Xem nhanh:Posts Comments

You Are Here: Home » Năm A » CÁC BÀI SUY NIỆM CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH. NĂM A_2017

CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH – Năm A

Lời Chúa: Cv. 8, 5-8. 14-17; 1Pr. 3, 15-18; Ga. 14, 15-21

———

 

Mục lục

1. Nhân danh Chúa Giêsu Phục sinh  (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên)

2. Sự sống mới  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

3. Yêu mến Thầy, thì hãy giữ các giới răn  (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

4. Người yêu mến  (Bông Hồng Nhỏ, Thanh Tuyển sinh MTG.Thủ Đức)

5. Cậy trông  (Lm. Trần Việt Hùng)

6. Giới luật yêu thương  (Lm. Tôma Nguyễn Hoàng Phượng)

7. Yêu và giữ luật  (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

8. Giáo hội Công giáo và Tông truyền  (Lm. GB. Trần Văn Hào, SDB)

9. Suy niệm Chúa Nhật 6 Phục sinh_A  (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

10. Nếu nói yêu Thầy mà không giữ lời Thầy là mâu thuẫn (Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển, SSP)

11. Thần Khí yêu thương  (Trầm Thiên Thu)

12. Thánh Thần – Đấng Bảo Trợ (JM. Lam Thy, ĐVD)

13. Hứa ban Thánh Thần (P. Trần Đình Phan Tiến)

14. Nếu con  (Anna Cỏ May, Thanh Tuyển sinh MTG.Thủ Đức)

15. Anh còn nợ em  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

16. Lời Chúa căn dặn  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

17. Yêu mến và giữ lời  (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

18. Tình yêu đích thật và tình yêu giả dối  (Lm. Inhaxio Trần Ngà)

19. Hiệp nhất trong tình yêu (AM. Trần Binh An)

20. Vững lòng tin yêu  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

21. Đấng Phù Trợ là Thánh Thần của Thiên Chúa  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)

22. Suy niệm Chúa Nhật VI Phục sinh. Năm A  (Lm. Anthony Trung Thành)

23. Thầy không để anh em mồ côi  (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

24. Ai mới thực sự yêu mến Chúa (Lm. Đan Vinh – HHTM)

25. Câu trả lời cho niềm hy vọng  (Lm. Gioan Nguyễn Văn Nghĩa)

26. Một cuộc sống mới (Lm. Giuse Nguyễn)

27. Yêu và giữ lời  (Huệ Minh)

28. Chúa Thánh Thần là hy vọng và là trạng sư (Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh)

29. Chúa Nhật 6 Phục sinh_A  (Lm. Antôn)

 

.

NHÂN DANH CHÚA GIÊSU PHỤC SINH

Gm Giuse Vũ Văn Thiên
.
Từ thuở sơ khai của Giáo Hội, trọng tâm lời giảng dạy của các tông đồ chỉ xoay quanh sự kiện Chúa Giêsu đã chết, đã sống lại và nay đang hiện diện giữa cộng đoàn những người tin. Các ông rao giảng điều này với niềm xác tín, và sẵn sàng lấy mạng sống của mình để chứng minh cho lời rao giảng của mình. Cũng như Chúa Giêsu thành Nagiarét khi còn sống trên trần gian đã làm những phép lạ để chứng minh quyền năng thiên linh của Người, các tông đồ cũng làm được những phép lạ để chứng minh điều các ông loan báo. Tuy vậy, nếu Chúa Giêsu làm những phép lạ bởi vì Người là Thiên Chúa, thì các tông đồ lại làm những phép lạ nhờ nhân danh Chúa Giêsu. Các ông đều xác tín một điều, các ông chỉ là dụng cụ của Chúa. Những điều kỳ diệu mà các ông có thể làm được là nhờ Đấng Phục Sinh đang hiện diện. Lời giảng dạy đầy xác tín của các tông đồ đã làm cho cộng đoàn tín hữu phát triển nhanh chóng, lan rộng sang cả những miền “ngoại giáo”. Tại Samaria, tông đồ Philipphê đã rao giảng và làm nhiều phép lạ, chữa nhiều chứng bệnh nan y khác nhau. Tác giả sách Công vụ Tông đồ đã diễn tả giai đoạn khởi đầu của Giáo Hội  rất lạc quan, vui tươi, hướng tới một viễn cảnh tốt đẹp (Bài đọc I).
 
Hai ngàn năm đã qua kể từ biến cố Phục sinh, cộng đoàn tín hữu, tức là Giáo Hội vẫn luôn tin rằng Đấng Phục sinh đang hiện diện và hoạt động. Cùng với Thánh Thần, Người đã hướng dẫn soi sáng và gìn giữ Giáo Hội trước phong ba bão táp của trần gian. Trong lời di ngôn của Chúa Giêsu vào cuối bữa Tiệc ly, Người đã kêu gọi các ông hãy tín thác nơi Chúa. Người cũng hứa sẽ không để các ông mồ côi. Chính Người sẽ ở với họ và ở giữa họ, mặc dù cách thế hiện diện của Người mang tính thiêng liêng vô hình. Cùng với Đấng Phục sinh, Thần Chân lý, tức là Ngôi Ba Thiên Chúa là ân ban của Chúa Cha, đến để ở cùng các môn đệ. Vai trò của Thần Chân lý là hướng dẫn Giáo Hội luôn đi theo sự thật, để rồi, giữa một cuộc đời đầy gian dối mưu mô mà vẫn luôn vững vàng. Nhân danh Chúa Giêsu, Giáo Hội vẫn đang làm những “phép lạ”, như những cánh tay nối dài của Đấng Phục sinh để đem tình thương cho người nghèo, bảo vệ người cô thế cô thân và nói lên tiếng nói chính nghĩa của mình.
 
Chuẩn bị mừng lễ Chúa Giêsu lên trời, chúng ta lại tiếp tục được nghe những lời căn dặn thân tình của Người dành cho các môn đệ: “Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ lời Thầy”. Tình mến dành cho Chúa và nỗ lực cố gắng để thực thi Lời Người có tương quan biện chứng với nhau. Trong bối cảnh ngày nay, có nhiều người mến Chúa nhưng chỉ là lòng mến ngoài môi miệng và ngôn từ. Khi gặp thử thách gian nan, lòng mến giả tạo sẽ như một lớp sơn bị nước mưa cuốn trôi. Lòng mến đích thực không nhằm tìm kiếm những vụ lợi, nhưng yêu mến Chúa vì Chúa tốt lành, vì Chúa là Cha, là Đấng tác tạo nên chúng ta. Đương nhiên, khi cầu nguyện, người tín hữu vẫn có thể cầu xin bình an, may mắn, sức khỏe, của cải, con cái vì đó là những lời cầu xin chính đáng. Người có lòng mến Chúa đích thực vẫn an vui và cậy trông khi gặp thử thách. Giữa những đau thương, họ vẫn nhận ra tình yêu của Ngài, và luôn một niềm trung tín cậy trông.
 
Ở mọi nơi và mọi thời, Giáo Hội luôn hành động nhân danh Chúa Giêsu Phục sinh. Trong quá khứ, có những lúc Giáo Hội tự quy chiếu về mình như đích điểm và trung tâm. Những lúc ấy, Giáo Hội chuốc lấy mọi thất bại, vì đã lấn át vị trí của Chúa để tôn vinh chính mình. Giáo Hội là ai nếu không phải là mỗi người tín hữu chúng ta? Vì thế, chúng ta phải phản chiếu hình ảnh Chúa Giêsu trong đời sống của mình, để rồi, qua những hành vi cử chỉ của chúng ta, mọi người nhận ra Đấng Phục sinh đang hiện diện. Qua lối sống tốt lành, khiêm tốn, chúng ta có thể “sẵn sàng trả lời thỏa mãn cho mọi kẻ hỏi lý do của niềm hy vọng” (Bài đọc II). Có biết bao câu hỏi đang được đặt ra liên quan đến sự hiện hữu của Chúa cũng như mục đích tối hậu của con người. Không thiếu những người còn mang đầy thành kiến với đức tin Kitô giáo. Có thể họ đã có lần chứng kiến những việc làm không tốt của người Công giáo, hoặc có thể hình ảnh về Giáo Hội nơi họ bị biến dạng, vì họ nghe tuyên truyền đến từ phía những người thù ghét Giáo Hội. Một cuộc sống yêu thương sẽ góp phần xóa đi những thành kiến ấy, đồng thời xây dựng mối thân thiện chan hòa, cùng hướng về Thiên Chúa là Cha chung của cả nhân loại.
 
Vinh dự của người tín hữu là được ở trong Chúa Giêsu và cùng với Người ở trong Chúa Cha. Khi được ở trong Chúa Cha, chúng ta tuy còn sống dưới thế mà đã được hưởng hạnh phúc Nước Trời. Một khi ở trong Chúa Giêsu, Chúa sẽ tỏ mình ra cho chúng ta, tức là chúng ta sẽ nhận biết Người và cảm nhận rõ nét hơn sự hiện diện của Người trong cuộc sống. Hãy sống và hành động nhân danh Chúa Giêsu, bắt chước Người như một khuôn mẫu hoàn hảo, để được nên đồng hình đồng dạng với Người.
.

.

SỰ SỐNG MỚI

Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

Nếu các Tin mừng Matthêu, Marcô và Luca mời gọi ta vào Vương quốc Thiên Chúa, thì Tin Mừng Gioan mời gọi ta vào tình yêu Chúa Giêsu Kitô. Thánh Gioan là người sống sau cùng. Sau khi đã nghiền ngẫm tất cả cuộc đời và những lời giảng dạy của Chúa Giêsu, thánh nhân nghiệm ra cái cốt lõi của cuộc sống người môn đệ là tình yêu chúa Giêsu Kitô, là kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô, là sống sự sống của Thiên Chúa.

Tình yêu đó không phải là thứ tình yêu mơ mộng lãng mạn nhưng là một tình yêu sàng suốt của lý trí.Tình yêu đó không phải là chuyện đuổi bướm, hái hoa, rung động, xúc cảm, nhưng là một tình yêu với những việc làm cụ thể. Việc làm cụ thể đó là tuân giữ những điều Chúa Giêsu truyền dạy.

Đó chính là bí quyết Chúa Giêsu truyền lại cho các môn đệ, trước khi người giã từ các ông để đi vào thế giới đức tin. Từ nay để gặp gỡ Người, để yêu mến Người, để sống với Người, cần phải có đức tin và tình yêu.

Tin và Yêu là đôi mắt giúp ta nhìn thấy những sự thực siêu nhiên. Người không tin và không yêu sẽ không nhìn thấy như lời Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng hôm nay: “Thầy ban cho anh em Thần chân lý, Đấng mà thế gian không thể đón nhận được vì thế gian không thấy và không biết Người”. Cũng như kiến thức ý khoa là khả năng chuyên môn giúp người bác sĩ nhận dạng được các loại vi trùng, định đúng được bệnh trạng của bệnh nhân; hoặc như kiến thức về thảo mộc củanhà thực vật học giúp họ nhận dạng phân loại và biết rõ đặc tính của những loải cây cỏ, tin và yêu cũng phải là khả năng chuyên môn giúp người môn đệ Chúa nhận ra những sự thực siêu nhiên, nhìn thấy, nhận biết và đón nhận Thiên Chúa.

Tin và Yêu, như vậy, là con đường dẫn đưa ta tới gặp gỡ Thiên Chúa.

Với đức tin và tình yêu, người môn đệ Chúa không còn thấy Thiên Chúa là một Đấng xa vời, mơ hồ, nhưng là một Đấng gần gũi, rất thật. Với đức tin và tình yêu ta sẽ gặp được Đức Chúa Cha, Đấng thương yêu, luôn chăm sóc cho ta, luôn mời gọi ta, luôn muốn ấp ủ ta, luôn muốn tha thứ cho ta.

Với đức tin và tình yêu, ta sẽ gặp được Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, trong Sách Thánh, trong những lời giáo huấn của Giáo hội và trong những anh em sống quanh ta.

Với đức tin và tình yêu, ta sẽ cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa Thánh Thần khi Người đốt lên trong tim ta ngọn lửa yêu mến, khi Người thúc đẩy ta dẫn thân phục vụ, khi Người soi sáng cho ta những sáng kiến trong những hoạt động mới.

Nhưng quan trọng nhất là: Tin và Yêu là hai cánh cửa mở vào sự sống thần linh. Tin và Yêu không chỉ cho ta nhìn thấy Chúa, gặp gỡ Chúa mà còn cho ta được tham dự vào sự sống của Chúa. Sự sống đó là hiệp thông, như lời Chúa Giêsu nói: “Ai có và giữ các giới răn của Thầy, người ấy là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến”.

Chúa Cha ở trong Chúa Con và như Chúa Con ở trong Chúa Cha, ta sẽ được ở trong sự sống mầu nhiệm của Thiên Chúa Ba Ngôi và thật kỳ diệu, Ba Ngôi đến ở trong ta. Ở trong người nào tức là được người ấy yêu thương. Hiệp thông trong yêu thương là một thái độ cởi mở: mở tâm hồn ra để cho đi và nhận lãnh sự sống. Nhờ Tin và Yêu, ta mở lòng ra đón nhận Thiên Chúa, sự sống mới, sự sống sung mãn, sự sống vĩnh cửu.

Đúng như lời Chúa Giêsu nói: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi”. Ai nhắm mắt đức tin, sẽ không nhìn thấy Chúa, sẽ trở thành mồ côi. Ai đóng cửa tình yêu, sẽ không gặp được Chúa, sẽ sống trong cô độc. Nhưng người môn đệ Chúa, nhờ có đức tin và tình yêu sẽ gặp được Thiên Chúa Ba Ngôi. Và như thế việc ta đi của Chúa Giêsu không những không thiệt hại mà còn ích lợi cho ta. Sự ra đi của Người dẫn ta đi đến kết hiệp với Thiên Chúa Ba Ngôi trong sự sung mãn, sự sống dồi dào.

Nhưng để đạt tới điều Chúa Giêsu đã hứa, ta hãy nhớ lại một lần nữa lời Người căn dặn: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em hãy giữ các giới răn của Thầy”. Đức tin được thể hiện bằng tình yêu. Tình yêu được chứng minh qua hành động. Đó là chìa khoá của đời sống Kitô hữu.

GỢI Ý CHIA SẺ

1- Theo bạn, tình yêu mến Chúa là những tình cảm bồng bột hay những việc làm cụ thể theo lý trí?

2- Có bao giờ bạn cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống không?

3- Bạn có cố gắng làm chứng cho người khác về sự hiện diện của Thiên Chúa qua đời sống cầu nguyện và bác ái của bạn không?

Về mục lục

.

YÊU MẾN THẦY, THÌ HÃY GIỮ CÁC GIỚI RĂN

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Khi đến « giờ Chúa Giêsu qua khỏi thế gian này để về cùng Đức Chúa Cha »  (Ga 13, 1) . Người đã dành cho các môn đệ những lời tâm huyết đầy tình Thầy trò. « Tối hôm trước ngày chịu khổ hình ». Chúng ta dễ hình dung ra thái độ nội tâm và đoán được sự lo lắng của các môn đệ trước giờ Thầy đi chịu chết.

Thực ra, nguyên những lời của Chúa Giêsu đã thể hiện mối lo sợ rồi. Người nói sẽ không để các môn đệ mồ côi, rõ ràng Người gợi lên nỗi buồn Thầy trò phải chia ly.

Câu hỏi đặt ra : ở trung tâm của mùa Phục sinh thật là vui, sao lại gợi lên những giờ đen tối chất chứa nỗi buồn ? Trước ngày lễ Ngũ Tuần, nghĩa là trước khi loan báo Tin Mừng cho Muôn Dân, tại sao lại cho chúng ta chứng kiến sự sợ hãi của các môn đệ ? Có lẽ vì bản văn giới thiệu Chúa Thánh Thần cho chúng ta. Vấn nạn vẫn còn đó. Chúng ta hãy cố gắng từng bước theo di ngôn của Chúa Giêsu.

« Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ giới răn Thầy » (Ga 14, 15). Lời di chúc này thật không đơn giản, có ý nói : các con yêu mến Thầy thế là đủ, vì nếu yêu mến tức khắc giới răn của Thầy sẽ được tuân giữ, có nghĩa là : khi yêu mến Chúa Giêsu, người ta sẽ tuân giữ các giới răn Chúa để lại là yêu mến Người. Có thế hiểu cách khác : nếu các con yêu mến Thầy, điều đó chứng tỏ rằng các con tôn trọng các giới răn Thầy truyền. Tôn trọng các giới răn là thể hiện lòng mến nên tuân giữ.

Lời của Chúa Giêsu nêu lên tương quan giữa các giới răn với tình yêu dành cho mình, nên Người kết luận : « Ai nhận các luật Thầy truyền và giữ các luật đó, thì người ấy là kẻ mến Thầy » (Ga 14, 21). Và Người cam kết : « Thầy sẽ xin Cha ». Nói thế là Người chịu trách nhiệp về những việc Người làm. Một cách chắc chắn và bảo đảm là ;  nếu Chúa Giêsu bênh đỡ chúng ta, chúng ta còn sợ hãi gì ?

Chúa Giêsu xin Cha điều gì ? Người xin Cha « ban cho các con một Đấng Phù Trợ khác » (Ga 14, 16). Khi nói Đấng Phù Trợ khác, Chúa Giêsu chứng tỏ sự lo lắng bảo vệ các môn đệ, và cho thấy Người là một Đấng Phù Trợ. Đó là lý do tại sao Người nói đến một « Đấng Phù Trợ khác ». Lời cầu xin của Chúa Giêsu còn ngụ ý nói rằng vụ án của Chúa qua đi sẽ tiếp đến một vụ án khác là chính các môn đệ bị kết án vì niềm tin của họ vào Chúa Giêsu bị đóng đinh và sống lại. Chúng ta hãy để ý đến thuật ngữ Đấng Bầu Chữa, Trạng Sư, hay Đấng An Ủi. Trong ngành tư pháp Do thái, vị luật sư hỗ trợ thân chủ của mình và tư vấn, vì khi bào chữa cho thân chủ là lúc luật sư cố gắng bảo vệ chính mình. Điều này ám chỉ về Chúa Thánh Thần. Ngài nâng đỡ các môn đệ trong hành động cũng như lời nói, « Chúa Thánh Thần sẽ dạy các con mọi sự » (Ga 14, 26).

Nhưng làm thế nào để biết được Ngài, đón nhận Ngài hay đơn giản là để thấy được Thần Chân Lý ? Khỏi phải lo, vì « thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết được Ngài » (Ga 14, 17). Chúa Giêsu thêm « còn các con, các con biết Ngài » (Ga 14, 17). Vậy là chúng ta an tâm. Nhưng điều đó có giúp chúng ta bám chặt vào Chúa Thánh Thần hơn không ? Chưa chắc. Chúng ta biết Ngài là Đấng Phù Trợ và cũng biết rõ Ngài chưa được đón nhận, vì Chúa Giêsu nói về tương lai là sẽ xin Cha : « Người sẽ ban cho các con một Đấng Phù Trợ khác, để Ngài ở với các con luôn mãi » (Ga 14, 16). Tuy nhiên, Chúa Thánh Thần đã được biết đến : « Còn các con, các con biết Ngài, vì Ngài sẽ ở nơi các con và ở trong các con » (Ga 14, 17). Ngài không chỉ được Chúa Cha ban cho chúng ta, mà Ngài còn ở trong chúng ta. Rõ ràng Chúa Giêsu không tự mâu thuẫn và không nói những gì là không thể. Thậm chí còn rất thú vị khi cầu nguyện cùng Cha để xin Cha ban Thánh Thần của Ngài xuống. Ngày Lễ Ngũ Tuần sắp tới sẽ là ngày Chúa Thánh Thần từ Đức Chúa Cha do Chúa Con xin mà đến và chúng ta lãnh nhận qua Chúa Con, lần nữa và một lần nữa.

Các môn đệ sợ bị bỏ rơi, tức là mồ côi. Chúa Giêsu tìm cách giúp các ông an tâm khi nói : « Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi, Thầy sẽ đến với các con ». Chúa Giêsu không đến với họ trong tư cách là Cha, vì Người là Con trong mối quan hệ với Cha. Trước lúc chia tay, nỗi lo sợ bao trùm lên các môn đệ, vì họ không biết sống như những người con ; họ biết mình mỏng giòn yếu đuối hay lo sợ về bí ẩn của cuộc đời. Nên Chúa Giêsu hứa ban Thần Chân Lý, Đấng làm cho cho họ trở nên những người con. « Trong ngày đó, các con sẽ hiểu biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, và các con ở trong Thầy, và Thầy ở trong các con » (Ga 14, 18). Trong ngày đó, là ngày Chúa Thánh Thần xuống trên các ông, ở với và trong các ôn mãi mãi, bằng sự hiện diện vô hình, sự sống làm con được phục hồi. Họ sẽ đón nhận hoa quả ơn cứu độ là Chúa Thánh Thần và họ sẽ nếm trước niềm vui cứu rỗi là làm conThiên Chúa.

Chúa Giêsu kết luận : « Ai nhận các luật Thầy truyền và giữ các luật đó, thì người ấy là kẻ mến Thầy. Và ai mến Thầy sẽ được Cha Thầy yêu mến, và Thầy sẽ yêu nó, và sẽ tỏ mình ra cho nó» (Ga 14, 21). Chỉ sợ hãi khi tách mình ra khỏi Chúa con và không nhận  biết tình yêu của Chúa Cha. Vậy, khi tuân giữ giới răn và lệnh Chúa truyền, các môn đệ được tham dự vào tình nghĩa tử với Chúa Cha. Chính Chúa Cha đến với con người trong Đức Giêsu và khi sai Thánh Thần xuống. Vai trò của Chúa Thánh Thần là giúp các môn đệ trở nên những chứng nhân cho lời Chúa Giêsu.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con nài xin Chúa xin Chúa Cha cử Chúa Thánh Thần đến với chúng con, và ở trên chúng con như đã ở với các môn đệ Chúa, những người sống nhờ Thánh Thần Chúa và vui mừng nhận biết chỉ có Chúa là ơn cứu độ chúng con : chúng con hướng về Chúa Cha và thưa rằng « Abba, Lạy Cha » .

Về mục lục

.

NGƯỜI YÊU MẾN

Bông Hồng Nhỏ

Tình yêu làm cho chúng ta lớn lên, giúp chúng ta có thể vượt qua mọi trở ngại trong cuộc sống. Có một tình yêu đẹp quả là một hạnh phúc lớn lao của con người. Khi tình yêu nơi ta bám rễ sâu và đủ trưởng thành, dù gặp sóng gió hiểm nguy cũng không sờn lòng nản chí, chẳng hề thoái lui và bỏ cuộc nhưng luôn tiến lên phía trước, thủy chung và son sắt tấm lòng.

Một chiều, ta bước đi miệt mài. Ghé vào quán nước, ta tìm hương trà ngày xưa cho thỏa nỗi nhớ mong. Tình cờ ta gặp một người bạn cũ. Hai người tâm sự rồi bạn mở lòng chia sẻ về sự khó bạn đang gặp. Chẳng là… bạn bị tình phụ. Quá đau đớn, vùng vẫy mà chẳng thể nào thoát ra được. Người ta bỏ bạn để đi theo một mối tình khác, còn trái tim bạn vẫn đầy ắp những hình ảnh tuyệt đẹp về họ. Ta ngồi đó, lặng lẽ lắng nghe, chia sẻ bằng ánh mắt cảm thông và thấu hiểu dù chẳng nói được những lời khuyên khôn ngoan.

Ta bước về trong bóng tối chập choạng. Lời Thầy từ đâu lại vang vọng trong tâm: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy.” (Ga 14, 15). Ta bước đi, lòng không thôi khắc khoải về Lời ấy. Lời ấy đánh động trái tim ta khiến cho tâm trí ta hướng mắt vào hồn mình để dò xét. Tình yêu ta dành cho Thầy bấy lâu nhạt quá. Hóa ra, ta cũng chẳng hơn gì người đàn ông phụ tình kia. Ta cũng bỏ rơi Thầy từng ngày trong vô tâm, ta hỡ hững dù Thầy vẫn ở kề bên.

Có bao giờ Thầy để cho ta mồ côi đâu. Chỉ là vì ta quá mải mê với những sự trần thế mà bỏ quên Thầy. Thầy vẫn chờ đợi ta mãi, chờ hoài và luôn ở đó. Chẳng phải, Thầy đã tự nguyện đón nhận lấy sự khó cho ta được sự bình an và hoan lạc. Thầy đã mang vào thân mình những thương tích để ta được lành lặn. Thầy yêu ta đến cùng. Nếu ta yêu Thầy, hẳn ta đã dành cho Thầy chỗ quan trọng nhất trong tâm hồn ta. Có bao giờ, ta tôn Thầy là Chúa ngự trị trong lòng ta như lời khuyên của Thánh Phêrô? Quả thật, thân ta mỏng manh dễ vỡ và tình của ta cũng mong manh quá đỗi.

Nhìn về phía các Thánh, ta thấy lòng khâm phục quá. Ngày xưa, thánh Phêrô cũng từng chối Thầy đến ba lần. Ông chối Thầy trong sự sợ hãi và quá hoang mang. Đức Giêsu phục sinh lại hỏi ông ba lần: “Anh có mến Thầy không?”, một cử chỉ tha thứ. Ông được Thầy tỏ cho một tình yêu quá đỗi tuyệt đẹp. Ông đã vứt bỏ đằng sau những yếu đuối và lầm lỗi của quá khứ để bước trên con đường Thầy dọn sẵn cho ông: chông gai và thử thách, bởi ông là môn đệ của Thầy mà môn đệ thì không hơn Thầy được.

Nếu chỉ nhìn về những lầm lỗi và giới hạn của bản thân để sợ hãi và thoái lui thì ta đã thất bại hoàn toàn. Chúa là Đấng giàu lòng thương xót và Ngài biết rõ sự yếu hèn của ta. Phải rồi, “Tình yêu không biết đến sợ hãi; trái lại tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền với hình phạt và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo. (1Ga 4,18). Kinh nghiệm của thánh Gioan dạy ta vượt lên trên sợ hãi. Chính thánh Phêrô cũng như các Tông đồ khác, các ngài đều kinh qua kinh nghiệm vượt lên trên sợ hãi và đón nhận một tình yêu viên mãn của Thầy.

Thiết nghĩ, nếu không có một sức mạnh nội tâm thì làm sao ta có thể vượt qua được mọi trở ngại của cuộc sống. Đường theo Thầy luôn có đó những gian nan và thử thách. Thử thách đến từ chính con người của ta. Bởi vậy Thầy đã chẳng dạy rằng: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta. (Mc 8, 34). Tình ta dù chẳng đẹp, thân ta dù yếu đuối, chỉ xin hai chữ “trung kiên” để theo Thầy. Sức mạnh nội tâm được kín múc từ những lần đến kề bên Chúa trong Bí tích Thánh Thể, từ những lần ta trao ban một cử chỉ yêu thương… Chính Chúa Thánh Thần- Đấng Bảo Trợ sẽ thánh hóa và làm mới tâm hồn chúng ta.  Chỉ khi đã bám rễ sâu trong tình yêu, ta mới có thể cảm nhận được mọi hương vị của tình yêu, tình yêu trong ta mới trưởng thành được. “Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến và sẽ tỏ mình ra cho người ấy.” (Ga 14, 21). Thầy vẫn tỏ mình cho ta mỗi ngày. Nào, ta hãy để hồn mình thật lặng lẽ để lắng nghe tiếng nói của Thầy, cảm nhận sự hiện diện gần gũi và nên một trong tình yêu của Thiên Chúa.

Quỳ trước Thánh Thể, ta dâng lên Thầy người bạn bị tình phụ mà vẫn chờ mong sự trở về của người yêu. Ta cũng dâng lên Thầy những ai đang yêu biết trân trọng mối tình mình đang nắm giữ. Đặc biệt, ta dâng lên Chúa mối tình ta dành cho Thầy. Tự trong tâm hồn, ta đón nhận một điều mới mẻ mà từ trước đến giờ ta đã sống mà nay mới kết thành lời: “Tôi tìm thấy một hình hài yếu đuối trong tôi và tôi tìm thấy một Tình Yêu đã hiến trọn cho tôi.”

Về mục lục

.

CẬY TRÔNG

Lm. Trần Việt Hùng

Trước khi từ giã ra đi,

Chúa thương nhủ bảo, thực thi đôi lời.

Các con yêu mến trong đời,

Giới răn bác ái, là lời Thầy khuyên.

Chúng con tuân giữ luật truyền,

Yêu Thầy kính Chúa, tinh tuyền trí khôn.

Thầy về cùng Chúa chí tôn,

Xin Cha chúc phúc, cho hồn ân thiêng.

Thánh Thần Phù Trợ thiêng liêng,

Người là Chân Lý, ơn riêng chữa lành.

Thế gian chẳng biết Thánh Danh,

Chúng con nhận biết, thực hành yêu thương.

Luật Thầy truyền giữ tỏ tường,

Mến yêu sự thật, mở đường ta đi.

Dù cho cuộc sống khó nguy,

Đồng hành bên Chúa, sợ gì thế gian.

Cuộc đời muôn nỗi gian nan,

Có Thầy yêu mến, chứa chan phúc lành.

Cậy trông phó thác chân thành,

Yêu người mến Chúa, rạng danh sáng ngời.

Chúa Giêsu trước khi từ giã các môn đệ, Ngài đã ưu ái nhắn nhủ và mời gọi các môn đệ hãy yêu thương nhau. Chúa ra đi, nhưng không để các ông mồ côi. Chúa biết khi Ngài rời xa, các tông đồ sẽ buồn phiền. Ngài hứa sẽ ban Thánh Thần đến để thêm sức và dậy dỗ các ông tất cả.

Không buồn sao được khi Chúa từ giã ra đi. Tuy rằng, Chúa chỉ vắng mặt nơi thân xác, nhưng tinh thần Chúa luôn hiện diện bên cạnh. Trước khi ra đi, Chúa đã dậy dỗ các môn đồ cách cặn kẽ. Chúa trao ban quyền năng để phục vụ và xây dựng Giáo Hội. Chúng ta biết các tông đồ là những người chài lưới sống ở vùng quê và ít học. Nhận lãnh trách nhiệm lớn lao trong việc truyền rao tin mừng cứu độ cho muôn dân.

Các tông đồ không thể cậy dựa vào sức mình. Với sự đơn sơ và lòng nhiệt thành, các ngài đã ra đi làm nhân chứng cho Chúa. Mười một trong số 12 tông đồ đã lấy chính máu đào của mình chứng minh niềm tin vào Chúa Kitô sống lại. Các ngài theo chân Chúa, thánh giá vác mỗi ngày. Biết bao chống đối, biết bao gian khổ và biết bao thăng trầm, các ngài đã từng bước vuợt qua và vươn tới.  Không chùn bước khi gặp gian nan thử thách. Nhờ đâu các ngài có được sự can đảm như thế? Đó chính là ơn Chúa Thánh Thần mà Chúa Giêsu đã hứa sai đến.

