đi theo Ngài để lãnh nhận lời giáo huấn, lấy đó là mẫu mực cho đời sống mình trước hết, để rồi sau đó tuyên xưng giáo thuyết của Ngài và truyền bá giáo thuyết đó cho mọi người.

Truyện:  Ai yêu tổ quốc hãy theo ta.

Trận chiến giữa Pháp và hai nước liên kết Ý và Áo đầu năm 1796, kết liễu ngày 17.11.1796 như sau:

Đại tướng Bonaparte đưa quân đến một địa điểm, có cái cầu bắc qua trận tuyến địch. Trong lúc trận thế đang nguy, Đại tướng Bonaparte hô tiến qua cầu. Không một ai qua ! Đại tướng xuống ngựa, giựt lá cờ quân đoàn chân bước qua cầu, miệng hô:”Ai yêu tổ quốc thì theo ta”.  Ngó lại, trên cầu chỉ có một mình mà lá cờ đã rách nhiều mảnh vì đạn của quân địch. Khi ấy có cậu bé mới 13 tuổi đánh trống thúc quân. Hai tay đập mạnh vào trống chân bước qua cầu theo Đại tướng. Quân sĩ tràn theo qua cầu, Đại tướng Bonaparte toàn thắng và cũng chấm dứt cuộc chiến tranh ấy. Tám năm sau, Bonaparte là hoàng đế Napoléon trở lại chỗ cũ, có nghi lễ đón tiếp rất linh đình. Hoàng đế Napoléon muốn bắt tay cậu bé Vidal đã 21 tuổi hiện trong quân đoàn đó.

Hỏi đến Vidal thì cậu đã đi nghỉ phép để đưa đám tang mẹ. Hoàng đế Napoléon bãi bỏ tất cả lễ nghi quân cách, đi thẳng đến làng Vidal, theo sau đám tang đến huyệt, đọc bài điếu văn. Rồi đi bộ với Vidal trở về. Vidal từ chối và mời Hoàng đế lên xe. Hoàng đế Napoléon đáp:”Tám năm trước con đã liều chết theo ta trên con đường chết, nay trên đường đau khổ con cho ta theo con cho có bạn” (Mục sư  Lê văn Thái,  Những tia sáng tập 2, tr 5).

Bài Tin Mừng hôm nay chỉ cho ta cách thức mở ngỏ lòng ra để Chúa Giêsu bước vào ; đồng thời cũng cho chúng ta thấy rõ cái giá chúng ta phải trả nếu chúng ta muốn làm được điều này: chúng ta phải thực  hành những gì các Tông đồ đã làm, chúng ta phải sẵn lòng chấp nhận cái giá các ngài đã phải trả, chúng ta phải sẵn lòng thiêu hủy mọi chiếc cầu phía sau chúng ta để bước theo Chúa Giêsu bất cứ nơi nào Ngài muốn dẫn đi.

Nếu chúng ta quyết định làm điều các Tông đồ đã làm, nếu chúng ta quyết định liều bỏ mọi sự vì Chúa Giêsu thì Ngài cũng sẽ làm cho chúng ta  những gì Ngài đã làm cho các vị ấy. Ngài sẽ biến chúng ta nên những thành viên chia sẻ công việc của Ngài, và ban cho đời sống chúng ta một ý nghĩa mới vượt quá mọi niềm ước mơ vĩ đại nhất của chúng ta.

Về mục lục

.

NGƯỜI TÔI YÊU

Lm. Jos. DĐH.

Trong tình yêu đôi lứa, người xưa có tham gia một ý kiến: lấy chồng trà rượu là tiên, lấy chồng cờ bạc là duyên nợ nần. Để giáo dục con, các đấng bậc rất tâm đắc khi nói: cơm cha áo mẹ chữ thầy, gắng công mà học có ngày thành danh. Để nghe, hiểu, biết, cha mẹ thầy cô yêu thương mình, tất cả con cháu, những người học trò luôn cần đến thời gian, hầu đủ thấm nhuần, đủ tin, như thế nào là thương cho roi cho vọt. Cuộc sống thực tế là một chuỗi dài những bài học phong phú, người trẻ cho rằng để gặp người bạn biết lắng nghe, cảm thông nhau đã là khó, để có hôn nhân gia đình sung sướng như tiên, tìm nơi đâu ? Người tốt, bạn tốt, gia đình hạnh phúc, thiết tưởng đang ở xung quanh chúng ta, tuy phải theo một quy luật, bậc cha mẹ cần được đầu tư, người tốt, bạn tốt, cần được sinh trưởng từ bầu khí yêu thương.

Người tôi quý mến, người tôi yêu thương, tâm tình đó, chẳng ai đóng khung trong phạm vi gia đình. Sinh ra và lớn lên, kinh nghiệm đã cho chúng ta phát hiện ra một điểm chung, đó là ai cũng khao khát được yêu thương, chia sẻ, được hưởng nếm hạnh phúc. Thực ra cũng nên hiểu, muốn gặt may mắn, ắt phải gieo duyên lành, dù đó là cha mẹ, là anh chị em đã gieo trồng cho ta gặt hái. Đức Giêsu đến trần gian, đối tượng yêu thương và cứu độ là tất cả mọi người, không phân biệt giầu nghèo, công chính hay tội lỗi. Khởi đầu công cuộc rao giảng nước trời, Đức Giêsu kêu gọi: “anh em hãy sám hối và tin vào phúc âm”. Ngài không gọi chúng ta là tôi tớ, mà gọi bằng danh xưng rất thân thiện “anh chị em”, vì yêu thương Ngài rộng mở cơ hội cho từng người: “thời giờ đã mãn, và nước Thiên Chúa đã gần đến”.

Những “ngư phủ” trước khi được gọi là học trò của Đức Giêsu, tưởng các ông chỉ yêu công việc chài lưới, yêu gia đình, yêu truyền thống đánh bắt cá. Nhưng không, khi cơ hội mắt được thấy tai được nghe: “hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người”. Lập tức các ông đã chứng minh, chia sẻ: “người tôi yêu”, chính là Vị Thầy đang gọi, và đang huấn luyện đào tạo chúng tôi trở nên người biết sống yêu thương. Người xưa truyền kinh nghiệm cho con cháu: khi yêu đừng hỏi tại sao, khi yêu củ ấu cũng tròn, khi yêu tam tứ núi cũng trèo. Đồng ý rằng, hoàn cảnh sống và điều kiện theo Thầy Giêsu không có chung một “mẫu số”, nhưng dù thông thái uyên bác, hoặc mộc mạc đơn giản không bằng cấp, tất cả đều là đối tượng của tình yêu Giêsu.

Người tôi yêu nơi bậc làm cha mẹ, nơi các vị làm thầy, chính là con cháu, là số học trò, dù: con khôn cũng là con mẹ, con dại cũng là con cha, dù: một chữ cũng là thầy, một ngày cũng nên nghĩa. Người tôi yêu nơi các anh chài lưới, đâu phải chỉ là gia đình, nghề nghiệp đánh bắt cá, không phải dừng lại ở bên Thầy Giêsu, các ngư phủ ấy đã được biến đổi để mở rộng yêu thương đến khắp các làng mạc, thành thị. Người tôi yêu của chúng ta hôm nay, cũng khởi đi từ lời mời gọi “hãy ăn năn sám hối và tin vào phúc âm”. Hãy tin và theo Đức Giêsu, hãy tin và sống niềm tin để được hiểu, được biết, đâu là tình yêu và thánh ý Chúa đang đổ tràn nơi cuộc đời này. Người tôi yêu đối với các tín hữu hôm nay, hẳn sẽ không giới giới hạn ở trình độ, kiến thức, vật chất tinh thần, hay một số kỷ niệm vui buồn trong tình yêu Giêsu, mà suốt hành trình có Chúa cùng sẻ chia đồng hành.

Ngày hôm nay, các nhân vật nổi tiếng thường có các vệ sĩ song hành, các công ty doanh nghiệp lại có các nhân viên bảo vệ, các thầy thuốc gia truyền lại có các đệ tử học việc, tiến trình ấy đang dần trở nên như quy luật. Trong đời sống gia đình, trong tình nghĩa thầy trò, Thiên Chúa hằng mời gọi chúng ta hãy sử dụng phương thế vững chắc nhất là sống yêu thương, yêu thương là vệ sĩ, yêu thương là sức mạnh, yêu thương là bình an hạnh phúc. Nếu mỗi người đã từng đọc, từng nghe: lúc gian nan mới biết ai là bạn, khi hoạn nạn mới biết bạn là ai. Quả thực, quê hương này, thế giới này sẽ còn là cơ hội, là dịp thuận tiện, nhằm giúp chúng ta minh chứng tình yêu của người môn đệ theo Đức Kitô. Để đáp trả lời gọi mời: “hãy theo Ta”, dù trong điều kiện không giống nhau, chúng ta đều phải lý giải bằng cách sống niềm tin của mình: người tôi yêu là ai, người tôi yêu có phải là anh chị em đang sống bên cạnh chúng ta không ?

Trong một lần giáo huấn các học trò, vị sư phụ đặt câu hỏi các môn sinh, nếu chúng con được phân công đun nấu một ấm nước, khi nhóm lửa và đun nước, rồi sau đó mới phát hiện số củi nấu không đủ cho ấm nước sôi, vậy các con phải làm gì ? Các học trò đồng thanh lên tiếng thưa thầy, phải nhanh chóng đi tìm củi, đi mua, đi mượn. Sư phụ hỏi lại: tại sao chúng con không bỏ bớt nước trong ấm ra nhỉ ?

Cuộc đời thường đưa đẩy ta đối diện với những hoàn cảnh không bao giờ như ý ta, thay vì “vận sức dụng mưu” để vẽ đường cho sự việc diễn ra như ý ta mong muốn, sao ta không dám hy sinh từ bỏ một chút gì đó, hẳn cách ngắn nhất để dẫn tới thành công là ở chỗ dám từ bỏ. Cũng như các ngư phủ, theo Thầy Giêsu là từ bỏ gia đình, nghề nghiệp, từ bỏ mình, bỏ cái tôi ích kỷ nữa ; và rồi Thầy Giêsu sẽ trả lời cho hậu thế rõ ràng hơn: “người tôi yêu” là tất cả những ai mà ta đang gặp gỡ hàng ngày. Amen.

Về mục lục

.

THEO CHÚA ĐỂ TRUYỀN GIÁO

Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển

Trong bài Tin Mừng Chúa Nhật tuần trước, thánh Gioan đã thuật lại hành trình của một ơn gọi là: Chúa gọi, ta đáp trả để đến xem và ở lại rồi ra đi giới thiệu về Chúa cho người khác.

Chúa Nhật hôm nay, thánh Máccô trình bày câu chuyện Đức Giêsu chọn và gọi đích danh 4 môn đệ đầu tiên, đồng thời tác giả cũng ghi lại rất cụ thể về sứ vụ sẽ được trao cho các ngư phủ này là: theo Chúa để trở thành những kẻ lưới người như lưới cá (x. Mc 1, 17)

  1. Đi theo Chúa để trở thành môn đệ

Câu chuyện được khởi đi từ bối cảnh sau khi Đức Giêsu chịu phép rửa trên sông Giođan và chịu ma quỷ cám dỗ trong hoang địa (x. Mc 1,12-13). Hôm nay, tác giả đề cập đến sứ vụ công khai của Đức Giêsu tại Galilêa. Khởi đầu cho một hành trình loan báo Nước Thiên Chúa mà Đức Giêsu, nhà thừa sai vĩ đại đã nhận lãnh từ Chúa Cha.