Vai trò Chúa Thánh Thần rất quan trọng trong buổi sơ khai của Giáo Hội. Lửa yêu mến của Thánh Linh đã rực cháy trong tâm hồn của các tín hữu thời sơ khai. Dầu bị cấm cách, bị thiêu đốt, bị giam cầm, bị bách hại liên tục, các ngài luôn kiên cường làm chứng nhân cho Chúa sống lại. Các ngài đã xứng đáng lãnh nhận triều thiên vinh quang.

Triều thiên phải đổi bằng giá máu. Phải phấn đấu và tín trung cho đến cùng đường. Ai trong chúng ta cũng muốn được hạnh phúc và được đội triều thiên. Truyện kể: Trong giấc mơ, có một bà thấy mình bước vào cửa tiệm và ngạc nhiên thấy Chúa ngồi tại quầy hàng. Bà hỏi: Ở đây Chúa bán những món hàng nào? Chúa trả lời: Có tất cả các món hàng mà con mong muốn. Ngỡ ngàng quá sức! Bà định mua tất cả sự bình an, tình yêu và hạnh phúc. Bà muốn mua cho con cái và cho mọi người nữa. Chúa cười và nói rằng chắc bà hiểu lầm rồi, tiệm này không bán hoa trái mà chỉ bán hạt giống mà thôi.

Chúng ta đã lãnh nhận hạt giống đức tin, đức cậy và đức mến. Chúng ta hãy làm nẩy sinh những hoa quả tốt đẹp trong cuộc sống. Hạt giống có trổ sinh nhân đức hay không, tùy thuộc cuộc sống nơi mỗi người chúng ta. Xin Chúa tràn đổ ơn lành giúp chúng ta sinh hoa kết trái tốt đẹp.

Về mục lục

.

GIỚI LUẬT YÊU THƯƠNG

           Lm Tôma Nguyễn Hoàng Phượng

Ông Hancok, người Mỹ, là một tín hữu đạo hạnh gương mẫu, nhất là nhiệt thành với việc truyền giáo. Vào thế chiến thứ II, gần nhà ông có một trung tâm huấn luyện quân đội. Hàng vạn lính Mỹ trong trại cần tới Tin Mừng Phúc Âm, nhưng viên chỉ huy không cho phép kẻ không phận sự được vào trại. Hancok nghĩ ra một cách để truyền giáo cho họ: Ông bỏ tiền thuê một hãng làm gương soi, ở mặt sau tấm gương ông cho in những lời này của Chúa: “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình để những ai tin vào con của Ngài thì không phải chết, nhưng được sống đời đời”. Bên dưới lời Chúa, ông còn in thêm lời chỉ dẫn này: “Bạn muốn nhìn người Thiên Chúa yêu, hãy nhìn ở mặt bên kia tấm gương”.

Thật là ý nghĩa tuyệt vời, khi mỗi người lính nhìn vào tấm gương đều thấy người Thiên Chúa yêu không ai khác mà chính là họ.

Như những người lính kể trên, mỗi người tín hữu chúng ta đều là người được Thiên Chúa yêu.

            – Vì yêu, Chúa dựng nên mỗi người chúng ta.

            – Khi chúng ta tội lỗi, Chúa không bỏ mặc chúng ta rơi vào hố sâu hỏa ngục, lại sai Con Một Ngài xuống thế làm người cứu chuộc nhân loại.

            – Vì yêu chúng ta, khi về trời, Ngài không để chúng ta mồ côi. Về trời rồi, Ngài sai Chúa Thánh Thần đến tiếp tục hướng dẫn ta.

            – Vì yêu con người, Chúa muốn con người được hạnh phcú, muốn được hạnh phúc, Ngài dạy con người phải tuân giữ giới răn của Ngài.

            Khi ban bố 10 giới răn của Chúa cho dân Do thái trên núi Sinai, Chúa sai ông Môisê nói với toàn dân rằng: “Ngươi hãy nói với toàn dân: ngày nào các ngươi tuân giữ giới răn của Ta, ngày đó các ngươi được hạnh phúc. Trái lại, ngày nào các ngươi không tuân giữ giới răn ta nữa, các ngươi sẽ trở thành người bất hạnh”.

            Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay cũng dạy chúng ta: “Nếu các ngươi yêu mến Thầy, thì các ngươi tuân giữ giới răn Thầy”. Giới răn của Chúa Giêsu chính là giới luật yêu thương.

            – Giới răn thứ nhất Chúa dạy: “Hãy yêu mến Chúa hết lòng, hết sức trên hết mọi sự”.

            Thật là bất hạnh cho con người, khi con người thay vì tôn thờ Chúa lại tôn thờ thụ tạo.

            Thật là bất hạnh cho con người, khi con người không giữa ngày Sabbat của Chúa.

            – Giới răn thứ hai Chúa dạy: “Hãy yêu mến anh em như chính mình ngươi”.

            Thật bất hạnh cho con người, khi con người không còn thảo kính cha mẹ.

            Thật bất hạnh cho con người, khi con người không còn tôn trọng nhau. Trái lại, tàn sát, giết chóc, gây chiến tranh.

            – Người mẹ đã từng dạy con: “Con đừng nghịch lửa kẻo phải bỏng, hoặc con đừng chơi dao kẻo đứt tay. Dạy như thế, người mẹ chỉ muốn sự lạnh, sự tốt cho con.

            – Thiên Chúa cũng chỉ vì yêu con người, nên dạy con người: Hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hãy yêu anh em như chính mình.

            Bao lâu con người giữ giới răn Chúa sẽ được hạnh phúc. Bao lâu con người không giữ giới răn Chúa sẽ trở thành kẻ bất hạnh.

            Truyền thuyết kể lại: Thánh Gioan tông đồ khi tuổi già sức yếu không đứng lâu giảng dài được nữa. Khi giảng Ngài chỉ khuyên giáo dân: “Anh em hãy mến Chúa, yêu người”. Giáo dân nghe mãi lời giảng ấy nên thưa: “Thưa cha, chúng con biết cha giảng gì rồi, cha đừng nói nữa”. Ngài nói: “Nếu chúng con giữ được lòng mến Chúa yêu người, như thế là giữ trọn luật Chúa rồi!”.

Về mục lục

.

YÊU VÀ GIỮ LUẬT

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Ba năm đi rao giảng cùng với các môn đệ, Chúa Giêsu đã dạy dỗ các môn rất nhiều điều, Ngài đã củng cố niềm tin của các Ngài bằng nhiều phép lạ, đặc biệt bằng gương sáng của chính Ngài…Hôm nay, tromg bữa ăn sau cùng, bữa tiệc ly với các môn đệ.Chúa Giêsu đã bộc bạch hết tâm sự của Ngài, và Ngài đã nói cho các môn đệ những lời tâm huyết, thâm sâu nhất. Ngài căn dặn các môn đệ :” Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy “.

Chúa căn dặn các môn đệ :” Mến Chúa yêu người “. Lời nhắn nhủ, căn dặn của Chúa Giêsu xưa với các môn đệ cũng là lời Chúa muốn mọi Kitô hữu ngày nay tuân giữ. Đạo Công Giáo do Chúa thiết lập là đạo tình thương. Bởi vì, thánh Gioan định nghĩa “ Thiên Chúa là tình yêu “. Yêu thương là chu toàn lề luật. Yêu thương là họa lại chính con người của Chúa. Mục đích cuối cùng của mọi lề luật nhằm giúp con người sống bác ái, quảng đại, xả kỷ đối với nhau. Chính vì thế, càng yêu thương, chúng ta càng chu toàn lề luật. Vì lề luật là để phục vụ con người, chứ không phải con người nô lệ lề luật. Nhưng, cuộc sống không phải ai cũng hiểu được như vậy, có những người đã dùng lề luật để đàn áp con người, có những người luôn dùng lề luật làm thước đo cho người khác, họ quên rằng lề luật trên hết mọi lề luật là yêu thương…Chúng ta nhiều khi cũng rơi vào tình trạng nệ luật: có khi chúng ta giữ luật để được người khác khen, để cho người lớn khen thưởng. Không giữ luật chúng ta sợ bị phạt, sợ bị khiển trách vv…Thái độ ấy và cung cách giữ luật ấy nhiều người mắc phải. Chúa Giêsu không muốn chúng ta giữ luật như thế mà Ngài muốn chúng ta trưởng thành, vững chắc và giữ luật vì tình yêu, chứ không giữ luật không ý thức, máy móc, không trưởng thành vì sợ hãi, vì sợ khiển trách, không được khen thưởng vv…

Lời Chúa hôm nay, giúp chúng ta hiểu rất rõ bởi vì khi xưa trong bữa tiệc ly với các môn đệ, Chúa Giêsu đã trút hết bầu tâm sự của mình, Ngài muốn các môn đệ yêu mến ngài thì phải giữ đạo, thực hành đạo với đức tin trong sáng.Chúa căn dặn các môn đệ cũng đồng thời truyền cho chúng ta tuân giữ” Mến Chúa yêu người “. Chúa ban cho chúng ta đức tin qua bí tích rửa tội.Được đức tin hướng dẫn chúng ta bám chặt lấy Chúa, hoàn toàn phó thác nơi Ngài :” Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa “ .Cuộc sống, sinh mạng của chúng ta hoàn toàn ở trong tay Chúa. Chúng ta tin Ngài, chúng ta sống đức tin. Có đức tin, chúng ta biết đạo, nên chúng ta giữ đạo, sống đạo vì yêu mến Chúa :” Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em phải giữ giới răn của Thầy”. Thực tế, trong đời làm con Chúa hằng ngày, chúng ta bắt gặp rất nhiều mẫu gương giữ đạo, sống đạo anh hùng. Một thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã sống hết mình vì tình yêu :” Trong Giáo Hội, con sẽ là Tình Yêu “. Một nữ thánh Têrêsa thành Calcutta đã sống phục vụ như Đức Giêsu, một thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã sống hết mình để củng cố “ đức tin cho Giáo Hội “ vv…Và còn biết bao nhiêu gương lành của các thánh và những Kitô hữu tốt lành.

Đoạn Tin Mừng này là những lời tạ từ của Chúa Giêsu trước khi Ngài rời bỏ các môn đệ để đi chịu nạn chịu chết. Các môn đệ tin vào Chúa Giêsu, Đấng là Thầy, là Chúa của các Ngài và tin vào Đấng phù trợ, là Thánh Thần mà Chúa Giêsu sẽ gửi đến :” Thầy không để các con mồ côi, Thầy sẽ trở lại với các con “.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con luôn tin tưởng vào tình yêu của Chúa và để chúng con luôn biết sống quảng đại phục vụ anh em.Xin Chúa cho chúng con biết tuân giữ lề luật một cách trưởng thành vì lòng yêu mến Chúa chứ không phải vì sợ phạt, sợ bị khiển trách, sợ bị trù dập. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1.Chúa Giêsu đã nói những lời tạ từ với các môn đệ ở đâu ?
2.Mến Chúa yêu người là gì ?
3.Giữ đạo và sống đạo khác nhau ra sao ?
4.Chúng ta nên giữ luật thế nào ?
5.Giả hình là sao ?

Về mục lục

.

GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VÀ TÔNG TRUYỀN

Lm. GB. Trần Văn Hào

Tuần trước, qua các bài đọc Lời Chúa, chúng ta đã suy niệm về mầu nhiệm Giáo hội với hai đặc tính: Duy nhất và thánh thiện. Chúa nhật tuần này, chúng  ta có dịp đào sâu thêm về hai phẩm tính khác của Hội thánh,đó là đặc tính Công giáo và đặc tính Tông truyền. Cả bốn thuộc tính nơi Giáo hội mà chúng ta vẫn đọc trong kinh tin Kính đều có một yếu tố căn bản duy nhất, đó là Thánh Thần, hay Thần Khícủa Đấng Phục Sinh và cũng làĐấng hằng làm việc trong Giáo hội.

Giáo hội với Công  giáo tính.

Chúa Giêsu đem ơn cứu độ đến cho mọi người, không phân biệt mầu da,chủng tộc, ngôn ngữ hay văn hóa.Thánh Phaolô đã viết: “Trong Đức Kitô,không còn phân biệt Do Thái hay HyLạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ(Gal 3,28). Vì thế trong Giáo hội,tất cả chúng ta đều được chia sẻ chung một phẩm giá,là được trở nên con cái Thiên Chúa,và được đồng thừa tự với Đức Giêsu. Câu chuyện được thuật lại trong bài đọc 1 minh dẫn về xác tín này. Tác giả sách Tông đồ Công vụ thuật lại giai thoại Tông đồ Philip đã xuống  miền Samari rao giảng và nhiều người ở đó đã tin, đã lãnh nhậnThánh Thần và đã chịu phép rửa nhân danh Chúa Giêsu(Cv8,14-17). Samari là vùng đất ngoại giáo.Người DoThái vẫn có mối thù truyền kiếp với cư dân Samari và quyết không độitrời chung với họ. Nhưng Thánh Thần đã tác động, nối kết những dị biệt lại, và hóa giải những xung khắc.Cư dân ở đây đã nghe Philipphê rao giảng về ĐứcKitô kèm theo những phép lạ mà vị tông đồ đã thực hiện. Cuối cùng nhờ Chúa Thánh Thần, họ đã được biến đổi.

Đặc tính Công giáo của mầu nhiệm Giáo hội được hiển thị rõ nét qua biến cố trên.Ngày nay, Giáo hội đã lan rộng đếnkhắpmọimiền trên khắp thế giới.

Giáo hội và tính Tông truyền.

Chúa Giêsu đã thiết lập Giáo hội trên nền tảng các Tông đồ. Trong sách Khải huyền, Thánh Gioan đã thuật lại thị kiến khi Ngài chiêm ngắm Thành Thánh Giê-ru-sa-lem được đặt trên 12 móng có khắc tên 12 Tông đồ của Con Chiên(Kh 21,14). Sau khi sống lại, Chúa Giêsu cũng ban năng quyền tha tội cho các Ngài trong ngày Phục sinh. Trong nhãn quan thần học của Thánh Gioan, sự kiện Chúa Phục sinh – và thiết lập Hội thánh chỉ là một thực tại duy nhất. Cũng tương tự,Thánh Luca mô tả Hội thánh tiên khởi tại Giê-ru-sa-lem luôn quy tụ chung quanh các Tông đồ và  lắng nghe lời dạy dỗ của các Ngài. Trong bài đọc 1 hôm nay,các Tông đồ ở Giê-ru-sa-lem nghe biết dân Samari đã đón nhận lời Chúa,liền cử hai ông Phêrô và Gioan đến với họ. Hai vị tông đồ này là đại biểu Tông đồ đoàn đến đặt tay trên họ để trao ban Thánh Thần.

Hội thánh của Chúa Giêsu không phải là một tổ chức dân sự theokiểu xã hội trần thế, đặt nền tảng trên tính dân chủ. Trái lại,mọi quyền bính được trao ban từ trên, khởi đầu từ Đức Giêsu.Đức Giêsu trao năng quyền cho các Tông đồvà các tông đồ chuyển giao lại cho các Mục tử là các Giám mục để các Ngài coi sóc các cộng đoàn.Trong Giáo hội, không bao giờ có chuyện một Giám mục được dân bầu lên, nhưng chỉ duy nhất một mình Đức Thánh Cha đấng kế vị Thánh Phêrô, mới có thẩm quyền bổ nhiệm Giám mục. Vì vậy, giáo luật quy định rất rõ ràng,bất cứ một vụ phong chức Giám mục nào bất hợp pháp(illicit), tức là không phải do Đức Thánh Cha ủy quyền, thì vị được tấn phong lẫn vị chủ phong đều bị vạ tuyệt thông tiền kết, cho dù bí tích vẫn thành sự(valid). Trong lịch sử Giáo hội, cũng đã từng xảy ra nhiều trường hợp như thế. Hiện nay,việc giải quyết những rắc rối tại Giáo hội Trung quốc vẫn còn khá nan giải, vì việc chọn Giám mục vẫn còn bị chính quyền trực tiếp can thiệp vào.