Cũng trong thời điểm này, Gioan Tẩy Giả đã hoàn thành xuất sắc công việc được trao và ông đã bị bắt. Như vậy, có thể nói, Gioan đã lui vào hậu trường để nhường chỗ cho nhân vật chính là Đức Giêsu xuất hiện. Hai nhân vật, chung sứ vụ. Điều này cho thấy mối giây liên hệ mật thiết, liên tục và quan trọng giữa Đức Giêsu và Gioan Tẩy Giả.

Khi chọn và gọi các môn đệ, Đức Giêsu muốn các ông tin và liều mạng đi theo mình, một cuộc phưu lưu đầy thử thách nhưng chứa chan niềm hy vọng, nên cần các ông phải tin và dứt khoát.

Chính vì vậy, ngay sau lời mời gọi “hãy theo tôi”, ngay lập tức, Đức Giêsu đã loan báo cho các ông biết cụ thể về sứ vụ mà các ông phải thi hành: “Người bảo họ: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” (Mc 1, 17). Lời mời gọi rõ ràng. Sứ vụ rất cụ thể, nên thái độ của các ông cũng phải dứt khoát, không tính toán nghĩ suy và bỏ lại sau lưng tất cả mọi sự để đi theo Đức Giêsu.

Thái độ dứt khoát ấy được thánh Máccô trình bày như sau: khi nghe thấy Đức Giêsu gọi, Anrê và Simon đã “lập tức bỏ lưới theo Người” (Mc 1, 18). Còn với Gioan và Giacôbê thì “bỏ cha là Giêbêđê ở lại trên thuyền cùng với các người làm công, và đi theo Người” (Mc 1, 20).

  1. Sứ mạng đến với dân ngoại

Cuộc gặp gỡ giữa thân tình và đầy ấn tượng ấy được diễn ra tại Galilêa, điều này gợi cho người ta nghĩ ngay đến vùng đất ngoại vi, bên lề, vì đây là: “Miền đất của dân ngoại”. Đây cũng còn là vùng đất gần biên giới, nơi ở của những người thập tỉnh từ nhiều nơi tụ về.

Chính vì vậy mà nơi đây bị coi là vùng đất tối tăm, lộn xộn và bị người đương thời khinh miệt. Tuy nhiên, Đức Giêsu lại chọn vùng đất này làm trung tâm truyền giáo, là nơi ưu tiên để Ngài thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng đầu tiên. Từ đó, nơi đây được biết đến như: “Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” (Mt 4, 16).

Như vậy, ơn gọi của các môn đệ đầu tiên được khai mào tại một vùng đất của dân ngoại như tác giả đã thuật lại, điều này cho ta thấy: sứ vụ của các ông phải được ưu tiên tại những vùng bị xã hội loại bỏ, khinh miệt; những nơi thiếu vắng tình thương, mất niềm hy vọng; những nơi nghèo tinh thần và vật chất; vùng sâu vùng xa….

Khung cảnh, sự kiện của vùng đất và con người nơi đây thật gợi cảm, khiến cho ý định của Đức Giêsu được thêm phần rõ nét và lời đáp trả của các môn đệ được tô đậm qua thái độ ra đi, dấn thân và phục vụ.

Đây cũng là sứ vụ và lời mời gọi cho mỗi chúng ta hôm nay.

  1. Sứ vụ loan báo Tin Mừng của người Kitô hữu

Trong sứ điệp Truyền Giáo 2017, số 4, Đức Thánh Cha Phanxicô đã lấy lại định hướng của tông huấn Evangelii Gaudium (Niềm Vui Tin Mừng) để nói về tinh thần thực thi sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội ngày nay cần phải có, ngài viết: chúng ta bị thách thức “đi ra ngoài khu vực quen thuộc của mình và can đảm đi đến tất cả những vùng ngoại vi, là những người cần ánh sáng của Tin Mừng” (Evangelii Gaudium, 20).

Tuy nhiên, muốn trở thành nhà truyền giáo, thành kẻ lưới người, tự bản thân chúng ta phải có sự hấp dẫn vì mang trong mình niềm hy vọng được cứu rỗi. Sự hấp dẫn ấy có thể là một nụ dễ thương, một sự cảm thông sâu xa, một thái độ chia sẻ tận tâm; một sự dấn thân không biết mệt mỏi tại những nơi nghèo đói và thiếu vắng tình thương. Nhưng có lẽ, sự hấp dẫn lớn nhất, đó là có Chúa nơi mình và cảm nghiệm được “Niềm Vui Tin Mừng” trong cuộc sống. Từ đó, chúng ta mới có thể chia sẻ về Chúa cho người khác một cách sống động.

Giáo Hội không bao giờ chấp nhận người Kitô hữu chỉ nghĩ cho chính mình, nhưng Giáo Hội cần lắm một người Tín Hữu Kitô hiền lành, khiêm nhường, đơn sơ, phản ánh trung thực về cuộc đời và sứ vụ của Đấng Cứu Thế (x. sứ điệp Truyền Giáo 2017, số 7). Đó là lý do tại sao Đức Thánh Cha Phanxicô trong một lần nói chuyện với các linh mục và giáo dân ở Buenos Aires, ngài nói:  “Tôi thà có một Giáo Hội bị bầm dập, mang thương tích và nhơ nhuốc vì đi ra ngoài đường, hơn là một Giáo Hội ốm yếu vì bị giam hãm và bám víu vào sự an toàn của mình. Tôi không muốn một Giáo Hội chỉ lo đặt mình vào trung tâm để rốt cuộc bị mắc kẹt trong một mạng lưới các nỗi ám ảnh và các thủ tục” (Evangelii Gaudium, 49).

Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa ban cho mỗi người chúng con luôn ý thức sứ mạng của chúng con là phải giới thiệu Chúa cho mọi người, để qua đó, Danh Chúa được rạng rỡ và vinh quang đến tận cùng trái đất. Nhưng trước hết, xin cho chúng con biết sám hối để trở nên khí cụ của Chúa và chỉ làm việc của Chúa muốn mà thôi. Amen.

Về mục lục

.

ĐIỀU KIỆN ĐỂ TRỞ THÀNH CÔNG DÂN NƯỚC TRỜI

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Những ai từng đăng ký phỏng vấn đi Mỹ đã biết, để được cấp Visa vào Mỹ cần phải có rất nhiều hồ sơ và nhiều thông tin cung cấp cho nhân viên phỏng vấn. Tuy nhiên khi đi phỏng vấn, nhiều người có đủ giấy tờ chứng minh nghề nghiệp, mối quan hệ, tài sản còn ở Việt Nam nhưng vẫn bị từ chối cấp Visa vào Mỹ. Có nhiều người khóc lóc, năn nỉ vẫn bị từ chối vì mục đích chuyến đi không rõ ràng hoặc không thuyết phục được nhân viên phỏng vấn.

Thưa quý OBACE, chỉ để xin visa vào Mỹ thôi, nhiều người đã phải mất nhiều lần phỏng vấn, phải đáp ứng đủ các điều kiện phía Mỹ đưa ra, phải chứng minh mình sẽ ra về sau khi hết thời hạn. Vậy để gia nhập Nước Trời, trở thành công dân trong vương quốc của Thiên Chúa, chắc chắn chúng ta cũng sẽ phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện Chúa muốn. Chúa Giêsu đã đưa ra cho chúng ta điều kiện căn bản: Thời giờ đã mãn và Nước Thiên Chúa đã gần đến. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng. Như vậy có nghĩa là chúng ta được đòi hỏi phải đáp ứng hai điều kiện: Sám hối và Tin vào Tin Mừng.

Chúa Giêsu đến để mở ra thời đại mới, khai sinh triều đại của Thiên Chúa, quy tụ muôn dân gia nhập Nước Trời. Do đó, những công dân của Nước Trời cũng phải là những con người mới, con người thành tâm sám hối, chấp nhận thay đổi. Sám hối là gì? Thưa, không chỉ là khóc lóc than van, hối hận, nhưng cần phải có quyết tâm thay đổi dứt khoát và thay đổi hoàn toàn. Sám hối là thay đổi từ suy nghĩ đến hành động và cả thói quen cũ của mình, để tập sống theo những đòi hỏi mới và thói quen mới. Con người cũ là con người thuộc về Adam, tức là thuộc về sự chết, sống dưới ách nô lệ của tội lỗi và của ma quỷ. Con người mới là con người thuộc về Thiên Chúa, sống trong sự tự do của con cái Thiên Chúa, không ngừng vươn lên mỗi ngày.

Sám hối với thái độ nào? Chúng ta không sám hối vì sợ hãi, nhưng ta quyết tâm sám hối vì muốn giũ bỏ khỏi mình những gì hôi hám bẩn thỉu, không phù hợp với Nước Trời. Giống như khi đến một quốc gia mới, ta phải nhanh chóng thích nghi với xã hội mới, thì cũng vậy, bước vào Nước Trời, chúng ta phải cởi bỏ những gì không phù hợp với Nước Trời. Hơn nữa, chúng ta được mời gọi sám hối vì tin vào lòng thương xót của Thiên Chúa, đáp lại sự mong đợi của Chúa, cố gắng làm cho mình trở nên dễ thương trước mắt Chúa.

Điều kiện thứ hai đó là phải tin vào Tin Mừng. Tin vào Tin Mừng có nghĩa là tin vào chính Chúa Giêsu là Tin Mừng lớn lao nhất Thiên Chúa gửi đến cho trần gian. Tin vào Đức Giêsu có nghĩa là tin Ngài là Thiên Chúa, là Đấng Cứu độ trần gian, Đấng mà các tổ phụ, các tiên tri đã loan báo. Chúa Giêsu đến để đem lại cho con người niềm vui và hy vọng, Ngài là Đấng giải thoát con người khỏi đau khổ tội lỗi và chết chóc. Tin vào Chúa Giêsu là thực hành những lời Ngài dạy bảo, là đi theo con đường Ngài chỉ dẫn. Ngài không lừa dối ai bao giờ, Ngài sẽ dẫn chúng ta đến với Thiên Chúa là Cha, là nguồn hy vọng và hạnh phúc cho nhân loại.

Tin Mừng Marcô cho thấy các tông đồ đầu tiên đã đáp lại lời mời gọi và điều kiện của Chúa Giêsu. Simon, Anre, Giacobê và Gioan, là những người đã được đến, đã xem, đã ở lại với Chúa một ngày. Hôm nay, khi Chúa đi dọc theo bờ hồ Galilea, Chúa thấy những chàng trai thiện chí này, Ngài đã cất lời gọi các ông: Hãy theo tôi, Tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ lưới người như lưới cá. Lập tức, các ông bỏ lưới, bỏ thuyền, bỏ người thân để theo Chúa Giêsu. 

Các tông đồ này đang có một cuộc sống với nghề nghiệp ổn định. Các ông cũng có một gia đình êm ấm, cuộc sống khá giả, đang làm chủ của một số người thợ. Vậy mà, khi được chúa Giêsu gọi, các ông lập tức bỏ lại tất cả: bỏ thuyền, bỏ thợ, bỏ cả người cha ở lại. Simon và Anre đang làm việc của mình, đang quăng lưới xuống biển, khi được gọi, các ông đã chấp nhận từ bỏ và thay đổi nếp sống thường ngày để bắt đầu một nếp sống mới, phiêu lưu hơn, bấp bênh hơn: Tôi sẽ làm cho anh trở thành kẻ lưới người. Theo Chúa Giêsu để gia nhập vào Nước Trời, các tông đồ đầu tiên đã để cho Chúa bẻ lái cuộc đời của mình sang một hướng khác, đi một con đường khác. Theo Chúa Giêsu, các tông đồ đã bước vào một cuộc hoán cải, sám hối liên tục để làm mới lại con người của mình và uốn cuộc đời mình theo khuôn mẫu của Tin Mừng.