Tình yêu: thẻ căn cước của mọi tín hữu trong Hội thánh.

Sống trong Giáo hội là nhiệm thể Đức Kitô,mọi Kitô hữu phải mang nơi mình một thẻ căn cước (identity card) chung, đó là sống tình yêu thương. Đây là điều mà Chúa Giêsu đã đề cập đến trong bài Tin mừng hôm nay. Trong diễn từ ly biệt trước khi đi thụ nạn, Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ những lời tâm huyết khá dài về điều răn mới, là ‘Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu’. Để khai triển về luật yêu thương này, Chúa Giêsu đã mời gọi các môn sinh đi sâu vào tình yêu giữa Ngài với Chúa Cha như một nguyên mẫu. Đó không phải là những tình cảm hời hợt bên ngoài, nhưng đi sâu vào sự hiệp thông cách trọn vẹn,vì “Ai yêu mến Thầy thì sẽ được Cha Thầy yêu mến”.

Tình yêu là tên gọi của Thiên Chúa, và tình yêu cũng là thuộc tính căn bản của Ngài. Trong thư thứ nhất của Thánh Gioan,vị tông đồ đã xác tín điều này. Giáo hội là nhiệm thể Đức Giêsu,nên sự sống của Giáo hội là sự sống của tình yêu phát nguyên từ nơi Thiên Chúa. Vì thế,Chúa Giêsu đã nêu bật tình yêu thông hiệp giữa Ngài với Chúa Cha như một nguyên mẫu để mời gọi các học trò đi sâu vào cảm thức thánh thiêng, hầu sống sung mãn ơn gọi tình yêu. Bài diễn từ ly biệt của Chúa Giêsu khá dài đã được thánh Gioan thuật lại, nhưng quy tóm về một thực tại duy nhất đó là sống mầu nhiệm yêu thương như một giới răn mới. Đây là quy chuẩn duy nhất để nhận ra những ai là môn đệ của Đức Kitô và là những chi thể trong thân thể mầu nhiệm Ngài,là chính Giáo hội.

Kết luận

Tôi tin Giáo hội duy nhất, thánh thiện,công giáo và tông truyền. Đây là những xác tín mà chúng ta vẫn thường lập lại khi đọc kinh Tin Kính. Sống trong một Giáo hội hữu hình với các cơ cấu hay phẩm trật, tất nhiên chúng ta dễ nhận ra những giới hạn do bản tính mỏng dòn của con người. Nhưng chúng ta vẫn thuộc về Giáo hội vô hình, một thực thể duy nhất, một dân tộc thánh thiện được khai sinh từ Đấng Phục sinh và cũng là đền thờ Giê-ru-sa-lem được xây trên nền móng 12 Tông đồ. Xác tín như thế sẽ làm tăng triển cảm thức thuộc về Giáo hội để chúng ta chung tay góp sức xây dựng nhiệm thể Chúa Giêsu ở trần thế, một cách cụ thể ngay tại Giáo hội địa phương mà chúng ta đang thông dự vào.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH_A

Lm. Giuse Đinh Tất Quý

“Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy”(Ga 14,21)

Tâm tình của Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay là tâm tình của một người sắp ra đi. 

A. Chỉ  còn một ít nữa thế gian sẽ không còn thấy Thầy.(Ga 14,19)

Lời tuyên bố của Chúa quả thực làm cho các môn đệ của Ngài hoang mang. 

Thế nhưng đây mới chỉ là một vế trong sự bộc lộ về tương lai của Chúa chứ chưa phải là tất cả. 

Vế thứ hai quan trọng hơn, an ủi hơn “Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi. Thầy sẽ đến với các con. Các con sẽ thấy Thầy vì Thầy vẫn sống và các con cũng sẽ sống”(Ga 14,18) 

Những lời này sẽ được cụ thể hóa sau khi Chúa từ cõi chết sống lại. 

Chắc hẳn anh chị em hãy còn nhớ cách thức sinh hoạt của Chúa sau biến cố Phục Sinh như thế nào. Thánh Phaolô bảo là cuộc sống đó đã được biến đổi. Biến đổi để có thể, nói theo kiểu của cha Teihard de Chardin có mặt “tràn ngập, tràn lan, phủ đầy” khắp nơi một cách cụ thể còn hơn cả lúc Chúa chưa về trời như chính lời Chúa đã xác nhận: “Thầy sẽ ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế”. 

Bằng cách nào? 

a/ Trước hết bằng Bí tích Thánh Thể. 

 Với Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu hiện diện tràn lan khắp địa cầu, qua đó con người có thể nhận ra Chúa đang thật gần gũi với mình.

b/ Qua hoạt động của Đấng phù trợ: Chúa Thánh Thần vẫn tiếp tục công viêc mà Chúa Giêsu đã khởi sự. 

c/ Và mỗi khi một cộng đoàn yêu thương được hình thành “Ở đâu có hai ba người họp nhau lại để cầu nguyện thì có Thầy ở giữa” 

B. Vấn đề còn lại là làm sao chúng ta có thể nhận ra được sự có mặt của Chúa trong cuộc đời của chúng ta?

Đây là cách thức chính Chúa đã chỉ cho chúng ta: “Ai đón nhận luật Thầy truyền và giữ các luật đó thì người ấy sẽ là kẻ mến Thầy và ai mến Thầy sẽ được Cha Thầy yêu mến và Thầy sẻ tỏ mình ra cho người ấy”(Ga 14,21) 

Như vậy là bằng cách sống Lời của Chúa, chúng ta sẽ gặp được Chúa. Chúa sẽ tỏ mình ra cho chúng ta.

Nhà văn hào Léon Toilstoi, có viết lại một câu chuyện rất cảm động về một ông già nhà quê tên là Martin Avdiéitch làm nghề đóng giầy. Bác sống một cuộc đời rất hạnh phúc bên vợ con. Nhưng thật là không may cho bác. Ngoại trừ đứa con trai nhỏ còn tất cả vợ con bác đã bị chết trong một tai nạn bất ngờ. Thật là một đau khổ lớn lao. Tuy đau xót nhưng cũng may là còn một đứa sống sót an ủi bác. Thế nhưng như người đời thường nói: “Họa vô đơn chí”. Đứa con trai duy nhất của bác sau đó lâm bệnh và cuối cùng đã vội bước vào thế giới bên kia. 

Martin tuyệt vọng. Bác trách Thiên Chúa và muốn kết thúc cuộc đời của mình. 

May thay, vào ngày lễ Chúa Thánh Thần năm đó, một người bạn thân trên đường đi hành hương ghé qua thăm. Bác đem câu chuyện đau buồn của gia đình ra kể. Khi nghe xong, người bạn đã nói với bác: 

– Chúng ta không có quyền xét đoán Thiên Chúa về những gì Ngài làm. Ngài đã định cho vợ con anh chết. Còn anh thì anh phải sống và như thế thì tốt hơn. Sở dĩ anh thất vọng và muốn chết như thế là bởi vì anh chỉ muốn sống cho bản thân, cho hạnh phúc riêng tư của anh thôi…..” 

– Vậy thì tại sao người ta phải sống? 

+ Chính cho Thiên Chúa mà người ta phải sống. Khi anh bắt đầu sống cho Ngài, anh sẽ không còn buồn phiền và anh sẽ có sức mạnh để vượt qua tất cả”. 

Martin im lặng một lúc rồi hỏi 

– Làm thế nào để sống cho Thiên Chúa? 

+ À thì chính Chúa đã chỉ. Anh hãy mua một cuốn Thánh Kinh và hãy đọc ở trong đó, anh sẽ biết cách phải sống cho Thiên Chúa thế nào. 

Bác đi mua ngay một cuốn Tân Ước và mỗi ngày bác đọc. Càng đọc, bác càng cảm thấy thấm thía. 

Một buổi tối kia sau khi đọc xong, bác miên man suy nghĩ về những gì mình mới đọc. Suy nghĩ được một lúc thì tự nhiên bác cảm thấy thiu thiu muốn chợp mắt. Vừa thiu thiu muốn chợp mắt đi thì tự nhiên bác nghe thấy như có ai gọi mình: 

– Martin! 

Bác giật mình đứng dậy hỏi thật lớn: 

– Ai đó? 

Và bác nghe như thấy có tiếng bảo: 

– Martin ơi! Ngày mai hãy nhìn ra đường. Ta sẽ đến thăm ngươi. 

Sáng hôm sau bác dậy sớm, chuẩn bị nhà cửa gọn gàng khang trang rồi vừa làm việc vừa ngó ra đường qua tấm cửa kính đã được chùi sạch. 

Mãi mà không thấy ai gõ cửa, mặc dầu có rất nhiều người qua đường. 

Đến khoảng 9 giờ thì bác thấy một người bạn cũ là bác Nicolai. Bác khá già. Không vợ con. Bác phải làm nghề dọn tuyết để tự nuôi sống mình. Thấy bác mệt nhọc mà trời lại quá lạnh. Martin mời bác vào trong nhà, pha trà mời bác Nicôlai dùng. Cả hai sống với nhau những giờ phút thật ấm cúng và đầy tình thương. 

Sau đó Bác Nicôlai từ giã rồi ra đi. Bác Martin tiếp tục công việc nhưng đôi mắt không quên nhìn ra cửa. 

Một người đàn bà còn trẻ, ăn mặc rách rưới ẵm đứa con đi qua. Bác Martin nghe thấy tiếng đứa trẻ khóc và mẹ nó tìm cách dỗ nó nhưng không thành công. Bác vội vàng đứng dậy mở cửa lớn tiếng gọi: 

– Bà kia! Tại sao ẵm con ở ngoài trời lạnh thế? Vào đây…Hãy ngồi gần lò sưởi và cho con bú! 

– Thưa bác cháu không còn sữa vì từ chiều hôm qua đến giờ cháu không có gì ăn. 

Bác Martin đi vào bếp, đem tất cả những gì bác có đưa đến cho người đàn bà. 

Chị kể cho Bác nghe tất cả những sự vất vả chị phải chịu. 

Sau khi đã chuẩn bị đủ đồ lạnh cho hai mẹ con, Bác tiễn hai mẹ con ra đi và không quên dúi vào tay người đàn bà một tờ giấy bạc 20 đồng để khi cần chị có thể dùng. 

Chiều đến một bà già bán táo đi ngang qua. Lưng bà còn đeo theo một bó củi có lẽ bà đã kiếm được ở đâu đó. Tình cờ một thằng bé xuất hiện, lấm la lấm lét chộp lấy một quả táo và định tháo chạy nhưng không may cho nó, bà già đã nhanh tay hơn và nắm được nó. Hai người ở trong một thế phải đấu tranh. 

Martin ra can thiệp. Ông xin bà cho ông được trả tiền quả táo và ông trao quả táo cho thằng bé trước sự ngỡ ngàng của nó. 

Trời đã tối nhưng ông cũng vẫn còn chờ. 

Trong lúc như nửa tỉnh nửa mơ, Bác Martin thấy có người xuất hiện trước mắt. 

  – Bác Martin này, bác có nhận ra tôi không? 

  – Nhưng người là ai vậy?. Bác hỏi. 

Một bóng người vụt qua mắt bác. Đó là bác Nicôlai, người dọn tuyết. 

Và một tiếng khác: “và cũng chính là tôi đây”. Rồi từ góc nhà hiện ra khuôn mặt của bà mẹ và đứa con. Bà mẹ mỉm cười và đứa bé cũng mỉm cười. Rồi hình họ cũng tan biến. 

“Và cũng chính là ta”. Lại một tiếng nói nữa. Đó là bà già bán táo và thằng bé. Cả hai đều cười và rồi cũng biến đi. 

Martin cảm thấy sung sướng. Ông làm dấu thánh giá, đeo kính vào và đọc tiếp đoạn Kinh Thánh ông đang đọc dở dang: “Ta đói, các người đã cho Ta ăn. Ta khát ….” 

Ở cuối trang ông dừng lại thật lâu ở những dòng chữ này: “Những gì các ngươi làm cho một một người bé nhỏ trong các anh em của Ta đây là các ngươi đã làm cho chính Ta” (Mt 25).

Ông tự nghĩ trong lòng: Giấc mơ đã không đánh lừa ông. Và ông đã không lầm khi nghĩ rằng chính Chúa đã đến nhà ông và ông đã được đón tiếp Ngài.

Về mục lục

.

NẾU NÓI YÊU THẦY MÀ KHÔNG GIỮ LỜI THẦY LÀ MÂU THUẪN

Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển

Khi nói đến tình yêu, ai cũng biết nó là một khái niệm trừu tượng, vô hình, không thể nhìn thấy bằng giác quan. Tuy nhiên, nó lại hiện diện trong những gì là hữu hình. Nếu không chấp nhận sự hiện hữu của nó qua hành động thì tình yêu không còn chỗ đứng đúng nghĩa. Cũng thế, tôi không thể yêu một cái gì đó, như bông hoa, con chim… mà trước đó tôi không hề biết gì về nó hay không hề có một khái niệm nào về chúng. Còn khi nói về tình yêu giữa người với người, chúng ta không thể nói tôi yêu người này, người kia mà tôi lại chưa một lần nghe kể, giáp mặt với người đó! Yêu nhau, chẳng lẽ lại bảo tôi yêu trong tư tưởng, tôi yêu trong khái niệm…??? Khi nói về tình yêu, chúng ta không có một định nghĩa nào mang tính chuẩn mực cho mọi tình huống, nhưng chỉ có một điều cụ thể: tình yêu là tổng hợp của cả hồn lẫn xác.

Hôm nay, bài Tin Mừng cho thấy, Đức Giêsu làm một cuộc trắc nghiệm và cũng như một điều kiện để biết được tình yêu của các môn đệ và cũng là của mỗi chúng ta với Ngài đang ở trong tình trạng như thế nào?.

  1. Yêu mến và giữ Lời Chúa

“Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14, 15). Lời nhắn nhủ này mang đượm tình nghĩa Thầy trò và có giá trị thiêng liêng khi mà tình cảnh chia ly sắp xảy ra với Đức Giêsu và các môn sinh trên bình diện tự nhiên để chuyển dần sang khía cạnh siêu nhiên.

Kẻ đi, người ở, biết bao là luyến tiếc, nhớ thương! Tuy nhiên, để hình ảnh của Thầy không bị lu mờ; tinh thần của Thầy không rơi vào quên lãng thì việc làm cho lời của Thầy sống động trong cuộc đời qua hành vi của mình là điều quan trọng. Chính vì thế, Đức Giêsu nói: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14, 15).

Yêu, giữ và thực hành lời của ai, thì cho dù người đó không còn hiện hữu trên bình diện tự nhiên, thì khí cạnh siêu nhiên họ vẫn sống qua cuộc đời và nơi hành vi của người yêu còn sống. Cũng vậy, khi các môn đệ yêu mến và giữ lời Đức Giêsu truyền dạy, thì các môn đệ trở nên hiện thân của chính vị Thầy mà mình là những người đang tiếp bước.

Quả thật, như một hệ luận, khi lắng nghe và giữ lời của Đức Giêsu, ấy là lúc các môn đệ được đi vào trong trung tâm của tình yêu. Được trở nên những người công chính và Thiên Chúa sẽ công chính hóa những ai yêu mến Lời của Đức Giêsu cách trung thành và đầy lòng mến.

  1. Yêu và hành động

Yêu mến…. thì sẽ thực thi…. phải luôn gắn liền với nhau. Yêu mến Đức Giêsu thì hẳn phải thực thi lệnh truyền của Ngài, mà lệnh truyền đó đã được Đức Giêsu gói trọn trong hai giới răn: “Mến Chúa và yêu người”. Yêu mến Thiên Chúa và thương yêu anh em đồng loại là hai mặt của một tình yêu. Thánh Gioan đã nói rất rõ: “Ai nói rằng mình biết Người mà không tuân giữ các điều răn của Người, đó là kẻ nói dối” (1 Ga 2, 4).

Đức Giêsu không chấp nhận một tình yêu trên bình diện lý thuyết, từ chương, hay một thứ tình yêu “cưỡi mây về gió”; hoặc“mông lung”. Vì thế, đã có nhiều lần Đức Giêsu phản đối những kinh sư và người Phrisêu: “Dân này Kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” (Mt 15, 8); hay khi nói về tình yêu giả tạo, hào nhoáng, hình thức, Ngài nói: “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Phrisêu giả hình! Các người giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế” (Mt 23, 27), bởi vì họ là những người“ngôn hành bất tất”.

Như vậy, Đức Giêsu căn dặn các môn đệ là phải yêu và thực hành tình yêu đó cách chân thật, vô vị lợi, dán chấp nhận hy sinh vì người mình yêu. Tình yêu đó được chính Đức Giêsu đã hành động, đi qua và Ngài đưa ra lời mời gọi: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13, 34). Yêu như chính thầy là gì, nếu không phải là một tình yêu tự hủy, khiêm tốn, phục vụ và hiến dâng mạng sống vì người mình yêu.

Tình yêu của Đức Giêsu là tình yêu của người Tôi Trung với Thiên Chúa Cha và chiếu tỏa trên tha nhân trong vai trò là Đấng Cứu Chuộc.

Cùng một con đường, chung cách thể hiện, Đức Giêsu cũng mời gọi các môn đệ tiếp bước trên con đường mà Ngài đã đi, để tình yêu đó được nối dài, sống động và phong phú chứ không phải thứ tình yêu đóng khung, cứng ngắc.

Khi yêu như thế, các môn đệ đi vào trong một quỹ đạo của một tình yêu lớn hơn, được sống trong đó và tận hưởng tình yêu một cách sung mãn:“Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy và sẽ tỏ ra cho người ấy biết Thầy” (Ga 14,21). 

Như vậy, chữ “nếu” không có nghĩa rộng là thích thì làm, không làm cũng chẳng sao. Nhưng chữ “nếu ” mà Đức Giêsu muốn nói ở đây phải hiểu theo nghĩa hẹp, tức là điều kiện thiết yếu, không có không được. Chữ“nếu” ở đây liên kết hai mặt của một tình yêu, nó đóng vai trò trung gian duy nhất để như một điều kiện cần phải có: “yêu Chúa”  “giữ lời Ngài”để từ đó phát sinh hệ luận là “yêu tha nhân như chính Thầy” (x. Ga 13, 34).

Như vậy, Đức Giêsu xác định thật rõ rằng: tình yêu chân chính thì phải được biểu lộ qua hành động. Không thể yêu cách vu vơ, chung chung…

  1. Sống lời dạy của Đức Giêsu trong đời sống kitô hữu

Thánh Giacôbê đã nói: “Đức tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2, 26). Tin Chúa, đi theo Chúa và yêu mến Chúa thì phải giữ lời và thi hành những gì Ngài truyền dạy. Đây là một điều khó khăn, không dễ. Nó đòi hỏi con người phải cố gắng, phải từ bỏ và phải yêu mến lời thực sự:“Gặp được lời Chúa, con đã nuốt vào, Lời Ngài làm cho con hoan hỷ, làm vui thoả lòng con, vì con được mang danh Ngài” (Gr 15,16).

Sống trong thời buổi ngày nay, chúng ta cần phải trung thành với lời Chúa và can đảm thực thi Lời ấy trong cuộc sống, làm cho lời Chúa trở nên thực sự sống động qua cuộc đời chứng tá của mỗi chúng ta. 

Ngày chúng ta lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy, chúng ta thuộc về Đức Kitô. Trở thành môn đệ của Ngài. Như thế, điều mà Đức Giêsu muốn các môn đệ khi xưa cũng là điều mà Ngài muốn mỗi người chúng ta thi hành.

Thật vậy, chúng ta không thể nói yêu Chúa trên đầu môi chóp lưỡi. Yêu như thế là tình yêu giả tạo. Yêu như thế là chúng ta đang xúc phạm đến bản chất của tình yêu giữa ta với Đức Giêsu. Ca dao tục ngữ Việt Nam có câu:  

“Thương thương nhớ nhớ thương thương,

Nước kia muốn chảy mà mương chẳng đào”. (Ca dao)

Nói yêu, nhưng không khai thông tình yêu đó bằng hành động thì chỉ như là một thứ tình yêu đất đá mà thôi.

Tuy nhiên, trái tim trai cứng, vô cảm này lại quá nhiều trong thời đại chúng ta. Nếu có ai đặt một câu hỏi: “Ông, bà anh chị em có yêu và tin Chúa không?” Có lẽ nhiều người trả lời là “có”, nhưng cũng không ít người khinh thường người hỏi, vì cho rằng câu hỏi đó vớ vẩn! Có đạo mà lại không yêu Chúa thì phải chăng là người dở hơi! Nhưng nếu hỏi tiếp: “Vậy ông bà, anh chị em, giữ đạo hay sống đạo?” Tới đây, chúng ta bắt đầu khựng lại và có lẽ cảm thấy xấu hổ vì nhiều khi niềm tin của chúng ta ở trong chứng minh thư, trong sổ rửa tội, còn ở trong tâm, được thể hiện qua hành động thì ít lắm.

Một Giáo xứ toàn tòng Công Giáo, tức là 100% người theo đạo, nhưng nếu giữ đạo được khoảng 60% là tốt lắm rồi, con sống đạo đúng nghĩa, có lẽ đếm trên đầu ngón tay!

Đây là một thực trạng thật tại Việt Nam chúng ta.

Đến đây, xin được kể một câu chuyện có thật của một vị linh mục đã trọng tuổi, ngài sống ở Mỹ. Sau 50 năm, ngài mới trở về Việt Nam lần đầu, và nhân dịp gặp gỡ chúng tôi, ngài kể: “Cách đây 50 năm, tại đất nước Mỹ, người ta có lòng sùng đạo. Nhà thờ được xây cất rất nhiều, các cuộc rước linh đình, lòng sùng đạo rất tốt. Nhìn chung, tình hình giữ đạo rất giống Việt Nam hiện nay.

Tuy nhiên, vào thời điểm này, sau 50 năm, nhiều nhà thờ đã không còn có người đi lễ nữa. Nhiều dòng tu cũng vắng dần các ơn gọi trẻ. Đã có những nhà thờ và dòng tu phải bán đi vì không có tiền đóng thuế. Các linh mục phải đi theo họ đến những nơi du lịch để giải tội và dâng lễ. Nhiều Chủng Viện gom lại thành một, mà số lượng chủng sinh vẫn chỉ đếm trên đầu ngón tay. Nếu có ai siêng đi lễ thì đôi khi nhận được những lời dè bửu và cho là bất thường. Những người được coi bình thường là cả đời người ta đến nhà thờ 3 lần: một lần Rửa Tội; lần khác là lễ cưới; và lần cuối cùng là chết. Trong ba lần đó, hai lần thụ động, tức là lúc Rửa Tội và lúc chết, còn một lần chủ động là lễ cưới. Điều đáng nói là dân Mỹ coi đây như là một thủ tục phải có trong đời mà thôi, và họ cho rằng mình thuộc thành phần bình thường”.

Sau đó, ngài đưa ra nhận xét: “Nếu Giáo Hội Việt Nam không coi đó là kinh nghiệm cho chính mình, không tập trú vào việc đào tạo lương tâm, không có những hoạt động phù hợp… nhằm giúp cho con cái mình sống đạo chứ không chỉ giữ đạo, thì tình trạng của Giáo Hội Mỹ cũng là hình ảnh, thực trạng của Giáo Hội chúng ta trong tương lai???”.

Đến đây, xin để lại nơi bạn và tôi câu hỏi: “Bấy lâu nay, chúng ta đã thực sự sống đạo hay chỉ là giữ đạo vì sợ tội, sợ mất linh hồn, sợ mất danh dự, sợ bị mang tiếng…?”; “Phải chăng chúng ta đã, đang an tâm với những thành quả về số lượng, mà quên đi, hay không cú tâm đến chất lượng tâm linh?”. Tưởng cũng nên nói thêm: giữ đạo là điều tốt, nhưng sống đạo mới là người trưởng thành.

Mong sao mỗi chúng ta cố gắng đan kết giữa việc giữ và sống đạo trong đời sống, để:“Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của những người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ”(Thánh Công Đồng Vaticanô II, Hiến chế Gaudium et Spes, số 1).

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con một đức tin mạnh mẽ và một lòng mến dồi dào. Khi chúng con nói được rằng chúng con tin vào Chúa và thực thi giới răn của Ngài, thì chúng con biết sống những điều đó bằng một đời sống cụ thể. Ðể cuộc sống của chúng con là một chứng từ sống động cho mọi người nhận biết Chúa. Amen.

Về mục lục

.

THẦN KHÍ YÊU THƯƠNG

Trầm Thiên Thu

Làm người, ai cũng cần một danh nghĩa nào đó, nhưng phải là danh nghĩa chính đáng: “Đã mang tiếng ở trong trời đất – Phải có danh gì với núi sông” (chí sĩ Nguyễn Công Trứ – thi phẩm “Đi Thi Tự Vịnh”). Có danh nghĩa để hành động, hành động vì chính nghĩa, vì công lý, chứ không để đàn áp hoặc chèn ép người yếu thế hơn mình.

Làm người và sống ở đời, đó là một Hồng Ân lớn lao. Đức và Tài đều cần để thực hiện điều tốt lành cho tha nhân. Với Đức và Tài, người ta có thể trở thành quân tử hoặc tiểu nhân, tùy vào “vị trí” của chúng: “Đức hơn Tài là quân tử, Tài hơn Đức là tiểu nhân” (Khổng Tử). Một làn ranh rất mong manh giữa Đức và Tài. “Chữ Tài liền với chữ Tai một vần” (Nguyễn Du)!

Có nhiều loại đức cần phải trau giồi hằng ngày. Riêng người Công giáo lại càng phải trau giồi nhiều hơn. Về đối nhân có rất nhiều nhân đức (chân thành, hòa nhã, bình dị, hòa đồng, nghiêm túc, vui vẻ,…); về đối thần có ba nhân đức: đức tin, đức cậy và đức mến. Đức mến là đức ái, nói đơn giản là lòng yêu thương hoặc lòng thương xót. Đức mến luôn lớn lao và cần thiết, thậm chí quan trọng nhất, vì trên Nước Trời cũng vẫn còn đức mến – không còn đức tin và đức cậy nữa (x. 1 Cr 13:13).

Quả thật là như thế, cuộc đời này không có tình yêu thương thì cũng như cuộc sống không có ánh mặt trời. Vô tri bất mộ. Không biết thì không yêu mến, thậm chí còn có thể ghét, nhưng khi đã biết thì người ta cảm thấy yêu mến. Âu đó cũng là lẽ thường ở đời vậy! Tuy nhiên, trước khi BIẾT thì phải MUỐN BIẾT và TÌM HIỂU cho thấu đáo chứ đừng hời hợt hoặc “nửa vời”. Một khi đã biết rõ rồi thì sẽ nảy sinh lòng yêu mến, và có thể say đắm – si tình. Mà đã yêu mến tức là đã thực sự tin tưởng.

Đạo Chúa mệnh danh là “đạo yêu thương”. Không yêu thương thì đừng nói là theo Chúa. Thánh Phaolô dùng cách nói nặng: “Ai không yêu mến Chúa thì là đồ khốn kiếp!” (1 Cr 16:22). Nhưng mến Chúa thì phải yêu người, vì yêu người là thước đo lòng mến Chúa. Đó là hệ lụy tất yếu. Thánh Gioan phân tích: “Nếu ai nói ‘tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1 Ga 4:20). Về vấn đề này, Thánh Sibyllina Pavia “mở rộng” thêm: “Ai không yêu mến anh em thì không thể trở thành người anh dũng tử đạo”. Có tình yêu thì người ta có thể làm được mọi sự, bất kể nhỏ hay to, đúng như Thánh Augustinô nhận định: “Cứ yêu thật đi rồi muốn làm gì thì làm”. Chính Thánh Augustinô đã từng nuối tiếc: “Con yêu Chúa quá muộn màng, ôi vẻ đẹp rất xưa mà rất mới!” (Tự Thuật, số 10 & 27). Còn Mẹ Thánh Teresa Calcutta xác định: “Bạn không thể thấy Chúa Giêsu trong người nghèo nếu bạn không thấy Ngài trong Thánh Thể”. Ôi, chuỗi yêu thương quá đỗi kỳ diệu!

Vì yêu Chúa – và yêu Chúa qua tha nhân, người ta có thể làm được mọi thứ. Sách Công Vụ kể: “Ông Phi-líp-phê xuống một thành miền Sa-ma-ri và rao giảng Đức Kitô cho dân cư ở đó. Đám đông một lòng chú ý đến những điều ông Phi-líp-phê giảng, bởi được nghe đồn và được chứng kiến những dấu lạ ông làm” (Cv 8:5-6). Họ không chỉ “nghe đồn” mà còn “chứng kiến” các dấu lạ do Tông đồ Phi-líp-phê đã làm. Vì họ đã biết nên họ không thể làm ngơ, không thể không chú ý. Thật vậy, “các thần ô uế vừa kêu lớn tiếng vừa xuất khỏi nhiều người trong số những kẻ bị chúng ám, nhiều người tê bại và tàn tật được chữa lành. Trong thành, người ta rất vui mừng” (Cv 8:7-8).

Thời đó, các Tông đồ ở Giêrusalem nghe biết dân miền Samari đã đón nhận lời Thiên Chúa, các ông đã cử ông Phêrô và ông Gioan đến với họ. Khi đến nơi, hai ông cầu nguyện cho họ để họ nhận được Thánh Thần. Sách Công Vụ cho biết: “Vì Thánh Thần chưa ngự xuống một ai trong nhóm họ: họ mới chỉ chịu phép rửa nhân danh Chúa Giêsu. Bấy giờ hai ông đặt tay trên họ, và họ nhận được Thánh Thần” (Cv 8:16-17). Đó là Bí tích Thêm sức, loại bí tích làm cho chúng ta được lãnh nhận Chúa Thánh Thần viên mãn.

Xưa nay chúng ta vẫn quen với cách nói “bảy ơn Chúa Thánh Thần” – gồm các ơn: khôn ngoan, hiểu biết, lo liệu, sức mạnh, thông minh, đạo đức, và kính sợ Chúa. Tuy nhiên,, nên biết rằng đó là cách nói của Kinh Thánh, vì số 7 là con số kỳ diệu của Kinh Thánh, chứ Chúa Thánh Thần không chỉ “đóng khung” trong 7 ơn đó, mà bao gồm các ơn khác. Chúng ta thật hạnh phúc vì được biết Thiên Chúa, được yêu mến Ngài, và được lãnh nhận Chúa Thánh Thần: “Bình an cho anh em” (Lc 24:36; Ga 20:19; Ga 20:20; Ga 20:26).

Chắc chắn rằng không ai có thể trì hoãn cái sự sung sướng đó, dù chỉ một giây. Bởi vậy, Thánh Vịnh gia đã phải thốt lên: “Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa, đàn hát lên mừng Danh Thánh rạng ngời, nào dâng lời ca tụng tôn vinh!” (Tv 66:1-2). Tất cả chúng ta hòa chung niềm vui đó, và cũng hãy đồng tâm thân thưa với Thiên Chúa: “Vĩ đại thay, sự nghiệp của Ngài! Trước thần lực uy hùng, địch thù khúm núm. Toàn trái đất phải quỳ lạy tôn thờ, và đàn ca mừng Chúa, đàn ca mừng Thánh Danh. Đến mà xem công trình của Thiên Chúa: hành động của Người đối với phàm nhân thật đáng kinh đáng sợ!” (Tv 66:3-5). Thiên Chúa toàn năng, có Ngài thì người bình thường cũng trở nên phi thường, không có Ngài thì thiên tài cũng “bó tay”, như Chúa Giêsu đã xác định: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5).