Bài đọc một đã kể lại cuộc sám hối, hoán cải của dân thành Ninivê trước lời mời gọi của Thiên Chúa qua tiên tri Giôna. Ninivê là một thành phố tội lỗi, Chúa đã sai tiên tri Giôna đến cảnh cáo họ. Ông Giôna, một đàng không muốn họ được hưởng lòng thương xót của Chúa, đàng khác ông không tin dân Ninivê có thể hoán cải. Vì thế, ông tìm cách trốn tránh sứ mạng Chúa trao bằng cách xuống thuyền đi nơi khác. Nhưng khi Chúa bắt ông ông phải quay đầu lại để thi hành sứ vụ cảnh báo, thì dân Ninivê, từ vua đên dân, từ người đến sức vật đã sám hối, bỏ đường gian ác, mặc áo nhặm để đền tội. Chính nhờ sự nhanh chóng hoán cải, thay đổi lại nếp sống, họ đã thoát được cơn thịnh nộ của Thiên Chúa định trút xuống trên họ. Nói theo ngôn ngữ của Tin Mừng, thì viêc thật lòng sám hối, hoán cải sẽ chạm được đến lòng thương xót của Thiên Chúa và sẽ đón nhận được lòng khoan dung thứ tha của Thiên Chúa.

Nhờ ơn của Bí tích Rửa tội, mỗi chúng ta trở nên công dân của Nước Trời, vì thế, ta cần phải hoàn thiện con người mình mỗi ngày cho xứng là tín hữu, bằng việc không ngừng sám hối. Việc sám hối không chỉ là việc của người tội lỗi, cũng không chỉ là ân hận khóc than về quá khứ, nhưng là cố gắng mỗi ngày cắt tỉa những thói hư tật xấu và cố gắng làm nhiều điều tốt. Mỗi ngày cần phải tái khẳng định niềm tin vào Chúa Giêsu là Tin Mừng của Thiên Chúa Cha và là Đấng cứu độ chúng ta để dám phó thác cuộc đời cho Ngài; đồng thời, mỗi người cần phải lắng nghe, suy gẫm và thực hành những điều Tin Mừng chỉ dạy. Tin vào Tin Mừng còn là sống và loan báo niềm vui mà Tin Mừng đem lại. Đó là niềm vui ơn cứu độ, niềm vui được giải thoát khỏi sự chết và được hưởng sự sống của Thiên Chúa, niềm vui và tự hào vì được trở nên con Thiên Chúa.

Giáo Hội là hình ảnh Nước Trời nơi trần gian, mà chúng ta đang là những thành viên. Chúng ta có bổn phận chung tay xây dựng Giáo Hội bằng sự hiệp thông, hiệp nhất và vâng nghe theo sự hướng dẫn của Giáo Hội. Chúa đang mời gọi mỗi người, dù ở bậc sống nào, dù là nghề nghiệp gì, cũng cần phải góp phần mình xây dựng Giáo Hội. Cùng với mọi thành viên khác, chúng ta làm cho Tin Mừng tình thương của Chúa được lan tỏa đến các anh chị em chung quanh qua chính đời sống và hành động của mỗi người.

Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng là sứ điệp Chúa gửi đến mỗi gia đình. Các bậc cha mẹ cần phải nhìn lại đời sống mình mỗi ngày, từ đời sống đạo đức đến công việc và cách làm ăn, từ tương quan vợ chồng đến các con. Những gì đang làm cản trở gia đình chúng ta trở thành cộng đoàn Nước Trời, ta cần mạnh dạn thay đổi. Chúng ta hãy mạnh dạn thay đổi cách sống, cách suy nghĩ và cách cư xử để gia đình thực sợ trở thành một tổ ấm, thành Nước Trời. Hãy thay đổi cách làm ăn gian dối để thay vào đó bằng sự thật thà ngay thẳng; thay sự nóng nảy tự ái bằng hiền hòa và quan tâm đến nhau; thay bạo lực bằng tình yêu và sự tha thứ, vì đang có những gia đình rơi vào cảnh căng thẳng rạn nứt chỉ vì những vấn đề rất nhỏ, nhưng không bên nào chịu nhận phần sai lỗi về mình.

Lời mời gọi của Chúa Giêsu hôm nay cũng đặc biệt gửi đến các bạn trẻ. Nhiều người trẻ đang để mình bị lạc trôi xa Chúa, xa các việc đạo đức, xa Giáo Hội, giáo xứ. Nhiều người đang để cuộc đời mình bị cuốn hút vào công nghệ, tìm kiếm tiền bạc, ham mê sự nổi tiếng đến độ không còn quan tâm đến sự hiện diện của người thân bên cạnh. Noi gương các môn đệ đầu tiên, hãy để Chúa bẻ lái cuộc đời của mình, để con thuyền cuộc đời quay trở lại với Thiên Chúa, Giáo Hội, giáo xứ và gia đình. Hãy để con thuyền cuộc đời của mình chở nặng tình yêu thương và lòng trắc ẩn đến với những anh chị em đang cần sức sống trẻ của chúng ta. Amen.

Về mục lục

.

CÁC ANH HÃY ĐI THEO TÔI

Fx Đỗ Công Minh

        Bài Tin Mừng hôm nay, Thánh Maccô  cho chúng con biết được giai đọan khởi đầu của thời kỳ Đức Giêsu bước vào đời rao giảng. Chúa đã lánh qua miền đất Galilê, vùng đất của những dân ngọai, sau khi Gioan bị nộp. Lời đầu tiên Chúa nói với những người dân trong vùng là “  Thời kỳ đã mãn và triều đại Thiên Chúa đã gần đến. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng “. Đây là một điều kiện đầu tiên để những ai muốn tin và theo Người.

         Sám hối là từ bỏ cuộc sống cũ, trong đó con người không nhận biết nhau là anh em, sẵn sàng lên án, chỉ trích, nói xấu lẫn nhau.  Đời sống cũ phải từ bỏ còn là những đam mê tội lỗi, những thu vén ích kỉ, ghen tương đố kỵ, khiến người với người sống trong canh chừng, đề phòng lẫn nhau. Một cuộc sống bất an vì sợ sệt, vì tội ác tràn lan . . . Tin vào Tin Mừng, là biết lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa, tin vào Lời của Con Thiên Chúa ở giữa nhân lọai . Và để có những người theo và cộng tác với Người, Đức Giêsu đã mời gọi “Các anh hãy đi theo tôi “,  mời gọi những người thành tâm thiện chí, những con người hết sức bình thường, như những ngư dân trên bờ biển đang lao nhọc vất vả trong cuộc đời.   

       Lạy Chúa,

       Chúa không chỉ mời gọi các Tông đồ theo Người mà là mời gọi hết mọi người chúng con. Tất nhiên không phải tất cả đều ở cùng một vị trí như nhau, nhưng là ở mọi hòan cảnh, môi trường xã hội khác nhau. Có người tận hiến trọn đời mình cho sứ vụ rao giảng như các vị Giáo sĩ, tu sĩ. Có người sống trong bậc đôi bạn. Có người thuộc hàng trí thức, người khác là công nhân các ngành nghề, người buôn bán giữa chợ đời, người là doanh nhân, thầy thuốc, nhà giáo, binh sĩ, công chức. Có người nắm giữ chức quyền cao hay chỉ là cấp dưới bình thường. Cũng có những người tham gia các họat động xã hội, tham gia các đòan thể, tổ chức xã hội từ thiện, tham gia vào các họat động truyền thông . . .Trong mọi lãnh vực của đời sống vẫn luôn có những con người như Phêrô, Anrê, Giacôbê, Gioan. . . Vấn đề là con người có nghe tiếng Chúa mời gọi và đáp trả?

       Chúa mời gọi chúng con làm những việc gì?

       Đó là “ trở thành những kẻ lưới người như lưới cá” không chỉ hiểu theo nghĩa đen, nhưng chính qua hòan cảnh của từng người, Chúa muốn con thực thi điều Chúa dạy: Hãy yêu thương đồng lọai như Thầy đã yêu thương; sống chan hòa với nhau trong môi trường sống; giới thiệu cho nhau khuôn mặt  Đức Kitô : Con Một Thiên Chúa làm người, để mỗi người đựoc trở thành Con Chúa. Biết cộng tác với mọi người trong xã hội góp phần xoa dịu những khổ đau về thể xác, tâm hồn cho tha nhân trong khả năng có thể. Đó chính là” Lưới người”, là mời gọi nhiều người đi theo Chúa.

    Đức Thánh Cha Phanxicô những ngày này đang tông du Chilê, PeruNgài cũng đang nối tiếp con đường của Đức Kitô là mời gọi những người chưa đón nhận Tin Mừng “Hãy theo Thầy “

         Xin cho anh chị em chúng con, bằng lòng nhiệt thành nhưng khiêm tốn, cùng với con tim, khối óc  biết ý thức sứ mạng thiêng liêng mà Chúa mời gọi là biết mở lòng ra, là cho đi, là thâu thập và loan báo, bước theo con đường mà Chúa đã dọn. Bởi Người là Đường, là Sự Thật và là sự Sống. Chính từ việc truyền thông Tin mừng đến mọi người là góp phần mở tai, mở trí, mở lòng cho con người. Truyền tải đạo đức, nhân bản là nâng con người ngày càng trở nên hòan thiện như Chúa đã làm người.

         Xin Chúa giúp con, Chúa ơi.

Về mục lục

.

CHÚA GIÊSU KÊU GỌI BỐN MÔN ĐỆ ĐẦU TIÊN

P. Trần Đình Phan Tiến

Thưa quý vị, thưa các bạn, Tin Mừng theo thánh Macco hôm nay ( Mc 1, 14 -20) cho chúng ta một chủ đề về ơn “gọi”. Khác với Tin Mừng thánh Gioan Tông đồ, Tin Mừng nhất lãm cho chúng ta rõ nét về  ơn “ kêu gọi” của Chúa Giêsu.

Mọi người muốn bước theo Chúa Giêsu đều phải có “ơn gọi”.

  • Ơn gọi là một điều kiện nhưng không.

Nhưng, người được gọi phải mau mắn đáp trả, dứt khoát bước theo. Vâng , đó là ý nghĩa thứ nhất trong đoan Lời Chúa hôm nay.Trong khi đang chài lưới đánh cá, hai anh em ông Anre và Simon liền bỏ chài lưới mà đi theo Người. Không do dự, không chần chờ, hai ông cất bước đi theo Chúa Giêsu. Tin Mừng theo thánh Macco không ghi lại lời “giới thiệu” của ai.

Theo đó, lịch sử Cứu Độ được gắn liền với “ nghề” chái lưới. Biển thế gian gian nan không kém so với biển khơi đai dương. Biển hồ Galile không phải là biển đai dương, nhưng rất rộng. Biển hồ nầy nuôi sống dân cư Nước Israel.

Chúa gọi trực tiếp một số môn đệ, nhưng , sau đó số môn đệ nầy cứ ra đi thả lưới, vậy cá trong biển thế gian đủ loại, nhưng, chỉ một thiểu số được gọi trở nên người “ chài “ đích thực.

  • Ơn gọi là một huyền nhiệm.

Con người phải được gọi, nhưng khi được gọi phải đáp trả, vì ơn gọi không xuất phát từ phía con người, mà là xuất phát từ Thiên Chúa. Như vậy, ơn gọi là huyền nhiệm nhưng không, một ơn ban siêu nhiên không phải “trả giá”, bởi vì, “Giá Cứu Chuộc” là Đức Giêsu – Kitô, Đấng đã trả giá cho nhân loại. như vậy, ơn gọi là một “ huyền nhiệm” được đánh đổi từ Chúa Giêsu. Một ân ban nhưng không từ Thiên Chúa, nhưng được “Con Một Duy Nhất”  cứu chuộc. theo đó, huyền nhiệm là một sự kỳ lạ, một ân sủng vô biên từ Thiên Chúa..

  • Ơn gọi phổ quát không như ơn gọi giáo sĩ.

Ơn gọi giáo dân là một ân ban phổ quát  không như ơn gọi giáo sĩ. Ơn gọi giáo sĩ là ơn gọi Tông Đồ “trực tiếp” , có nhiệm vụ cao cả để duy trì và chu toàn trách vụ “ Thiên Sai” của Đức Kitô. Từ đó, người giáo sĩ trong Hội Thánh được kêu gọi và nhận lãnh chức thánh cao cả hơn.

Nhưng , không vì thế mà làm mất đi “ tính chất” thánh thiêng của Kitô giáo, nghĩa là “ phục vụ” như Thầy Chí Thánh.. Tầm vóc lịch sử hình thành Kitô giáo chỉ có hai thành phần duy nhất là : Giáo sĩ và giáo dân, không có thành phần thứ ba.

Thánh phần giáo sĩ phục vụ Hội Thánh, mà Hội Thánh là thành phần dân Thiên Chúa, tức giáo dân. Như vậy, thánh phần giáo sị phục vụ giáo dân, thánh phần giáo dân phục vụ giáo sĩ trong tinh thần vâng phục quyền bính , và khiêm tốn chứ không như nô lệ. Hai thành phần trong Hội Thánh là thần dân của Đức Kitô, chứ không phải giáo dân là “thần dân “ của giáo sĩ.

Vì, giáo dân có chức Thánh là thành phần giáo sĩ, từ phó tế trở lên.

  • Mọi Kitô hữu không có chức thánh là thành phần giáo dân.
  • Mọi giáo dân không có , chưa có bí tích hôn phối đều là tu sĩ.
  • Tu sĩ có hai loại : có chức thánh và không có chức thánh. ( Tu sĩ giáo dân và tu sĩ có lời khấn) . Mọi tu sĩ dòng, chưa có chức thánh, nhưng có lời khấn dòng là tu sĩ đích thực. mọi giáo dân chưa có phép hôn phối đều là tu sĩ chưa có lời khấn. Lời khấn dòng làm phân biệt được nguời tu sĩ đích thực và người tu sĩ giáo dân, người tu sĩ  khấn dòng không hơn người tu sĩ giáo dân về phẩm trật, nhưng, hơn về lời khấn dòng. Lời khấn dòng làm cho người giáo dân trở thành tu sĩ “đích thực” tức được thánh hiến cho Thiên Chúa trở nên hy lễ sát nghĩa hơn.
  • Tu sĩ linh mục thuộc thành phần giáo sĩ trong dòng tu, họ hơn linh mục triều ở chổ lời khấn dòng, vì thành phần giáo sĩ có hai loại : Triều và Dòng.
  • Triều là theo phẩm trật của chủng viện, hệ thống từ Giáo Triều Rôma.
  • Dòng là theo hệ thống dòng tu hợp pháp trong Giáo Hội. Tu sĩ dòng có chức thánh linh mục và có lời khấn dòng, hiển nhiên chắn chắn và nhiệm nhặt hơn linh mục chủng viện. Còn người tu sĩ dòng không , chưa có chức thánh là, nhưng có lời khấn dòng, hiển nhiên họ là người tu sĩ đích thực.
  • Lời khấn dòng là sự can kết của người ứng sinh tu sĩ với Thiên Chúa và Hội Thánh làm cho họ kết hợp mật thiết với Đức Kitô – Giêsu và Hiền Thê của Người là Hội Thánh.
  • Như vậy, tu sĩ nam nữ có lời khấn dòng, về phẩm trật, họ không hơn gì người giáo dân tu sĩ, nhưng, họ hơn người giáo dân có phép hôn phối, nơi lời khấn dòng và đời tu sĩ.

Hiểu rõ để phân biệt đúng mức, và tôn trọng cho phải lẽ, không quá “ tôn thờ” những người “ đi tu”, cũng nhưng không coi các linh mục là chính Chúa được. Vì , các linh mục chỉ thay mặt Chúa trong sự giới hạn, chứ không thể cầm quyền sinh tử trong vô biên được.

Không coi linh mục như Chúa Kitô “thứ hai”, mà hãy coi linh mục như “ mục tử” của Chúa Kitô, có nghĩa là tất cả mọi linh mục phải “ phục vụ” giáo dân vô vị lợi, còn vị linh mục nào “kẻ cả”, hay “ quan liêu”, thì không thể xem vị linh mục ấy như Chúa Kitô, chưa nói đến vị linh mục “ vì tiền”

Mong sao , mọi linh mục sống như Lòng Chúa mong ước, hầu nơi họ “ơn gọi” được triển nở, và như thế nền hòa bình công chính mới phát triển trong triều đại Người ./. Amen.

Về mục lục

.

SỐNG ƠN GỌI

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang.

Kính thưa quý ông bà anh chị em,

Được chọn gọi, đó là một hồng ân nhưng không mà Thiên Chúa muốn thực hiện nơi những người Ngài muốn. Thiên Chúa muốn những người được chọn gọi đáp lời và dấn thân không chỉ bằng lời rao giảng mà còn bằng đời sống chứng nhân. Qua họ, Thiên Chúa muốn gởi đến dân Ngài sứ điệp yêu thương từ trời xuống chính Con Một của Ngài là Đức Giêsu Kitô. Người là “Evangelium” của Thiên Chúa. Ai đón nhận Người thì sẽ được ơn cứu độ.

Thưa anh chị em, dân thành Ninivê xưa, trước những tội lỗi lan tràn và nặng nề, Thiên Chúa chọn gọi và sai tiên tri Giona đến thành Ninivê rộng lớn để công bố lời Thiên Chúa phán quyết hủy diệt thành. Ông ngại ngùng và cố tình đi hướng khác, nhưng Chúa cho Giona gặp bão và thủy thủ quăng ông xuống biển. Một con cá lớn nuốt Giona vào bụng và nhả ông trên bờ biển Ninivê. Cuối cùng Giona cũng phải làm theo lệnh Chúa vào thành kêu gọi họ sám hối ăn năn. Ông tiến vào thành phố và rao giảng rằng: “Còn bốn mươi ngày nữa, Ninivê sẽ bị phá huỷ”. Dân thành tin tưởng nơi Chúa, họ công bố việc ăn chay và mặc áo nhặm, từ nhà vua đến thường dân, từ người lớn đến trẻ nhỏ tỏ lòng sám hối. Chúa thấy việc họ làm, vì họ nghe lời Giona bỏ đời sống xấu xa, thống hối tội lỗi nên được Thiên Chúa thứ tha. Như vậy, việc sám hối là điều kiện để đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa.

Khởi sự rao giảng Tin mừng Nước Thiên Chúa, Chúa Giêsu rao giảng: “Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin mừng”. Nước Thiên Chúa là đề tài chính yếu trong lời rao giảng của Chúa Giêsu, và đồng thời với việc rao giảng Tin mừng Nước Thiên Chúa, Chúa Giêsu bắt đầu chọn gọi 4 ngư phủ đầu tiên làm tông đồ để huấn luyện họ cách đặc biệt, để họ sẽ là những người đón nhận Tin mừng Nước Thiên Chúa và tiếp tục sứ mạng loan báo Tin Mừng của Người. Các ông đã lập tức bỏ mọi sự mà theo Người. Triều đại Nước Thiên Chúa được khai mở với lời rao giảng Tin mừng của Con Thiên Chúa nhập thể làm người và mời gọi mọi người sám hối. Đón nhận lời rao giảng Tin mừng thì cũng bắt đầu thực hành sám hối để đón nhận Nước Thiên Chúa được ban tặng. Như vậy, sám hối là điều kiện tiên quyết để trở thành người môn đệ Chúa Kitô.

Có câu chuyện kể rằng, một chàng trai bất mãn với gia đình đã bỏ nhà đi bụi đời. Sau đó, chàng hối hận muốn quay trở về nhưng không biết cha mẹ có sẵn sàng tha thứ cho mình không. Bởi đó, chàng đã viết thư xin lỗi và nói nếu cha mẹ sẵn sàng tha thứ thì đến ngày giờ ấy hãy treo một tấm áo nơi cửa sổ. Nhận thấy tín hiệu ấy, chàng sẽ trở về. Vào ngày giờ đã quy định cha mẹ chàng không những chỉ treo một tấm áo, mà trong nhà có bao nhiêu quần áo, rồi chăn mùng mền, tất cả đều được treo trên các khung cửa và chàng đã được đón nhận vào trong tình thương của gia đình.

Kính thưa quý ông bà anh chị em,

Câu chuyện trên đây cho chúng ta thấy, sám hối là thái độ nhìn biết những sai trái mà chàng trai đã lỗi phạm, hối hận và quyết tâm sửa lỗi để sống tốt hơn, và chàng đã được đón nhận vào trong tình thương của gia đình. Cũng thế, điều kiện tiên quyết để được hưởng ơn cứu độ là sám hối và tin vào Tin mừng. Muốn được cứu rỗi, muốn đón nhận ơn Chúa hằng ngày, chúng ta phải có lòng sám hối bằng việc dứt khoát với tội lỗi, thói hư tật xấu, và đồng thời tin tưởng vào Chúa bằng việc thực hiện những điều Chúa dạy qua Lời của Người. Vì, đời sống của con người chỉ có giá trị từng phút, và được đếm từng giây, mỗi giờ khắc qua đi là đi mất, và mỗi giờ phút vẫn có thể là thời điểm cuối cùng của cuộc đời.

Ước gì chúng ta biết lắng nghe lời rao giảng của Chúa để sám hối từng ngày và canh tân đổi mới cuộc đời. Xin Chúa giúp chúng ta sống xứng đáng trở nên môn đệ của Chúa Kitô. Amen.

Về mục lục

.

PHẾ THẢI

Lm VũđìnhTường

Đồ phế thải không luôn mang nghĩa là hư hỏng, phải vất đi. Thực ra nhiều thứ nhà này phế thải nhà kia mong có nó bởi nó vẫn còn tốt, còn dùng được nhưng không dùng vì nó không hợp thời nữa nên người ta cho nó nằm góc nhà, đáy tủ và rồi chúng chiếm chỗ của những thứ mới hơi, tân tiến hơn nên nó trở thành thứ thừa thãi trong nhà. Thỉnh thoảng chúng ta thấy vô tuyến truyền hình chiếu hình ảnh cảnh vật, nhà cửa, ruộng vườn và ngay cả vật dụng trong nhà cũng bị bỏ ra đường. Những hình ảnh này gợi nhớ thời quá khứ những thứ này được coi trọng, được coi sóc cẩn trọng và được bảo vệ như báu vật bởi những thứ đó mang lại nhiều ích lợi cho cuộc sống. Thời vàng son đó đã qua đi và bây giờ chúng không còn hữu dụng nữa; trái lại chúng thành đồ phế thải, thành của nợ cho chủ. Chúng bị bỏ rơi, mất giá trị và ngay cả bị vất bừa bãi, bị kẻ lạ vào vẽ nghệch ngoạc, bị đóng bụi, mạng nhện chăng và ngay cả chim cũng cho nó chút phân khô. Dấu hiệu của hoang phế, điêu tàn, vắng bóng người chăm sóc.