Thiên Chúa hằng hữu và toàn năng, tạo thành mọi vật, cũng chính Ngài “làm cho biển khơi hoá đất liền và dân Người đi bộ qua sông, việc Người làm đó khiến ta hoan hỷ. Chúa uy dũng hiển trị muôn đời; đôi mắt Người theo dõi chư dân, quân làm phản chớ có hòng nổi dậy!” (Tv 66:6-7). Lịch sử đã và đang chứng tỏ như vậy, không một thần linh nào có thể làm được các vĩ công như Thiên Chúa của chúng ta.

Thực sự là một hồng ân lớn lao đối với chúng ta khi được biết Ngài, yêu mến Ngài và tôn thờ Ngài, tuyệt vời hơn nữa là Ngài đã yêu thương chúng ta trước (1 Ga 4:19) và yêu thương chúng ta đến cùng (Ga 13:1) – dù chúng ta chỉ là bọn bất lương, là lũ tội nhân khốn nạn. Chỉ là được hiện hữu trên đời này – dù chúng ta có thế nào – cũng đủ để chúng ta phải cảm tạ Ngài suốt cuộc đời mình. Không chỉ vậy, Chúa Cha còn vì thương xót kiếp khốn cùng của chúng ta mà Ngài đã bắt Con Một Yêu Dấu phải chết thay chúng ta, dù Người Con van xin nhưng Ngài vẫn “làm ngơ” chỉ vì Ngài muốn cứu độ chúng ta. Ơn cứu tử này quá lớn! Thật vậy, chính Ngài chọn chúng ta từ trước khi vũ trụ được tạo thành chứ không phải chúng ta chọn Ngài (Ep 1:4).

Phàm ngôn không thể diễn tả nổi. Thật vậy, Thiên Chúa của chúng ta còn hơn cả mức tuyệt vời: “Chúa ấp ủ, Chúa lo dưỡng dục, luôn giữ gìn, chẳng khác nào con ngươi mắt Chúa” (Đnl 32:10). Chính tình yêu thương đó đã được đóng ấn tín bằng “lời thề độc” này: “Kẻ nào động đến các ngươi là động đến con ngươi mắt Ta” (Dcr 2:12). Ôi, lạy Chúa tôi! Thực sự chúng ta không thể nào tưởng tượng nổi, và cũng chẳng bao giờ hiểu được, vì Ngài yêu thương chúng ta tới cùng nên Ngài cũng bảo vệ chúng ta tới cùng! Vì thế, chúng ta phải mau mắn và hãnh diện chia sẻ niềm vui đó với người khác: “Xin chúc tụng Thiên Chúa đã chẳng bác lời thỉnh nguyện tôi dâng, lại cũng không dứt nghĩa đoạn tình” (Tv 66:20).

Được sống với và cùng chia sẻ vui buồn với Chúa Giêsu, ông Phêrô có kinh nghiệm đầy mình, thế nên ông chân thành nhắn nhủ chúng ta: “Đức Kitô là Đấng Thánh, hãy tôn Người làm Chúa ngự trị trong lòng anh em. Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em. Nhưng phải trả lời cách hiền hoà và với sự kính trọng. Hãy giữ lương tâm ngay thẳng, khiến những kẻ phỉ báng anh em vì anh em ăn ở ngay thẳng trong Đức Kitô, chính họ phải xấu hổ vì những điều họ vu khống” (1 Pr 3:15-16). Tại sao phải giữ “thẳng” mà không thể du di “cong” một chút? Theo cách lý giải của ông Phêrô thì thế này: “Bởi lẽ thà chịu khổ vì làm việc lành, nếu đó là ý của Thiên Chúa, còn hơn là vì làm điều ác. Chính Đức Kitô đã chịu chết một lần vì tội lỗi – Đấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương – hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa. Thân xác Người đã bị giết chết, nhưng nhờ Thần Khí, Người đã được phục sinh” (1 Pr 3:17-18). Rất rõ ràng. Thật thẳng thắn. Và chính tình yêu mến đó đã được Chúa Thánh Thần tác động.

Phải nói rằng danh từ “chuỗi” hay thật đấy. Danh từ này nói lên sự liên kết nối tiếp không ngừng. Chính “chuỗi” tình yêu thương là “chuỗi” yêu mến, là “chuỗi” lòng thương xót, như Chúa Giêsu đã nói: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14:15). Từ hệ lụy đó lại có mối liên kết khác: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em” (Ga 14:16-17).

Biết mình sắp phải rời thế gian và xa những người thân thiết, Chúa Giêsu đã hứa: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em” (Ga 14:18). Và Ngài nói thẳng luôn: “Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em” (Ga 14:18-20). Ôi chao, “răng mà khó hiểu rứa hỉ”. Ngài nói thẳng thắn và “toạc móng heo” mà vẫn khó hiểu ghê đi! Thế nhưng không phải vậy, đó là Ngài muốn đưa chúng ta tới đức ái trọn vẹn, nhờ biết yêu mến mà chúng ta khả dĩ lãnh nhận Chúa Thánh Thần một cách viên mãn để đủ can đảm làm chứng về Thiên Chúa, Đấng Sự Thật.

Thiên Chúa là tình yêu, trước sau gì cũng là yêu thương. Chúa Giêsu dẫn chứng về “chuỗi” yêu mến: “Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy” (Ga 14:21). Ngài tỏ mình cho mỗi người mỗi cách, mỗi người được nhận biết theo cách riêng, không ai giống ai, nhưng vẫn là MỘT Thiên-Chúa-Ba-Ngôi duy nhất mà thôi: “Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa” (Ep 4:5).

Người-môn-đệ-được-Chúa-yêu định nghĩa ngắn gọn: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:8 và 16). Vì thế, ai yêu mến Ngài thì tuân giữ Luật Ngài, luật đó là Luật Yêu, và chắc chắn là yêu Chúa thì phải yêu người. Yêu Chúa không khó bằng yêu người, chỉ cần thực hành “chuỗi yêu” trong 1 Cr 13 thì cũng cảm thấy “toát mồ hôi hột” rồi, vì yêu không thể nói suông mà phải thể hiện bằng hành động, thể hiện qua từng động thái nhỏ. Vả lại, tha nhân là huynh đệ của chúng ta và là những người có Thiên Chúa trong lòng – ngay cả những người tự xưng là vô thần. Ai sống yêu mến thì mới được lãnh nhận Thần Khí Sự Thật của Thiên Chúa – đó là Thánh Linh, là Chúa Thánh Thần, là Đấng Kiến Tạo Hòa Bình.

Kinh Thánh Cựu Ước cho biết rằng, khi Thiên Chúa tuyển chọn Bơ-xan-ên, con của U-ri, con của Khua, thuộc chi tộc Giuđa, Ngài đã hứa với ông Môsê: “Ta sẽ ban cho nó dồi dào Thần Khí của Thiên Chúa để nó thành người khéo tay, giỏi giang và lành nghề mà làm mọi công việc, để nó nghĩ ra những tác phẩm nghệ thuật làm bằng vàng, bạc hay đồng, mài ngọc đính áo, chạm gỗ và thực hiện mọi công việc” (Xh 31:3-5). Điều gì Thiên Chúa đã hứa thì chắc chắn không bao giờ sai. Ước gì mỗi chúng ta cũng được lãnh nhận Thần Khí Chúa để làm vinh danh Chúa bằng chính khả năng riêng mà chúng ta đã được lãnh nhận từ Ngài. Nhưng có một điều quan trọng: Đừng quên rằng chúng ta luôn phải “hết dạ tri ân” (Cl 3:15).

Con người sai lầm nên dễ ảo tưởng, thế nên rất cần ơn phân định thần khí để không tin lầm. Thánh Gioan nhắn nhủ: “Anh em đừng cứ thần khí nào cũng tin, nhưng hãy cân nhắc các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay không, vì đã có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian” (1 Ga 4:1). Chúa Thánh Thần là Thần Khí Yêu Thương, là Đấng Ngôi Ba nhiệm xuất từ tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con. Hãy cầu xin Ngài, hãy cầu nguyện liên lỉ và không ngừng!

Lạy Thiên Chúa Tình Yêu, xin không ngừng đốt lửa yêu mến trong con để con có thể yêu mến Ngài và chỉ yêu mến Ngài như Ngài hằng mong muốn. Xin ban cho con Thần Khí Yêu Thương để con sống trọn đức ái theo Lòng Thương Xót của Ngài, và xin ban Thần Khí Sự Thật để con thực hiện mọi lệnh truyền theo công lý của Ngài. Xin giúp con biết đại lượng với tha nhân, nhất là những người hèn mọn, vì họ là những người được tạo dựng theo hình ảnh Ngài, bình đẳng với con và cũng được hưởng Giá Máu cứu độ của Đức Giêsu Kitô, Đấng hằng sinh và hiển trị cùng với Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần, đến muôn đời. Amen.

Về mục lục

.

THÁNH THẦN – ĐẤNG BẢO TRỢ

JM. Lam Thy

Bài Tin Mừng hôm nay (CN VI/PS – Ga 14, 15-21) nối tiếp bài Tin Mừng CN V/PS (Ga 14, 1-14). Ở bài Tin Mừng Chúa nhật trước, Đức Giê-su Ki-tô tiên báo Người sẽ trở về cùng Chúa Cha và căn dặn các môn đệ: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” (Ga 14, 1-3). Các môn đệ (tiêu biểu là Tô-ma và Phi-lip-phê) vẫn tỏ ra rất hoang mang, lo sợ, không hiểu Thầy về cùng Chúa Cha là như thế nào, bằng con đường nào và nhất là Thầy có còn trở lại với các môn đệ nữa hay không? Đó cũng là tâm lý thông thường của người đời. Và cũng vì thế nên Đức Ki-tô phải trấn an: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi.” (Ga 14, 15-16).

Trong những Lời dạy của Đức Ki-tô, Người luôn luôn nói đến Người là Mục tử nhân lành chăn dắt và bảo vệ đoàn chiên, đồng thời Người còn là “cửa chuồng chiên” để đón nhận, nuôi dưỡng và bảo vệ những con chiên trong ràn chiên của Thiên Chúa. Đón nhận, nuôi dưỡng, chăn dắt và bảo vệ thì chính Người là Đấng Bảo Trợ (bảo vệ, trợ giúp) của đoàn chiên. Vì thế, nay Người phải trở về cùng Chúa Cha, nên Người mới hứa là “sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi”. Điều kiện để có được “Đấng Bảo Trợ khác”, ấy là: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14, 15); và chỉ “Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy” (Ga 14, 21). Nói cách cụ thể, Chúa muốn các môn đệ thể hiện đức tin của mình (yêu Chúa) bằng hành động (tuân giữ các điều răn Chúa dạy). Rõ ràng có một mối liên hệ chặt chẽ giữa lòng yêu mến Chúa và sự tuân giữ các điều răn của Người: Nếu yêu thì sẽ tuân giữ ⇒ Có tuân giữ mới thực là yêu.

Vậy thì các điều răn Chúa dạy là gì? Và giữ các điều răn ấy thế nào để chứng tỏ là mình yêu Chúa thực sự? Các điều răn Chúa dạy thì nhiều lắm, nhưng chung quy chì là một “Điều răn trọng nhất: Mến Chúa yêu người”. Có một thắc mắc như một vấn nạn luôn ám ảnh con người nhưng chẳng ai dám nói ra, đó là: Con yêu Chúa vì Chúa yêu con đến độ hy sinh cả mạng sống mình, nhưng con yêu người thì chẳng hiểu người có yêu con không? Và cũng chính vì thế nên thế giới này không lúc nào yên. Khổ một nỗi là các nhà lãnh đạo quốc gia lúc nào cũng mạnh miệng cổ võ hoà bình trong khi ngòi nổ chiến tranh vẫn âm ỉ ngay tại quốc gia mình. Các nhà đấu tranh chính trị cũng luôn luôn nhân danh hoà bình và công lý để đấu tranh đòi công lý hoà bình bằng bom đạn, bằng những vũ khí giết người tối tân. Rồi thì khủng bố, tàn sát xảy ra nhan nhản khắp nơi cũng nhân danh công lý hoà bình!

Biết rõ được tâm lý con người hay thắc mắc như vậy và khi nói yêu Chúa thì rất mạnh miệng, nhưng nói đến yêu người thì lại ngập ngừng… hãy đợi đấy (!), nên Đức Ki-tô mới dạy: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy”, mà điều răn của Thầy là: “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15, 12), cũng bởi vì “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15, 13). Và cái hệ luận tất yếu phải là: Nếu yêu Chúa thì sẽ tuân giữ điều răn của Chúa ⇒ Có tuân giữ điều răn của Chúa mới thực là yêu Chúa hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực. Chỉ có như thế mới có hy vọng Đấng Bảo Trợ khác sẽ đến thanh tẩy và ban hồng ân cùng dũng khí, bởi Người chính là Ðấng Bào Chữa, Ðấng An Ủi, Thần Chân Lý – Người chính là nguồn hồng ân sự sống, sự thật, sự hiệp nhất yêu thương, là Chúa Thánh Thần vậy. Tất cả quy về một điểm chung nhất: Tình Yêu Thiên Chúa.

Thánh sử Gio-an khẳng định: “Thiên Chúa là tình yêu, và hễ ai ở trong tình yêu thì ở trong Chúa, và Chúa ở trong người ấy. Căn cứ vào điều này mà tình yêu đã nên hoàn hảo với chúng ta: đó là chúng ta được mạnh dạn trong ngày phán xét, vì Đức Giê-su thế nào thì chúng ta cũng như vậy ở thế gian này.” (1Ga 4, 16-17). Đó chính là trọng tâm của đức tin Ki-tô Giáo: Hình ảnh con người và con đường của họ khơi nguồn từ hình ảnh Thiên Chúa Tình Yêu. Cái chết khổ nhục của Đức Giê-su Ki-tô trên thập giá là tột đỉnh của Tình Yêu Thiên Chúa, trong đó, Người trao ban chính mình để nâng con người dậy và cứu rỗi họ. Đây là tình yêu ở dạng thức cao nhất. Khi chiêm niệm cạnh sườn bị lưỡi đòng đâm thâu của Chúa Ki-tô, người Ki-tô hữu khám phá ra con đường theo đó cuộc sống và tình yêu của mình phải dõi bước theo: CON ĐƯỜNG GIÊ-SU.

Nói đến Tình Yêu là nói đến trao và nhận. Thiên Chúa Cha trao ban cho con người biết bao ân huệ là vì yêu thương, nhất là khi Người ban chính Con Một là Chúa Giê-su làm giá chuộc muôn người khỏi tội lỗi và sự chết đời đời. Giờ đây đến lượt Đức Giê-su Thiên Chúa hứa ban Chúa Thánh Thần là ân huệ mà “thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết” (Ga 14, 17). Vậy thì người Ki-tô hữu đã nhận và nhận rất nhiều Tình Yêu vô lượng của Thiên Chúa, lẽ nào không biết đáp trả ân tình cao vời khôn ví đó? Mà cách đáp trả duy nhất chỉ có thể là “yêu Chúa hết lòng hết linh hồn hết trí khôn” bằng cách “tuân giữ các điều răn Chúa dạy: Mến Chúa yêu người”.