Không phải chỉ đồ vật bị phế thải và ngay cả tư tưởng, giáo huấn cũng bị phế thải. Dân thành Niniveh từ bỏ đường lối công chính, từ bỏ đường lối Chúa, họ chọn theo sống chiều theo í riêng và chê bỏ đường lối Chúa. Không phải đường lối Chúa lỗi thời hay mất giá trị mà chính là tư tưởng, lối suy nghĩ của con người thay đổi từ đó họ chê bỏ điều công chính, chọn lối sống mới hợp thời trang. Hợp thời trang không có nghĩa là tốt, bởi thời trang chạy theo giới tiêu thụ và hưởng lạc. Bản chất của hưởng lạc là xấu. Thiên Chúa yêu mến con người nên gởi sứ giả là tiên tri Giona tới nói lên lời cảnh báo. Nếu họ tiếp tục từ bỏ đường lối Chúa sống theo í riêng là họ chọn con đường dẫn đến diệt vong, dẫn đến tai ương, đau khổ. Giona nói lên lời cảnh báo cho toàn dân và dân thành nghe tiếng cảnh báo của Giona họ mặc áo nhặm, ăn chay, đánh tội, sám hối trở về đường lối Chúa. Thiên Chúa tha ban cho họ cuộc sống an lành, yên vui.

Thánh vịnh 25,4a cũng mời gọi con người lắng nghe tiếng Chúa, sống cuộc sống công chính, yêu thương tha nhân khi họ cầu xin được sống theo đường lối Chúa.

Lậy Chúa, xin chỉ cho con đường lối Ngài. tv 24,4a

Đường lối Chúa gỡ rối cho khối óc rối loạn; đường lối Chúa mang yên vui cho con tim âu sầu, lo lắng; đường lối Chúa giúp tìm giấc ngủ bình an; đường lối Chúa mang lại buổi bình minh đầy hy vọng và một ngày đầy hoan lạc. Đường lối Chúa ban hoan lạc đời đời, phân phát sự sống trường sinh cho đời sau. Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta hình ảnh mắt thường nhìn thấy sẽ qua đi vì thế hãy tìm kiếm những gì bền vững. Tình yêu Chúa bền vững và những ai khiêm nhường để tâm tìm kiếm sẽ nhận ra tình yêu Chúa ẩn nấp sau hình ảnh nơi trần thế. Thiếu khiêm nhường sẽ không thể nhận ra tình yêu Chúa. Ơn Chúa xuống trong ta để ta biết sống tin yêu, phó thác. Những ai muốn chứng minh tình yêu hay đòi bằng chúng tình yêu Chúa sẽ thất bại, bởi tình yêu Chúa đặt căn bản trên tin yêu, phó thác. Đòi dấu chỉ hay đòi bằng chứng là dấu chỉ thiếu tin tưởng và phó thác mà thiếu tin tưởng sẽ không nhận biết tình yêu Chúa. Những ai đón nhận với tâm tình yêu mến thiết tha đời họ sẽ thay đổi, trở nên tốt hơn, chân thành hơn và yêu mến anh em chân tình hơn.

Hai anh em Phêrô và Andrê đi theo cũng như hai anh em Giacôbê và Gioan đi theo Đức Kitô. Họ là những môn đệ đầu tiên từ bỏ mọi sự theo Chúa. Họ theo để học hỏi, nhận biết. Họ theo nhưng vẫn chưa hiểu và không hiểu hết tình yêu Chúa. Họ được mời gọi trở thành kẻ chài lưới người. Điều này có nghĩa gì? Họ không hiểu nhưng quyết tâm đi theo làm môn đệ. Kinh thánh cho biết họ từ bỏ mọi sự, thuyền, chài và ngay cả cha mẹ để đi theo làm môn đệ bởi họ tin Đức Kitô sẽ ban cho họ cuộc sống tốt hơn cuộc sống hiện tại. Họ chưa nhận biết chưa tìm ra bằng chứng điều Đức Kitô hứa nhưng họ tin Ngài và chân thành đi theo. Chính lối suy nghĩ đơn giản, cuộc sống bình nhật mà họ trở thành sứ giả của Tin Mừng và hy sinh trọn đời cho Tin Mừng, hy sinh đến giọt máu cuối cùng trong người. Chúng ta hãy tự hỏi làm thế nào để diễn tả đức tin qua hành động.

Về mục lục

.

SÁM HỐI NHƯ SẠC PIN ĐIỆN THOẠI

Lm. Giuse Nguyễn

Trong Buổi nói chuyện với các bạn trẻ Chile ngày 17/01/2018, Đức Thánh Cha Phanxicô đã kể câu chuyện về một anh thanh niên trả lời thẳng thắn với Ngài về câu hỏi điều gì làm cho anh bất hạnh? Anh trả lời: “Khi điện thoại của con hết pin hoặc khi con bị mất kết nối mạng”. Từ câu chuyện thực tế đó, Đức Thánh Cha nghĩ đến một hình ảnh khác. Ngài chia sẻ với các bạn trẻ Chile: Điều này khiến cha nghĩ rằng cùng một điều có thể xảy ra với đức tin của chúng ta. Sau một thời gian rong ruổi cuộc hành trình, có những khoảnh khắc, dù không hay, “dãy sóng” của chúng ta bắt đầu loãng dần rồi chúng ta mất nối kết, mất điện; lúc ấy, chúng ta trở nên bất hạnh và mất đức tin, chúng ta cảm thấy chán nản và bơ phờ, và bắt đầu nhìn mọi thứ dưới một ánh sáng xấu. Khi chúng ta thiếu “nối kết” để sạc điện cho các ước mơ của mình, trái tim chúng ta bắt đầu nao núng. Khi pin của mình hết điện, chúng ta cảm thấy như bài hát vốn mô tả – “Tiếng ồn đàng sau và sự cô đơn của thành phố cắt chúng ta khỏi tất cả mọi thứ. Thế giới lùi lại, cố gắng lấn áp tôi và dìm chết mọi suy nghĩ và ý tưởng của tôi”

Trong đời sống đức tin, sẽ có những lúc chúng ta mất điện, mất sóng. Có nhiều lý do dẫn đến những hiện tượng đó, nhưng có một lý do rất quan trọng đó là những yếu đuối, những tội lỗi của chúng ta. Khi phạm tội là lúc chúng ta hết pin, chúng ta mất sóng, không thể kết nối được với Chúa và tha nhân. Vì vậy việc sám hối chính là một trong những hình thức để sạc điện, để kết nối mạng.

Thánh Phaolô trong 1Cr 7, 29-31 đã nhắn nhủ giáo dân của mình rằng: “Thời gian chẳng còn bao lâu. Vậy từ nay những người có vợ hãy sống như không có; ai khóc lóc, hãy làm như không khóc; ai vui mừng, như chẳng vui mừng; ai mua sắm, hãy làm như không có gì cả; ai hưởng dùng của cải đời này, hãy làm như chẳng hưởng dùng” (1Cr 7, 29b-31a).Thánh nhân nói như vậy không phải là buông bỏ hết tất cả, nhưng là nhắn nhủ để họ biết hoán cải hầu sống tốt trong những việc họ đang làm.

Điều đó được rút ra từ ý tưởng của bài đọc I. Dân thành Ninivê đã bỏ đường gian ác mà trở lại, nhờ lời rao giảng dù không mặn mà của ông Giôna. Nhưng “Thiên Chúa thấy việc họ làm, thấy họ bỏ đường gian ác mà trở lại, Người hối tiếc về tai họa Người đã tuyên bố và sẽ giáng trên họ, và đã không giáng xuống nữa” (Gn 3, 10). Điều làm cho Thiên Chúa vui thích chính là sự sám hối của con người.

Đó cũng chính là nội dung lời ra giảng đầu tiên của Đức Giêsu: “Thời kỳ đã mãn và triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1, 15).

Như vậy việc sám hối là bởi vì “Thời kỳ đã mãn” ; “Thời gian chẳng còn bao lâu” ; “đã đến lúc”… Thời kỳ đã mãn, muốn nói đến việc ơn cứu độ chúng ta đã gần kề, Thiên Chúa đã thực hiện, đã chờ đợi ta lâu lắm rồi ; thời gian chẳng còn bao lâu, vì quả thật không ai biết mình sống đến bao giờ, và những cái chết vẫn luôn luôn gọi mời, bộ mặt trái đất này đang qua đi ; đã đến lúc, vì những hiện trạng thực tế trong đời sống cho ta thấy cần phải có sự thay đổi trong tất cả mọi sự.

Như đã nói, việc sám hối như sạc pin cho điện thoại. Vì vậy trước hết cần phải có nguồn điện. Nếu cúp điện thì chắc chắn không thể nào sạc được. Ở đây muốn nói đến tình yêu thương, sự bao dung tha thứ của Thiên Chúa là luôn luôn có sẵn, dành cho chúng ta. Tình yêu thương đó được thể hiện trong việc chính Ngài sai tiên tri Giôna đi mời gọi dân thành Ninivê sám hối ăn năn. Điều đó cho thấy có những lúc ta không biết mình “hết pin”, “mất kết nối”, mà chính Thiên Chúa dùng cách này cách khác để nhắc nhở ta. 

Kế đến, một khi đã có nguồn điện, nhưng chui cắm không sát vào ổ cắm thì điện không thể nào vào được điện thoại. Chúng ta muốn nói đến yếu tố con người. Chúng ta có muốn gắn chặt vào Thiên Chúa để được Ngài tha thứ hay không? Có những người biết mình sai nhưng không chịu sửa. Có những người được người khác nhắc nhở nhưng không bao giờ nhìn nhận.

Mọi người đều phải sám hối, và tạo điều kiện cho người khác sám hối. Trong năm đồng hành cùng các gia đình trẻ, việc sám hối càng phải thực hiện nhiều hơn, thường xuyên hơn trong các gia đình trẻ. Sở dĩ phải sám hối nhiều và thường xuyên là bởi vì gia đình trẻ nên chắc chắn sẽ có nhiều trục trặc, nhất là trong các mối tương quan. Tương quan với người bạn đời, với gia đình hai bên, với môi trường sống mới của gia đình trẻ… Nói chung là những trục trặc trong đời sống hôn nhân.

Khi gặp những trục trặc này, các gia đình trẻ phải tỉnh táo để nhận ra mình chuẩn bị “hết pin”. Kế đến phải chạy đến với Thiên Chúa chính là sạc pin. Trong mọi sự, nếu còn tìm đến với Chúa, thì sẽ còn giải quyết được; bằng giải quyết mà không có Chúa thì chắc chắn sẽ theo kiểu thế gian và dẫn đến đổ vỡ. Cần lắm những nhịp cầu, những trung gian để nối kết những rạn nứt trong gia đình. Vì vậy khi gặp khó khăn các gia đình phải biết tìm đến với những người đạo đức, có uy tín để giúp mình giải quyết vấn đề. Khi đã thấy được vấn đề cả đôi bên phải rộng lượng để tạo điều kiện cho nhau sám hối. Cả đôi bên phải khiêm tốn để dám nhận lỗi và sửa lỗi.

Sau cơn mưa trời lại sáng. Sau khi đã “sạc pin” thì điện thoại sẽ đủ năng lượng để sử dụng. Nhiều người có được kinh nghiệm của sự thoải mái, bình an sau khi được sự tha thứ, cụ thể nơi bí tích Giải tội. Các gia đình trẻ cũng sẽ vững vàng hơn sau một biến cố, một sự kiện tưởng chừng như đổ vỡ.

Hãy quyết tâm cùng nhau sám hối trong giờ kinh hôm trong gia đình để xin lỗi Chúa và xin lỗi nhau. Hãy tạo điều kiện cho nhau sửa đổi như Chúa sẵn sàng tha thứ cho chúng ta.

Về mục lục

.

SÁM HỐI VÀ TIN VÀO TIN MỪNG.

Lm. Đan Vinh

I. HỌC LỜI CHÚA

  1. TIN MỪNG: Mc 1,14-20

(14) Sau khi ông Gio-an bị nộp, Đức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. (15) Người nói: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”. (16) Người đang đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê, thì thấy ông Si-mon với người anh là ông An-rê, đang quăng lưới xuống biển, vì họ làm nghề đánh cá. (17) Người bảo họ: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá”. (18) Lập tức hai ông bỏ chài lưới đi theo Người. (19) Đi xa hơn một chút, Người thấy ông Gia-cô-bê, con ông Dê-bê-đê, và người em là ông Gio-an. Hai ông này đang vá lưới ở trong thuyền. (20) Người liền gọi các ông. Và các ông bỏ cha mình là ông Dê-bê-đê ở lại trên thuyền với những người làm công, mà đi theo Người.

  1. Ý CHÍNH:

Đức Giê-su bắt đầu sứ mạng giảng đạo tại xứ Ga-li-lê mà nội dung được tóm gọn trong câu: “Thời kỳ đã mãn và Triều Đại của Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”. Người cũng gọi bốn môn đệ tham gia vào sứ mạng loan báo Tin Mừng là hai đôi anh em: Si-mon và An-rê, Gia-cô-bê và Gio-an. Các ông đã mau mắn đáp lại bằng sự dứt khoát từ bỏ nghề cũ, từ giã cha già mà theo làm môn đệ của Người.

  1. CHÚ THÍCH:

– C 14-15: + miền Ga-li-lê: do vua Hê-rô-đê An-ti-pa cai trị, là một miền đất trù phú và có đông dân ngoại sinh sống. Khi khởi sự thi hành sứ mạng rao giảng Tin Mừng tại Ga-li-lê miền đất có đông dân ngoại, cho thấy tính phổ quát của Tin Mừng của Người. +Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng: Sám hối là loại bỏ nếp sống cũ tin thờ tà thần và thay bằng nếp sống mới theo Đức Chúa là Đấng trọn lành. Đức Giê-su kêu gọi dân chúng phải ăn năn sám hối và đón nhận Tin Mừng do Người loan báo.

– C 16-18: + Biển hồ Ga-li-lê: Cũng gọi là hồ Ghen-nê-xa-rét (x. Lc 5,1), hay Ti-bê-ri-a (x. Ga 6,1). Biển hồ này rất lớn hình quả trám, dài 21 cây số và ngang 12 cây số, thấp hơn mặt biển Địa Trung Hải tới 208 mét. Đây là nơi Đức Giê-su đã kêu gọi bốn môn đệ đầu tiên và nhiều lần Người giảng dạy dân chúng tại ven biển (x. Lc 5,3). Người cũng làm nhiều phép lạ tại biển hồ này : dẹp yên sóng gió (x. Mt 8,23-27), đi trên mặt nước (x. Ga 6,16-21) mẻ cá lạ lùng (x. Lc 5,4-11)… + Ông Si-mon với người anh là An-rê: Ông Si-mon sau được Đức Giê-su đổi tên là Phê-rô (x. Mt 16,18). Ông là em ông An-rê và là con ông Giô-na (x. Mt 16,17) hay Gio-an (x. Ga 1,42). Ông Si-mon quê thành Bét-sai-đa (x. Ga 1,44), làm nghề lưới cá tại biển hồ Ga-li-lê (x. Mc 1,16). + Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người: Hai anh em An-rê và Si-mon đã mau mắn đáp lại tiếng gọi của Đức Giê-su, bỏ nghề chài lưới bắt cá để theo làm môn đệ Người.

(C 19-20) + Ông Gia-cô-bê, con ông Dê-bê-đê, và người em là ông Gio-an: Đây là Gia-cô-bê Tiền, vì theo Đức Giê-su trước. Ông là con của ông Dê-bê-đê và là anh của Gio-an (x. Mt 4,21). Ông là một trong nhóm 3 người, được Đức Giê-su ưu ái (x. Mt 17,1). Hai anh em Gia-cô-bê và Gio-an cũng được Đức Giê-su đặt cho biệt danh là “Bo-a-nê-ghê”, nghĩa là “Con của Thiên Lôi” (x. Mc 3,17). + Bỏ cha mình là ông Dê-bê-đê ở lại trên thuyền mà đi theo Người: Hai ông đã dứt khoát đáp lại tiếng Chúa mời gọi bằng việc từ giã gia đình để dấn thân  theo làm môn đệ của Đức Giê-su.

  1. CÂU HỎI: 1) Ga-li-lê là miền nào trong nước Do thái thời Đức Giê-su? 2) Lời kêu gọi “sám hối và tin vào Tin Mừng” của Đức Giê-su có ý nghĩa thế nào? 3) Đặc điểm của Biển Hồ Ga-li-lê là gì? 4) Bạn biết gì về thân thế của ông Si-mon Phê-rô? 5) Hai anh em An-rê và Si-mon đã đáp trả lời mời gọi của Đức Giê-su thế nào? 6) Bạn biết gì về thân thế của hai anh em Gia-cô-bê và Gio-an? Tại sao hai ông này lại có biệt danh là “con của thiên lôi”? 7)Thái độ của hai anh em Gia-cô-bê và Gio-an đáp trả lời mời gọi của Đức Giê-su thế nào?

 

II. SỐNG LỜI CHÚA

  1. LỜI CHÚA: Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15).
  2. CÂU CHUYỆN:

1) KHÔNG SÁM HỐI SẼ KHÔNG ĐƯỢC ƠN THA THỨ:

Một hôm Xa-tan kêu trách Thiên Chúa rằng: “Chúa thật bất công! Cụ thể là có nhiều kẻ phạm đủ thứ tội ác, thế mà Ngài vẫn tha cho chúng. Có nhiều kẻ sa đi ngã lại nhiều lần cùng một thứ tội, mà khi chúng ăn năn sám hối thì Ngài vẫn tha cho chúng. Còn tôi, chỉ phạm tội không vâng lời một lần, thế mà Ngài lại phạt tôi phải sa hỏa ngục đời đời, và không bao giờ tha thứ cho tôi!”. Bấy giờ Thiên Chúa mới ôn tồn nói với tên quỉ rằng: “Sở dĩ Ta tha tội cho con cái loài người vì chúng đã khiêm tốn tự nhận là kẻ có tội, đã hồi tâm sám hối và quyết tâm đổi mới đời sống. Còn ngươi, từ khi phạm tội kiêu ngạo không vâng lời Ta và bị phạt trong lửa hỏa ngục đến nay, có khi nào ngươi khiêm nhường nhận lỗi và hồi tâm sám hối xin Ta tha thứ hay chưa?”. Tên quỷ nghe vậy liền vênh mặt lên cười khẩy và trả lời như sau: “Hồi tâm sám hối ư? Ta đâu có tội gì để phải ăn năn sám hối ? và ta cũng chẳng cần ai phải tha thứ  cho ta !”

2) PHẢI ĂN NĂN SÁM HỐI VỚI LÒNG CẬY TRÔNG:

Trong sưu tập về các thánh ẩn tu trong sa mạc, có kể giai thoại như sau: Có hai tu sĩ kia đã phạm tội và bị phạt phải vào sa mạc để ăn chay đền tội trong một năm trời, ngày đêm ăn chay, cầu nguyện và đánh tội. Ngày ngày các anh em của cộng đoàn đem thức ăn đến tận căn lều riêng cho từng người. Sau đúng một năm thử thách, các tu sĩ nhận thấy có sự khác biệt giữa hai người: một người thì vui vẻ, khỏe mạnh; còn người kia thì ốm o xanh xao. Cả hai được đòi phải đến trình diện trước mặt Bề Trên và ban cố vấn cộng đoàn để được phán quyết có đáng được tái hòa nhập cộng đoàn hay không. Khi được hỏi trong năm qua đã suy niệm về điều gì?

Người ốm o xanh xao trả lời:

– Trong năm qua, ngày ngày con luôn nhớ lại những tội con đã lỗi phạm và những hình phạt đáng phải chịu, nên con luôn mang tâm trạng sợ hãi không sao chợp mắt được.

Đến lượt người vui vẻ khỏe mạnh trả lời:

– Suốt một năm qua, từng giây từng phút, con luôn cảm tạ Chúa vì Người đã tha thứ cho con nên con luôn vui vẻ lúc nào cũng ca tụng Chúa và ăn ngon ngủ yên.

Các tu sĩ trong cộng đoàn rất cảm kích trước tâm tình của người vui tươi khỏe mạnh vì lòng sám hối của anh đã trở thành lời ca tụng và cảm tạ tri ân tình yêu của Chúa.

3) GƯƠNG SÁNG TỪ BỎ MỌI SỰ ĐỂ CHUYÊN LO VIỆC NHÀ CHÚA:

Bà Thánh JEANNE-FRANCOISE CHANTAL (1572-1641) là một bà mẹ rất đạo đức. Sau khi chồng qua đời, bà lo nuôi dạy và lo liệu cho bốn đứa con nên người. Sau khi cả bốn người con đều lập gia đình và có cuộc sống ổn định, bà đã được Chúa kêu gọi hãy tận hiến cuộc đời còn lại để phục vụ những người nghèo khổ bệnh tật. Nhưng đến ngày từ giã gia đình lên đường thì cả bốn người con đều không đồng ý cho mẹ đi. Họ khóc lóc và nằm chận ở cửa nhà. Bấy giờ trong nước mắt nghẹn ngào, bà nói với các con : “Mẹ tuy là mẹ phải lo cho các con, nhưng mẹ cũng là con của Chúa phải lo việc nhà Chúa. Mẹ phải chu toàn bổn phận phụng sự Người đang hiện thân trong những người nghèo khổ bất hạnh». Nói xong bà đã bước qua các con để đi đến An-ne-cy, tiến hành việc thành lập một dòng tu. Đến tháng 6 năm 1610, dòng Thăm Viếng đã ra đời.

4) MỖI TÍN HỮU PHẢI TRỞ THÀNH ĐÔI TAY CỦA CHÚA:

Vào cuối thế chiến thứ hai, để thu phục thiện cảm và sự tin tưởng của người dân trong làng vừa mới được giải phóng khỏi tay quân đội Đức quốc xã, toán lính thuộc lực lượng đồng minh đã cố gắng phục chế bức tượng Thánh Tâm Chúa Giêsu đã bị bể tan tại quảng trường trước một nhà thờ nhỏ, là trung tâm sinh hoạt của một ngôi làng ở miền cực nam nước Ý.