Thông điệp Thiên Chúa là Tình Yêu “Deus Caritas Est” (số 18) đã phân giải tỏ tường: “Tình yêu của Thiên Chúa và tình yêu tha nhân vì thế là không thể tách rời, chúng hình thành một giới răn duy nhất. Nhưng cả hai sống từ tình yêu của Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương chúng ta trước. Nó không còn là vấn đề một “lệnh truyền” áp đặt từ bên ngoài và đòi hỏi một điều bất khả thi nữa, nhưng là một kinh nghiệm yêu đương, tự do cho đi từ bên trong, một tình yêu tự bản chất cần phải được chia sẻ với những người khác. Tình yêu triển nở qua tình yêu. Tình yêu là “thần thánh” vì nó đến từ Thiên Chúa và kết hiệp chúng ta với Thiên Chúa; qua tiến trình hiệp nhất này tình yêu biến chúng ta thành một “chúng tôi”, vượt qua sự chia rẽ của chúng ta và làm cho chúng ta nên một, cho đến khi Thiên Chúa là “tất cả trong mọi sự” (1Cr 15, 28).”

Đức Thánh Cha Phan-xi-cô cũng dạy: “Trong mọi tình huống của con người, ghi dấu bởi sự mong manh, bởi tội lỗi và cái chết, Tin Mừng không chỉ đơn giản là một ngôn từ, nhưng là một chứng từ yêu thương vô điều kiện và tín trung: đó là ra khỏi chính mình để đến gặp gỡ người khác, gần gũi với người bị cuộc sống làm thương tổn, là chia sẻ với người túng thiếu, là ở bên những ai đau yếu, già cả hay bị loại trừ… “Hãy đến và xem!”: Tình yêu thì mạnh hơn, tình yêu làm cho hy vọng nở hoa nơi sa mạc.” (Sứ điệp Phục Sinh Urbi et Orbi 2014). Rõ ràng bao trùm lên tất cả là Tình Yêu, là “tất cả trong mọi sự” đều quy hướng về Thiên Chúa Tình Yêu.

Chính vì Tình Yêu nên Ba Ngôi đã hiệp nhất nên Một Thiên Chúa, đó là mầu nhiệm Ba Ngôi cực thánh. Một Chúa Ba Ngôi đã thể hiện rõ ràng trong Ngôi Lời nhập thể ở tất cả những hoạt động cũng như lời giảng dạy của Người. Điều đó cho thấy Chúa Thánh Thần vẫn luôn luôn hiệp cùng Chúa Cha ở trong Chúa Con vậy. Ngay từ trong Cựu Ước, Chúa Thánh Thần đã là “Lời và Hơi Thở của Thiên Chúa là nguồn gốc của sự hiện hữu và sự sống mọi thụ tạo.” (Tv 33, 6; 104, 30; St 1, 2; 2, 7; Gv 3, 20-21; Xh 37, 10). Sang đến Tân Ước thì Đức Ki-tô luôn dạy dỗ môn đệ về Thần Khí Sự Thật. Không những chỉ là Lời giảng dạy, mà chính Đức Giê-su cũng chịu sự tác động mãnh liệt của Thần Khi (khi Người sinh ra tại hang đá Bê-lem, khi Người chịu phép rửa trên sông Gio-đan, khi Người được Thàn Khí dẫn vào hoang địa để chịu quỷ cám dỗ, khi Người biến hình trên núi Ta-bo, khi cầu nguyện kể cả khi Người tử nạn trên Gôn-gô-tha).

Đó là lý do cho thấy Giáo hội đã tuyên xưng Đấng Bảo Trợ mà Đức Giê-su Ki-tô hứa ban bằng 8 biểu tượng: Nước, Lửa, Xức Dầu, Áng Mây và Ánh Sang, Ấn Tín, Bàn Tay, Ngón tay, Chim Bồ Câu (Giáo Lý HTCG, số 694-701). Tất cả 8 biểu tượng đều thể hiện rõ rệt Tình Yêu Thiên Chúa. Trong ánh sáng Phục Sinh huy hoàng, người Ki-tô hữu hãy cầu xin Đấng Phục Sinh ban ngọn Lửa Mến để sưởi ấm tâm hồn, soi tỏ đường đi, và nhất là hun đúc dũng khí để tiến bước trên đường thực thi sứ vụ “đem Tình Yêu đến cho mọi người, ở mọi nơi, trong mọi lúc”. Hãy tin tưởng và cầu nguyện, vì “Dù bị tội lỗi và cái chết làm biến dạng, con người vẫn “là hình ảnh Thiên Chúa”, là hình ảnh Chúa Con, nhưng “bị tước mất Vinh Quang Thiên Chúa” (Rm 3, 23), không còn “giống Thiên Chúa”. Lời hứa với Áp-ra-ham khai mạc nhiệm cục cứu độ cuối nhiệm cục này, chính Chúa Con sẽ đảm nhận “hình ảnh” (Ga 1, 14; Pl 2, 7) và tái tạo lại nét “giống” Chúa Cha bằng cách hoàn trả cho con người Vinh Quang là Thánh Thần “ban sự sống”. (Giáo lý HTCG, số 705).

Nói tóm lại, Đấng Bảo Trợ mà Đức Giê-su hứa sẽ xin Chúa Cha ban cho các môn đệ chính là Chúa Thánh Thần – ngọn Lửa Mến luôn thắp sáng niềm tin, sưởi ấm tâm hồn, hun đúc dũng khí người Ki-tô hữu trên hành trình thi hành sứ vụ (thực hành các điều răn của Thầy Chí Thánh). Hãy cầu xin với chính Đấng Phục Sinh hằng sẵn sàng ban cho môn đệ: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.” (Ga 20, 22), để được Chúa Cha ban Đấng Bảo Trợ đến thanh tẩy tâm hồn, soi sáng trí khôn, canh tân đời sống, gia tăng Lửa Mến, hiệp nhất muôn lòng.

Lạy Chúa! Xưa Chúa đã phán: “Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến.” (Ga 16, 13). Cúi xin Chúa thương ban Thần Khí soi sáng cho chúng con hiểu được “sự thật toàn vẹn” về Đức Thánh Linh. Ôi! Lạy Chúa Thánh Thần! Xin thắp sáng trong lòng chúng con chứng từ yêu thương vô điều kiện và trung tín – là ngọn Lửa Mến – để chúng con vượt qua “cái tôi vị kỷ”, ra khỏi chính mình mà đến với anh em chúng con, nhất là những người nghèo khó, cô đơn, bệnh tật, già yếu, đặc biệt là những người bị xã hội bỏ rơi trong hoàn cảnh ngặt nghèo. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. Amen.

Về mục lục

.

HỨA BAN THÁNH THẦN

P.Trần Đình Phan Tiến

Thưa quý vị, thưa các bạn trang Tin Mừng hôm nay ( Ga 14, 15 -21) cho chúng ta một “ Chúc Thư “ tiếp theo của Chúa Giêsu, trong phần “ Chúc Thư “ nầy, có thể nói là phần hay nhất, tâm huyết nhất của Chúa Giêsu để lại cho các môn đệ của Người, từ Gioan chương 14 -17. Ba chương liên tiếp, ghi lại những  “Lời Chúc Thư” của Chúa Giêsu để lại cho các Tông Đồ.

Theo đó, có thể nói trong Đoạn Lời Chúa hôm nay ( Ga 14 , 15 -21) cho chúng ta ba ý chính:

  • Thứ nhất : Điều kiện để được yêu mến Chúa Giêsu .
  • Thứ hai : Hứa ban Thánh Thần
  • Thứ ba : Mạc khải ( Mặc khải ) sự hiệp thông trong Ba Ngôi Thiên Chúa với những ai được kết hợp với Chúa Giêsu.

Như vậy, Lời Chúa hôm nay cho chúng ta một sự mạc khải trọn vẹn, một niềm tin vững chắc, vì phàm nhân được chính Thiên Chúa cho kết hợp vì tình Ngài yêu thương con người một cách kỳ lạ, được Chúa Giêsu tỏ cho biết.

Vâng, triển khai Lời Chúa hôm nay cho chúng ta một chiều kích tâm linh sâu sắc, bởi vì không có tình yêu nào chân thật, chân chính, vạn đại cho bằng  “điều “mà  được Thiên Chúa yêu thương, được gọi là “ tình yêu”. Vâng, tình yêu là đề tài muôn thuở, mà phàm nhân không thể đón nhận trọn vẹn tại bất cứ nơi đâu , nếu như Thiên Chúa không trao ban. Vậy, Thiên Chúa đã trao ban một tình yêu duy nhất là Đức Kitô –Giêsu, Con Một thiên Chúa.

Theo đó, điều mà Chúa Giêsu “tâm huyết” cho các môn đệ của Người trong đó có chúng ta là một sự mạc khải trọn vẹn tình yêu duy nhất và vô biên bởi Thiên Chúa là Cha toàn năng, trong tình yêu ấy có một sự hiệp nhất kỳ diệu, siêu nhiên, mầu nhiệm đó là Thiên Chúa Ba Ngôi.

Ba Ngôi Thiên Chúa là Đấng trở nên tự có duy nhất , hằng hữu, vô biên, toàn năng để sinh ra muôn vật trong đó có con người là loài được mang hình ảnh Thiên Chúa ( có hữu hình).

Từ sự vô biên thông ban cho loài thụ tạo một sự ưu ái đặc biệt, mà ta gọi là tình yêu. Tình yêu vô biên không chiếm hữu như tình yêu xác thịt , mà là thông truyền sự sống, thông ban yếu tố Thần linh. Nên chi, theo đó, Lời Chúa là một trong những sự “thông ban“đó. Như vậy, từ câu 16, chính Chúa Giêsu nói : “ Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác, đến ở với an hem luôn mãi” ( c 16).

Vậy ,  “Đấng Bảo Trợ” khác sẽ ở cùng các môn đệ luôn mãi, chính là “Chúa Thánh Thần “. Như vậy, khi Chúa Giêsu không còn hiện diện hữu hình nữa, có nghĩa là nơi trần thế , Người đã hoàn tất mầu nhiệm cứu chuộc, thì Chúa Thánh Thần sẽ hiện diện cách cụ thể để điều khiển con thuyền Hội Thánh. Như vậy, ý nghĩa trên không còn xa lạ gì với người Kitô hữu nữa. Bởi vì, xuất phát từ câu Lời Chúa ( Ga 14, 16). Theo đó, đặc điểm Chúa Thánh Thần đến với những ai tìn vào Đức Kitô, và nhờ đó, những ai chưa tin vào Đức Kitô, thì Chúa Thánh Thần chính là “Người nhạc trưởng” sẽ hướng dẫn họ trở thành chứng nhân Tin Mừng Nước Trời.

Vâng, yếu tố kỳ lạ nầy, trải qua bao thế hệ, Lời Hứa ban Thánh Thần của Chúa Giêsu hôm nay cho chúng ta một niềm xác tín vững chắc. Đó là gương các thánh, các ngài không tự mình làm được, nhưng , qua Lời của Chúa Giêsu, các ngài biết “đón nhận “ Chúa Thánh Thần, để Ngài hun đúc tâm can hầu trở nên khí cụ bình an của Chúa. Vâng , điều kiện để yêu mến Chúa Giêsu là tuân giữ các điều răn của Người, nhưng, nếu chúng ta không được ban Chúa Thánh Thần, mặc nhiên, chúng ta khó tuân giữ. Vì , Chúa Thánh Thần hun đúc và làm nên những điều lạ lùng, trải qua lịch sử Giáo Hội, chúng ta thấy có biết bao điều kỳ diệu mà nhân thế không thể làm được, nhưng những người để cho Thánh Thần hướng dẫn có thể làm được mọi sự lạ lung, mà quen gọi là ”thánh”.

Vâng, gần đây nhất, ngay tại Việt Nam nầy, có một vị linh mục vừa qua đời vào ngày 10/05/2017, đó là cha Augustino Nguyễn Viết Chung, một cựu phật tử, có học vị là bác sĩ. Người đã cống hiến cuộc đời còn lại của mình để tìm gặp Chúa và đã gặp được Người ở tuổi 39, sau đó tiếp tục dấn thân vào con đường tu trì, để tiếp tục phục vụ Thiên Chúa qua người nghèo 23 năm và trong Thiên Chức linh mục 14 năm. Vừa kết thúc cuộc hành trình 62 năm tại dương thế. Cuộc đời cha Chung có thể nói là một cuộc đời được chính Chúa Thánh Thần viết lên một hành trình để treo gương , vì những nhân đức có thể nói “anh hùng” của cha là do chính Chúa Thánh Thần tác động. Một luồng gió tự nhiên thổi vào tâm hồn một chàng “sinh viên phật tử”, làm cho nó bùng phát lên một “ngọn lửa siêu nhiên” rực cháy trong linh hồn của một con người muốn bước theo Đức Kitô, để rồi sau đó, muốn dâng hiến trọn vẹn hơn trong đời sống thánh hiến. Và rồi trong hành trình “ngắn ngủi” của đời thánh hiến, cha Chung lại như bị” thiêu đốt” trọn vẹn để trở nên một tông đồ của Chúa Thánh Thần, cuối cùng phần thân xác được trở nên “tro bụi” đích thực . Như vậy, có thể nói, nếu như có “một luồng gió” khác của Chúa Thánh Thần, cha Chung có thể được tuyên thánh, vì cuộc đời cha như một vị thánh. Vâng, theo đó, thánh là những người được “Lửa Thánh Thần “ hun đúc. Mong thay !

Vâng, Lời Chúa hôm nay, chính là Chúa Giêsu muốn “tiết lộ” trọn vẹn sự thông hiệp cho tất cả những ai bước theo Người một chân lý hiệp thông trong Ba Ngôi Thiên Chúa.

Lạy Thiên Chúa, Đấng đã ban Thánh Tử Giêsu cho nhân thế, để Người đến thế gian bày tỏ mầu nhiệm chân lý là Ba Ngôi Thiên Chúa, trong sự hiệp thông Thần Tính cao siêu ấy, Người tỏ cho thế gian biết và cho những ai “TIN” vào Người được hiệp thông trọn vẹn. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị trong sự hiệp nhất Ba Ngôi./. Amen.

Về mục lục

.

NẾU CON

Anna Cỏ May

Làn gió nhẹ lướt nhẹ qua khe cửa sổ. Tiếng ai đó vang lên: “Nếu con nghe lời mẹ thì con đâu bị thi rớt”. Một lời nói chua chát, trách móc của người mẹ về đứa con không chịu vâng lời mẹ. Cô bé thì nhận lấy kết quả không mong muốn. Và từ “nếu” chúng ta còn hay dùng trong giao tiếp, lúc nhờ một ai giúp mình hay một câu nói vui với nhau…

Bài Tin Mừng hôm nay, lời của Chúa Giêsu cho các môn đệ sự ấm áp, thân thiện. Ngài nói: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy”(x. Ga 14,15). Ngài dùng từ ngữ quen thuộc để nói với các môn đệ về sự yêu mến và tình yêu. Ngài diễn tả tình yêu tự do, không có chút trách móc. Một lời nói âu yếm và ẩn sâu sự khao khát của Ngài nơi các môn đệ. Sự khao khát ấy cũng không áp đặt các môn đệ mà cho các ông hoàn toàn tự do lựa chọn và quyết định về tình yêu. Khi chúng ta yêu một ai thì chúng ta luôn lắng nghe và làm theo những lời người mình yêu. Vì thế, Chúa Giêsu nói như vậy cũng để đánh vào tâm lý và thức tỉnh tình yêu trong tâm hồn các môn đệ.