Sau nhiều ngày cố gắng, toán lính đã gắn ráp lại hầu như toàn bộ bức tượng. Nhưng chỉ còn đôi tay của bức tượng là chưa thể hoàn tất do đã bị nát vụn. Sau nhiều giờ bàn luận và việc phục chế bức tượng sắp đi vào ngõ cụt, thì một người trong toán lính đã có sáng kiến. Anh ta mang tới hai khúc gỗ gắn vào hai tay của bức tượng, rồi viết vào đó một hàng chữ không những đã đánh động tâm hồn của dân làng, mà còn thu hút nhiều khách du lịch đến thăm. Hàng chữ ấy như sau: “Bạn chính là đôi tay của Chúa”.

Thực vậy, mỗi tín hữu chúng ta phải trở thành đôi bàn tay của Chúa, tiếp tục chu toàn sứ mạng được Chúa Cha trao phó là xây dựng Nước Trời, là loan báo Tin Mừng cứu độ của Chúa đi khắp thế gian, đến tận cùng bờ cõi trái đất.

5) SỨC MẠNH CỦA LÒNG TỰ TIN:

Một cậu học sinh kia luôn mang mặc cảm vì trên lưng có hai vết thẹo nhăn nhúm trông rất khó coi, kéo dài từ bả vai xuống đến eo lưng. Mỗi ngày khi đi học ở trường, cậu rất lo bị bạn bè phát hiện ra hai vết sẹo và chế nhạo… Nhưng rồi một ngày nọ, một số bạn bè cùng lớp đã tình cợ nhìn thấy vết sẹo trên lưng cậu bé và lên tiếng trêu chọc: “Eo ơi, ghê quá!” “A,…quái vật!” “Ôi, thật khủng khiếp!” Những lời vô tâm ấy đã làm đau lòng cậu bé. Cậu vừa khóc vừa chạy vào núp sau cánh cửa lớp. Rồi từ hôm đó cậu bé không dám đi học vì sợ bị lũ bạn chọc quê.

Sau khi hỏi han và biết được sự việc, mẹ cậu bé đã dắt con đến gặp cô giáo chủ nhiệm, vốn là một nữ giáo viên khôn ngoan và đôn hậu. Bà mẹ cho cô giáo xem vết sẹo của con và cho biết từ lúc mới sinh, cậu bé đã mắc khối u ở lưng. Qua cuộc giải phẫu khó khăn, cậu đã được chữa lành, nhưng đã để lại hai vết thẹo lớn trên lưng. Nói đến đó, người mẹ đã bật khóc.

Ngày hôm sau, cậu bé tiếp tục đến trường ngồi ở bàn cuối lớp, các bạn khác thấy thế, lại thốt lên những lời vô tâm: “Ôi, thật đáng sợ!” ; “Ghê quá, trên lưng cậu ấy có 2 con trùn to lắm.” Ngay lúc ấy, cô giáo chủ nhiệm xuất hiện và nghe thấy những lời trêu chọc ác ý, liền tiến lại gần cậu bé, đặt nhẹ tay lên vai nhỏ bé và mỉm cười nói với các bạn bè cùng lớp với câu: “Trước đây nhiều lần cô đã định kể cho các con nghe một câu chuyện về cậu bé này, nhưng có lẽ cô phải kể cho chúng con nghe ngay lúc này.” Các bạn trẻ đến vây quanh cô giáo. Cô nhẹ nhàng kéo chiếc áo của cậu bé lên làm lộ rõ hai vết thẹo lớn và nói với đám trẻ như sau:

“Đây là một truyền thuyết. Ngày xưa, các thiên thần trên trời đã bay xuống và hóa thân thành các bạn nhỏ như chúng ta đây. Tất nhiên, có thiên thần nhanh nhẹn đã kịp tháo gỡ đôi cánh của mình khi hóa thân thành người. Nhưng cũng có thiên thần hơi chậm, không kịp tháo hết đôi cánh của mình và đã để lại hai vết sẹo như trên lưng em này.”

Một em hỏi: “Vậy đó là cánh của thiên thần hả cô?” Cô giáo mỉm cười: “Đúng rồi!” Một bạn gái khác lên tiếng: “Thưa cô, chúng con có thể sờ được không?” Từ nãy đến giờ cậu bé vẫn đứng ngẩn người ra không nói được câu nào, và bây giờ thì cậu lại khóc. Nhưng cô giáo đã mỉm cười và diụ dàng nói: “Chúng ta phải xin phép vị thiên thần nhỏ của chúng ta trước đã phải không ?” Sau một lát chần chừ, cậu bé đã lấy lại sự bình tĩnh và đáp: “Vâng, được ạ ! Thưa cô. »

Các bạn nhỏ khác đều vây quanh cậu bé, hết bạn này đến bạn khác đến sờ vào “đôi cánh” ấy. “Ôi, tuyệt thật. Hôm nay con đã sờ được vào cánh của thiên thần rồi!”

Năm tháng dần trôi, người bạn nhỏ của chúng ta đã lớn lên thành người trưởng thành. Cậu vẫn thầm cảm ơn cô giáo đã đem lại cho cậu một niềm vui và một nghị lực mới. Cậu đã mạnh dạn đăng ký tham gia giải bơi lội học sinh cấp thành phố, và cậu đã đoạt giải. Cậu thầm cám ơn cô giáo, và cậu xác tín rằng vết thẹo trên lưng cậu thực là đôi cánh thiên thần mà cô giáo năm xưa đã tặng cho cậu với tất cả tình thương.

Câu chuyện trên cho thấy cô giáo đã thay đổi cái nhìn của học sinh của mình, nên đã biến đổi số phận của cậu học sinh có vết sẹo lớn ở lưng: Cậu đang bị mặc cảm tự ti đã tự tin và thành công trong cuộc sống… Trong Tin Mừng hôm nay Đức Giê-su đã kêu gọi bốn môn đệ từ bỏ nghề chài lưới bắt cá trở thành tông đồ học nghề chài lưới các linh hồn. Người cũng kêu gọi chúng ta đi theo làm môn đệ để trở thành những vị sứ giả đi loan báo Tin Mừng Nước Trời cho mọi người.

  1. SUY NIỆM:

1) Hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng:

Lời đầu tiên Đức Giê-su công bố khi khởi đầu sứ mạng loan báo Tin Mừng Nước Trời là: “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”. Đức Giê-su đã nối kết việc sám hối với việc rao giảng Tin Mừng. Sám hối chính là điều kiện phải có để đón nhận ơn Chúa, giống như trước khi bước vào mùa mưa, người nông dân phải làm vệ sinh lau chùi các lu vại sạch mọi bụi bẩn để có nước mưa dùng cho cả năm. Sám hối không nhất thiết kèm theo thái độ buồn sầu, nhưng là sự biến đổi tâm hồn để gặp được Chúa, lắng nghe lời Chúa để tin yêu Chúa và giới thiệu Người cho tha nhân.

2) Mau mắn đáp lại ơn kêu gọi của Chúa:

– Bài đọc trong sách ngôn sứ Giô-na hôm nay thuật lại câu chuyện Đức Chúa kêu gọi ông Gio-na làm ngôn sứ và sai ông đi giảng cho dân thành Ni-ni-vê hồi tâm sám hối tội lỗi để tránh bị trừng phạt. Lúc đầu Gio-na sợ trách nhiệm nên đã lên thuyền đi về hướng khác. Nhưng con thuyền đã gặp bão lớn, Gio-na bị quăng xuống biển và bị một con cá lớn nuốt vào bụng, rồi sau ba ngày nó nhả ông nằm trên bãi biển gần thành Ni-ni-vê. Giô-na đã vâng lời Chúa tiến vào thành phố đi một ngày đàng, rồi rao giảng rằng: “Còn bốn mươi ngày nữa, Ni-ni-vê sẽ bị phá huỷ”. Dân thành tin tưởng nơi Chúa: họ công bố việc ăn chay và mặc áo nhặm, từ người lớn đến trẻ nhỏ. Chúa thấy việc họ làm, vì họ bỏ đời sống xấu xa, Chúa bỏ ý định phạt họ, và Người không thực hiện điều đó (x. Gn 3,3-5.10).

– Tin Mừng hôm nay thuật lại việc  Đức Giê-su kêu gọi 4 môn đệ đầu tiên. Một là đôi anh em An-rê và Simon đang thả lưới dưới biển; Hai là đôi anh em Gia-cô-bê và Gio-an đang vá lưới trên thuyền. Các ông nghe lời Chúa kêu gọi đã mau mắn bỏ nghề đánh cá, bỏ lại cha già và những người làm công trên thuyền để đi theo làm môn đệ Chúa Giê-su.

– Ngày nay, Chúa Giê-su cũng kêu gọi các tín hữu chúng ta theo làm môn đệ Người bằng nhiều cách khác nhau: Người thì được Chúa gọi khi nghe một bài giảng trong thánh lễ; Người thì cảm phục gương sáng tốt lành, nghe lời khuyên của một linh mục hay một nữ tu thân quen; Người thì được ơn Chúa gọi sau một biến cố như cơn bệnh nặng, sau một thất bại, sau khi bị lừa đảo, ….

Còn chúng ta, sau khi nghe tiếng Chúa kêu gọi, chúng ta sẽ đáp lại thế nào: Lảng tránh trách nhiệm như ông Giô-na, hay mau mắn đáp lại như ông Sa-mu-en, sẵn sàng từ bỏ mọi sự để đi theo Chúa như bốn môn đệ trong Tin Mừng hôm nay ?

3) Tầm quan trọng của việc loan báo Tin Mừng:

Nếu thế giới được thu gọn thành một ngôi làng có 100 người, thì chúng ta sẽ dễ hình dung ra các thành phần trên thế giới theo lỷ lệ tương ứng như sau:

– Về dân số: 57 người thuộc Á Châu, 21 người thuộc Âu Châu, 8 người thuộc Phi Châu và 14 người thuộc các châu lục khác như Mỹ châu, Úc châu và châu Đại Dương.

– Về màu da: 30 người là da trắng; 70 người là da màu như da vàng, da đỏ, da đen.

– Về tôn giáo: 30 người là Kitô hữu gồm Công Giáo, Tin lành, Chính Thống, Anh giáo; 70 người thuộc các tôn giáo khác như Hồi giáo, Ấn giáo, Phật giáo, thần đạo hay không theo tôn giáo nào.

– Về của cải vật chất: 50 phần trăm của cải sẽ do 6 nhà tỷ phú, đều là người Mỹ chiếm hữu.

– Về trình độ tối thiểu: 70 người mù chữ không biết viết biết đọc.

– Về đời sống: 50 người thiếu ăn, bị suy dinh dưỡng.

– Về nhà ở : 80 người ở nhà ổ chuột không đủ tiêu chuẩn hay lang thang không nhà.

– Về văn hóa: Chỉ có một người là tốt nghiệp đại học!

Thực trạng nói trên cho thấy nhu cầu cấp bách của việc loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Vậy mỗi tín hữu chúng ta sẽ chu toàn sứ mạng loan báo Tin Mừng như thế nào?

4) Chu toàn sứ mạng loan báo Tin Mừng:

– Mau mắn đáp lại ơn Chúa kêu gọi: Đức Giê-su đã kêu gọi các môn đệ đi theo Người làm việc tông đồ: « Các anh hãy theo tôi. Tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” (Mc 1,17). Các ông đã lập tức bỏ nghề, bỏ cha già mà đi theo làm môn đệ Người.

– Loan báo Tin Mừng bằng lời nói và việc làm: Không những bằng việc rao giảng, mà còn bằng việc làm chứng nhân cho Chúa (x Cv 1,8), tích cực góp phần kiến tạo « Trời Mới Đất Mới » từ việc tu sửa bản thân, góp phần xóa bỏ các tệ nạn và bất công trong xã hội, xây dựng cho gia đình và khu phố ngày một an toàn sạch đẹp hơn, công bình nhân ái hơn theo ý Chúa muốn.

– Tin cậy vào sự trợ giúp của Chúa : Trước sứ mạng được Chúa trao phó, thay vì sợ hãi thoái lui như ngôn sứ Gio-na xưa, chúng ta hãy tin cậy phó thác vào ơn Chúa giúp như câu chuyện tông đồ Si-mon thả lưới bắt cá khi xưa. Bấy giờ Đức Giê-su bảo Si-mon : “Hãy ra khơi thả lưới bắt cá ». Si-mon thú nhận sự bất lực của mình rằng: “Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng dựa vào lời Thầy, tôi sẽ thả lưới” (Lc.5,5). Chính nhờ ơn Chúa, mà Si-mon đã bắt được nhiều cá, đến nỗi lưới hầu như bị rách. Qua đó cho thấy: về phạm vi đức tin: Nếu ta làm theo ý riêng sẽ bị thất bại. Nhưng nếu làm theo ý Chúa, chắc ta sẽ thành công như Si-mon xưa.

  1. THẢO LUẬN:

Trong những ngày này, mỗi người chúng ta cần làm gì cụ thể để giới thiệu Chúa cho các người thân trong gia đình, cho bà con lối xóm, và góp phần biến đổi môi trường sống và làm việc ngày một an toàn sạch đẹp hơn, công bình nhân ái hơn?

  1. LỜI CẦU:

LẠY CHÚA GIÊ-SU. Từ hôm nay con xác tín rằng: Chúa chính là chủ cuộc đời chúng con và con quyết tâm sẽ yêu mến Chúa trên hết mọi sự, sẵn sàng chọn Chúa hơn chọn tình cảm gia đình ruột thịt, hơn chọn công ăn việc làm theo sở thích chúng con… Xin cho chúng con ý thức sứ mạng phải tích cực làm chứng cho Chúa mọi nơi mọi lúc.

Để chu toàn sứ mạng, xin cho chúng con biết năng tham dự các buổi học sống Lời Chúa, chu toàn các công tác bác ái như: đi thăm bà con lương dân, chia sẻ tiền bạc vật chất cho những người nghèo khó, khiêm tốn phục vụ những người bệnh tật neo đơn, an ủi động viên những người đau khổ bất hạnh… Xin cho chúng con biết cảm thông với Hội Thánh bằng cách cộng tác với các vị chủ chăn đưa nhiều chiên lạc về với Chúa và Hội thánh, vì xác tín rằng: chỉ mình Chúa mới thực là niềm vui và là hạnh phúc cho cuộc đời chúng con.

X. HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ. XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

Về mục lục

.

CHÚA NHẬT 3 THƯỜNG NIÊN_B

Lm. Antôn

Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta biết trước khi ra đi thi hành sứ vụ rao giảng Tin mừng công khai, Chúa Giê-su đã làm hai công việc.  Thứ nhất là tuyên bố cho mọi người biết “Nước Thiên Chúa đã gần đến.”  Chúng ta thấy là trong bài Tin mừng hôm nay Chúa nói Nước Thiên Chúa đã gần đến, nhưng vào giữa thời kỳ rao giảng, Chúa tuyên bố Nước Thiên Chúa đang ở giữa anh em.  Chúng ta có thể nhận rõ sự khác biệt giữa hai câu tuyên bố của Chúa, đó là sự hiện diện của Chúa và những kết quả mà lời rao giảng của Chúa tạo nên là công lý, an bình, tình thương và hy vọng.  Nhưng muốn hưởng được kết quả đó thì con người phải sám hối và tin vào Tin mừng. Chúng ta biết sám hối không phải chỉ là một hành động ăn năn về những tội mình đã phạm, nhưng quan trọng hơn đó là phải quay trở về với Chúa như người con hoang đàng, cuối cùng phải tiến một bước xa hơn đó là tin theo và sống lời Chúa dạy. Chúng ta xác tín Chúa vẫn còn đang tiếp tục hiện diện giữa chúng ta và hướng dẫn chúng ta qua lời của Chúa.  Nếu chúng ta đang sống trong lo âu, sợ hãi và chưa có an bình, tình thương và hy vọng thì hôm nay Chúa kêu gọi chúng ta hãy sám hối và tin vào Lời Chúa.

Công việc thứ hai Chúa đã làm trước khi thi hành sứ vụ rao giảng Tin mừng là kêu gọi 4 môn đệ đầu tiên theo Chúa.  Thông thường thì môn sinh đi tìm thầy để học hỏi, nhưng ở đây chúng ta thấy chính Chúa đã đi tìm và kêu gọi các môn đệ, không phải chỉ 4 người mà tổng cộng 12 môn đệ đặc biệt mà chúng ta thường gọi là 12 tông đồ để đi theo Người, cộng tác với Người trong sứ vụ rao giảng và xây dựng Nước Chúa.   Chúng ta thấy con đường tin và theo Chúa của các môn đệ thời xưa không phải là dễ dàng, vì họ thật sự là những con người yếu kém, số vốn học vấn thì ít ỏi và danh vọng trong xã hội thì không có.  Họ chỉ là những người làm nghề nông và đánh cá không có khả năng thuyết phục và không có tài ăn nói như Giona.  

Chúng ta đã nghe câu chuyện Thiên Chúa gọi Giôna đi rao giảng lời Chúa cho dân thành Ni-ni-vê nhiều lần.  Thiên Chúa sai ông Giôna đi kêu gọi mọi người trong thành phố Ni-ni-vê ăn năn thống hối tội lỗi của họ.  Thành phố Ni-ni-vê là thủ đô của dân ngoại đạo As-si-ri-a, kẻ thù của dân Do thái.  Khi được Chúa kêu mời, Giôna đã thành thật thưa với Chúa “Lạy Chúa, con à, sao Chúa lại gọi con.”  Giôna biết mình không có khả năng học hành, không có tài hùng biện, thuyết phục hay giảng dạy.  Ông sợ sẽ bị dân chúng cười chê, nhạo báng, và hơn hết, ông sợ cho tính mạng của mình trong tay quân thù.  Vì vậy, Giôna đã xuống thuyền trốn đi, nhưng Thiên Chúa đã cho bão tố nổi lên, những người trên thuyền biết ông chạy trốn Thiên Chúa, sợ bị vạ lây, nên họ đã quăng ông xuống biển và bị cá ông nuốt vào bụng 3 ngày.  Sau đó, cá ông đã nhả Giô-na vào một hoang địa.  Giôna biết không thể nào từ chối và trốn chạy trước lời Chúa kêu gọi, nên đã khiêm nhường vâng lời.  Thật là một điều kinh ngạc, lạ lùng và khó tưởng tượng trước thái độ tin nhận, và hành động ăn năn, thống hối của dân chúng thành Ni-ni-vê  khi nghe lời Giô-na kêu gọi.

Nếu Chúa Giêsu muốn tuyển chọn những người cộng tác với Người trong sứ mệnh rao giảng Tin mừng ơn cứu độ và xây dựng Nước Chúa trần gian, những công việc to lớn và quan trọng, thì chúng ta nghĩ Chúa Giêsu phải chọn những người có danh vọng, tài giỏi, học thức và có uy tín, hay tìm những người có tài hùng biện, hoặc một người có khả năng lãnh đạo giỏi.  Nhưng Chúa không làm như vậy.  Chúa bắt đầu bằng 4 người đánh cá.  Sau đó, Chúa càng làm cho chúng ta sững sờ, chọn thêm 8 người khác, và nếu theo cái nhìn hay theo tiêu chuẩn của chúng ta, thì họ chẳng giống ai, có nghĩa là, họ không có tài năng gì xuất sắc về lãnh đạo hay không có danh vọng gì để lôi cuốn, thuyết phục người khác.  Họ được chọn từ đám đông quần chúng, giai cấp của những người lao động chân tay, không được mấy ai kính nể, coi trọng. Nếu nhìn kỹ vào từng con người của các tông đồ, chúng ta thấy họ cũng không thiếu gì các đam mê và tật xấu.  Có thể nói đây là nhóm tiêu biểu cho những người thấp kém trong xã hội.  Nhiều khi chúng ta thắc mắc tại sao Chúa lại mời gọi những người này?  Không biết Chúa có biết, có hiểu và thấy rõ con người của họ không?  Chúa thấy và thấy rất rõ, nhưng Người vẫn chọn họ, vì sao?  Vì tiêu chuẩn, đường lối của Thiên Chúa thì khác với đường lối và tiêu chuẩn của con người chúng ta.  Chúng ta phải lưu ý điểm tối quan trọng này là: điều Thiên Chúa cần ở họ không phải là quá khứ hay những gì họ đang có, nhưng là những người họ sẽ trở thành và những gì họ sẽ có.  Họ kém cỏi và nhiều khuyết điểm thật, nhưng với ơn sủng và sự giáo huấn của Chúa, họ sẽ được biến đổi để có khả năng thực hiện và chu toàn sứ mệnh, công việc của Chúa trao phó.  Thật sự, các tông đồ cũng nhận biết mình yếu kém nhưng các ông đã tin vào Chúa, quyết tâm theo Người và để Chúa biến đổi các ông.

Ông bà anh chị em thân mến. Câu chuyện ông Giôna và các tông đồ là một sự kích lệ và là một sự phấn khởi cho chúng ta, những người bình thường trong xã hội, những người yếu kém và có nhiều khuyết điểm.  Vì sao?  Vì ngày nay Chúa cũng kêu gọi tất cả mọi người chúng ta, không phân biệt nam nữ, già trẻ, tu sĩ hay giáo dân cộng tác với Chúa trong sứ mệnh rao giảng Tin mừng và xây dựng Nước Chúa. Có bao giờ chúng ta cầu nguyện với Chúa, xin Chúa chỉ bảo chúng ta phải làm gì không?  Xin Chúa ban cho chúng ta một tâm hồn rộng mở để lắng nghe lời kêu gọi của Chúa kêu gọi.  Có tấm lòng hy sinh, nhiệt thành, vui mừng và can đảm trở thành những cánh tay nối dài của Chúa trong công cuộc loan báo Tin mừng và xây dựng Nước Chúa. Chúa cần tấm lòng chân thành và quảng đại của chúng ta, và Chúa sẽ dùng quyền năng của Người để biến đổi những gì chúng ta đang có, để chúng ta có thể chu toàn sứ mệnh của Ngài trao phó.  Nếu chúng ta xác tín vào sự hiện diện và quyền năng của Chúa giữa chúng ta, chúng ta sẽ cảm nhận được sự an bình, tình thương và hy vọng của Chúa trong đời sống.  

Về mục lục

.

Chia sẻ thông tin
  • Print
  • Digg
  • StumbleUpon
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Yahoo! Buzz
  • Twitter
  • Google Bookmarks
  • email
  • Live
  • PDF
Copyright © 2018 HỘI DÒNG MẾN THÁNH GIÁ THỦ ĐỨC

Số 26 - Đường 6 - Khu phố 2 - P. Bình Thọ - Q. Thủ Đức - TP.HCM

ĐT : (028) 38960411. Email : hoidong@mtgthuduc.net hoặc mtgthuduc@gmail.com

Design by Thân Hữu

_*̡͌l̡*̡̡ ̴̡ı̴̴̡ ̡̡͡|̲̲̲͡͡͡ ̲▫̲͡ ̲̲̲͡͡π̲̲͡͡ ̲̲͡▫̲̲͡͡ ̲|̡̡̡ ̴̡̡ı̴̡̡*̡͌l̡*̡̡_

------------------------------------------------