Bầu khí trầm lặng, cõi lòng lâng lâng, các môn đệ chìm đắm trong lời của Chúa Giêsu. Ngài tiếp tục nói về tình yêu, một tình yêu bắt nguồn từ hai phía là chính Ngài và các môn đệ. Tình yêu của Ngài là hy sinh trên thập giá. Tình yêu với lời hứa ban Đấng Bảo Trợ. Ngài cũng không để các môn đệ mồ côi mà luôn ở giữa và ở trong các môn đệ. Đó là một tình yêu luôn tỏ mình ra cho người yêu thấy mọi sự. Tình yêu là từ bỏ và cho đi để người yêu được hạnh phúc. Tình yêu không có giới hạn cũng không có gì ngăn cản được và một tình yêu, yêu hết tất cả. Tình yêu có sự liên kết trong Ba Ngôi Thiên Chúa.

Đối với các môn đệ, Ngài chỉ mong các ông: “Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy”(x. Ga 14, 21). Cũng lời nói này, Ngài cho các môn đệ biết Ngài sẽ dựa vào điều Ngài nói để xác định ai là kẻ yêu mến Ngài thực sự. Khi các môn đệ thực sự yêu mến Ngài thì các ông sẽ được gia tăng tình yêu của Chúa Cha và được nhìn thấy tất cả mọi sự nơi Ngài.

Ngày hôm nay, Giáo Hội cho chúng ta nghe để cùng với Giáo Hội thực hiện các điều răn Chúa trao ban cho chúng ta. Những điều răn ấy là điều nào? Mỗi chúng ta hãy nhớ lại và đi tìm cho mình. Bởi vì có đi tìm thì tình yêu của chúng ta đối với Chúa mới thật sự xứng đáng. Tình yêu sẽ sinh động và bền vững nếu chúng ta thực hành các điều răn ấy.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa biết rõ phận chúng con yêu đuối và chóng quên. Chúng con thích đi tìm và giữ những điều ở thế gian, mà lãng quên các điều răn của Ngài. Xin cho chúng con gia tăng lòng yêu mến, biết tìm kiếm các điều răn của Chúa, gạt bỏ những lo lắng xao xuyến sự đời để chuyên chăm thực thi ý Chúa. Nhờ đó, chúng con được chìm đắm trong tình yêu của Chúa. Amen

Về mục lục

.

ANH CÒN NỢ EM

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Có một bài hát rất nổi tiếng về tình yêu. Đó là bài “Anh còn nợ em”. Bài hát với cung nhạc thật ray rứt như diễn tả tâm hồn ai đó đang vướng bận nợ nần với người mình thương.

“Anh còn nợ em, công viên ghế đá,”
“Công viên ghế đá, lá đổ chiều êm.
Và còn nợ em dòng xưa bến cũ
Dòng xưa bến cũ, con sông êm đềm.”

Ghế đá công viên hay dòng xưa bến cũ chỉ là nơi chốn, thế mà lại là món nợ của tình yêu. Tâm trạng chàng trai dường như đang ray rứt vì đã để lỡ những cuộc hẹn và có khi những hình ảnh thân thương ấy đã vào dĩ vãng khiến chàng trai bần thần, nhớ nhung.
Nhưng theo Kinh Thánh, nợ tình yêu là lẽ thường tình. Ai cũng cần có nhu cầu yêu. Ai cũng có một trái tim để yêu. Nhưng tình yêu thì chẳng bao giờ cùng khiến con người luôn mắc nợ tình yêu vì yêu chưa trọn.
Vì yêu chưa trọn nên vẫn ray rứt về những lần mình chưa làm tròn bổn phận tình yêu. Con tim vẫn bồi hồi về những việc đáng lý phải làm mà mình vẫn chưa làm :

 “Anh còn nợ em, chim về núi nhạn
Trời mờ mưa đêm, trời mờ mưa đêm
Anh còn nợ em nụ hôn vội vàng
nụ hôn vội vàng nắng chói qua song.”

 Xem ra anh chàng rất si tình. Không trả được nợ thì lòng hối hận, mặc cảm tội lỗi vì mình vẫn thiếu một cuộc tình. Anh đã xem tình yêu là bổn phận đến nỗi không chu toàn thì được xem là tội, là nợ của nhau.

 “Anh còn nợ em Con tim bối rối
   Con tim bối rối Anh còn nợ em
Và còn nợ em Cuộc tình đã lỡ..

   Cuộc tình đã lỡ Anh còn nợ em…”

Cái nợ đã trở thành tội khi để lỡ một cuộc tình. Chàng trai sẽ ray rứt mãi vì đã để ai đó đang sầu muộn vì trông mong, thương nhớ người thương. Cái nợ đã trở thành tội khi cuộc tình đã lỡ khiến gặp nhau mà con tim bối rối thẹn thùng, vì phụ bạc lẫn nhau.

Xem ra cuộc tình nào cũng nợ nhau thôi. Càng yêu càng nợ nhau. Nhiều người lầm tưởng rằng kết hôn là hết nợ nhau, là đã làm xong nhiệm vụ rồi có quyền xao nhãng, bỏ rơi nhau. Nhưng đúng ra, kết hôn là ký kết nợ tình của nhau. Họ phải trả nợ nhau suốt đời. Họ phải dành tình yêu cho nhau khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan. Họ phải nợ ân nghĩa vợ chồng cho đến khi tóc bạc răng nong.

Thiên Chúa luôn yêu thế gian. Vì yêu mà Ngài đã dám dốc cạn cuộc đời qua hiến tế trên thập giá. Ngài còn gánh nợ cho thế gian khi chịu chết để đền tội cho thế gian. Ngài đã hy sinh cả tính mạng mình để đem lại hạnh phúc cho người mình yêu. Tình yêu của Ngài không ray rứt vì cuộc tình đã lỡ mà luôn canh cánh bên lòng sự quan tâm, lo lắng, xót thương con người. Ngài tự nguyện nợ tình yêu con người đến nỗi đã yêu là yêu cho đến cùng.

Hôm nay Ngài còn ký một giao ước nợ ân tình với con người qua Đấng bảo trợ mà Ngài sẽ ban để ở cùng chúng ta luôn mãi. Đấng bảo trở ấy sẽ ủi an, nâng đỡ, che chở con người trước mọi khó khăn thử thách. Đấng ấy sẽ an ủi khi chúng ta gặp u buồn. Ngài sẽ soi sáng khi chúng ta gặp bước gian nan. Ngài sẽ ban sức mạnh khi chúng ta cần sức mạnh để vượt qua cám dỗ tội lỗi và làm lại cuộc đời. Ngài sẽ ban cho chúng ta những ơn cần thiết để chúng ta hoàn thành sứ mạng cuộc đời như một tôi tớ trung tín và khôn ngoan, vì Chúa đã hứa rằng: “Ơn Ta đủ cho con và quyền năng Ta hiển trị nơi sự yếu hèn của con”.

Nguyện xin Chúa Kytô Phục sinh luôn đồng hành với chúng ta và chúc lành cho cuộc đời chúng ta được bình an để chúng ta mãi trung thành với Chúa. Ước gì các đôi vợ chồng cũng đừng để cuộc tình đã lỡ mới nói nợ nhau. Xin hãy vì tình yêu mà quan tâm nâng đỡ nhau và vì ân nghĩa mà trung thủy với nhau trọn đời. Đó là cách mà chúng ta không nợ nhau trong tâm trạng ray rứt, mà là niềm vui vì tự nguyện gánh nợ cho nhau khi dâng hiến cuộc đời mang lại hạnh phúc cho nhau. Amen.

Về mục lục

.

LỜI CHÚA CĂN DẶN

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Khi xa nhau, người ta thường quyến luyến, bịn rịn. Con cái phải xa nhà đi học đi làm, vợ chồng phải xa nhau vì công việc. Lời nhắn nhủ của cha mẹ thường là: con hãy ngoan ngoãn, giữ lời cha mẹ chỉ bảo, cố gắng học hành, nỗ lực làm việc để có một tương lai tốt đẹp, đừng làm mất mặt, chớ phụ lòng hy vọng của cha mẹ nghe con! Vợ chồng sẽ có những lời dặn dò tâm huyết: hãy trung thành và nhớ tới nhau luôn…Khi yêu ai, mến thương ai, người ta luôn lưu giữ những hình ảnh, kỷ niệm và lời nói thân thương của người ấy.

Chúa Giêsu cũng vậy, trước khi về cùng Chúa Cha, Ngài đã căn dặn, khuyên nhủ các môn đệ nhiều lần. Ngài nói hết tâm tình, hết con tim của mình và muốn các môn sinh lưu giữ trong tâm hồn những lời tâm huyết này: “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12); “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy“ (Ga 14,15); “Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy” (Ga 14,21).

1. “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy”

Người Kitô hữu là người có Đức Kitô nhờ theo Ngài và yêu mến Ngài. Ai không yêu mến Ngài, không theo Ngài, thì không có Ngài, nên họ không phải là Kitô hữu đích thực. Khi yêu mến Ngài, chúng ta sống trong Ngài: “Anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em”. Người ta chỉ sống trong nhau vì nhau cho nhau khi người ta yêu thương nhau thật sự. Vì thế, chúng ta chỉ sống trong Đức Kitô và được Đức Kitô sống trong ta khi yêu mến Ngài. Yêu mến là giữ lời Ngài “Nếu các con giữ lệnh truyền của Ta thì các con sẽ lưu lại trong lòng mến của Ta” (Ga 15,10).

Nhưng làm sao yêu mến Ngài được khi mà ta không hề thấy Ngài cách hữu hình, không nghe Ngài nói trực tiếp, không động chạm đến Ngài? Chúa cho chúng ta một tiêu chuẩn để dựa vào đó mà biết mình có yêu Ngài hay không: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy”. Điều răn của Chúa là gì? Chúa xác định rõ ràng điều răn cốt yếu: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau” (Ga 12,34). Chúa cũng xác định luôn cả mức độ yêu: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Như vậy, câu nói “nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” có nghĩa là “nếu anh em yêu mến Thầy, thì anh em phải yêu thương nhau”. Ai yêu thương những người lân cận hay những người chung quanh mình mới là người thật sự yêu mến Thiên Chúa. Nói cách khác, ai không yêu những người gần gũi mình, những người mình gặp gỡ hằng ngày, người ấy không thật sự yêu mến Thiên Chúa. Thánh Gioan đã diễn giải điều này: “Nếu ai nói ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1Ga 4,20).

2. “Anh em có lòng yêu thương nhau”

Chúa Giêsu còn đưa ra một tiêu chuẩn để nhận ra ai là môn đệ đích thật của Ngài: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 12,35). Tiêu chuẩn này dựa trên tình yêu của người ấy đối với đồng loại, cụ thể là những người gần gũi sống chung quanh họ. Tình yêu cụ thể đối với tha nhân là tính chất đặc trưng nhất của những người theo Chúa Giêsu. Hễ thấy ai có đặc trưng ấy, ta biết người ấy là môn đệ Chúa Giêsu. Ai không có đặc trưng ấy, thì dù có mang danh là môn đệ Ngài, họ cũng chỉ là môn đệ “hữu danh vô thực”, giả hiệu mà thôi. Tình yêu thật sự, tình yêu chân thành thì cần phải có hy sinh, cần có quên mình. “Tình yêu mà không có hy sinh là tình yêu giả. Hy sinh mà không có tình yêu là hy sinh thừa” (ĐGM.Bùi Tuần).

Thánh Gioan sau khi nghiền ngẫm cả cuộc đời về những lời giảng dạy của Thầy Chí Thánh đã nghiệm ra cái cốt lõi của cuộc sống người môn đệ là tình yêu Chúa Giêsu Kitô, là kết hiệp với Ngài, là sống sự sống của Ngài.Tình yêu đó là một tình yêu sáng suốt của lý trí. Tình yêu đó là một tình yêu với những việc làm cụ thể. Việc làm cụ thể đó là tuân giữ những điều Chúa Giêsu truyền dạy, là yêu thương nhau.

Từ nay để gặp gỡ Chúa, để yêu mến Chúa, để sống với Chúa, cần phải có đức tin và tình yêu. Tin và Yêu là hai cánh cửa mở vào sự sống thần linh. Tin và Yêu không chỉ cho ta nhìn thấy Chúa, gặp gỡ Chúa mà còn cho ta được tham dự vào sự sống của Chúa. Sự sống đó là hiệp thông, như Chúa Cha ở trong Chúa Con và như Chúa Con ở trong Chúa Cha, ta sẽ được ở trong sự sống mầu nhiệm của Thiên Chúa Ba Ngôi và thật kỳ diệu, Ba Ngôi đến ở trong ta như lời Chúa Giêsu nói : “Ngày đó, anh em sẽ biết Thầy ở trong Cha Thầy, Thầy ở trong anh em và anh em ở trong Thầy. Ai có và giữ các giới răn của Thầy, người ấy là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy và sẽ tỏ cho người ấy biết Thầy”.

3. Gương sáng sống Lời Chúa

Những người yêu mến Chúa là những người biết lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành.

Trong truyện thánh Tử đạo Martinô Thọ có chép: “Ông Thọ là người rất đạo đức. Vì được tín nhiệm, ông làm việc thu thuế trong một thời gian rồi xin nghỉ vì thấy có nhiều cheo leo khó công minh luôn mãi được. Ông khuyên các con cứ đúng luật Chúa mà làm chứ đừng phạm tội vì muốn đẹp lòng người khác…. Ông làm việc rất siêng năng và cũng rất rộng rãi với người nghèo khó: không bao giờ ông để họ ra về mà không cho của gì ăn. Nếu con cái đi vắng, ông mời người ăn xin cùng ngồi ăn cơm chung, nếu con cái ở nhà, ông bắt chúng xẻ cơm cho họ”. Thánh Martinô Thọ đã tuân giữ giới răn Chúa dạy là mến Chúa yêu người, sống công bằng bác ái. Thánh nhân là người yêu mến Chúa thật sự và xứng đáng được Chúa trọng thưởng hạnh phúc đời đời. Chỉ tình yêu biết trao đi, mới đem lại niềm vui chân thật và lâu bền.

Những ngày qua, các trang web Công Giáo viết nhiều về gương sáng của vị Linh mục “Một bác sĩ Phật tử trở thành Linh mục vì người nghèo, bệnh nhân phong-sida, đã về với Chúa”. Thánh lễ an táng cha Augustinô Nguyễn Viết Chung thuộc Dòng Truyền Giáo Thánh Vinh Sơn (CM) ngày 13/5/2017, tại nhà thờ giáo xứ Phát Diệm, Sài gòn.

Khi lên 18 tuổi, nhân đọc một bài báo kể về cái chết của Ðức Cha Jean Cassaigne tại trại phong Di linh, cậu Chung cảm thấy cuộc sống đó quá tốt đẹp. Ðức Cha Jean Cassaigne trở thành thần tượng của chàng trai trẻ. Từ đó cậu Chung có ý nguyện học làm bác sĩ để phục vụ bệnh nhân phong như lòng khát khao. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình Phật giáo và là một bác sĩ chuyên khoa Da liễu. Nhờ tin vào Đức Kitô nên vị bác sĩ đã theo Chúa và trở thành linh mục của Chúa vào ngày lễ truyền tin 25.3.2003. Sau ngày lãnh tác vụ linh mục, ngài dấn thân truyền giáo, phục vụ người nghèo, bệnh nhân phong. Vị mục tử không chỉ nặng mà nhiễm cả mùi chiên, máu chiên vào trong người. Nơi thân xác gầy guộc của ngài lại ẩn chứa sức mạnh ơn thánh và một tấm lòng nhân ái bao la. Ngài yêu mến Chúa nơi những con người đau khổ và yêu thương họ như yêu mến Chúa.

Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy! Hãy tuân giữ các lệnh truyền của Thầy! Lệnh truyền lớn nhất là yêu thương như Thầy đã yêu. Chúng ta sẽ nếm được thứ niềm vui khôn tả của thiên quốc ngay trong cuộc sống ở đời này.

Lạy Chúa, con nhận ra một cách rất hữu hiệu để được Chúa yêu mến là con tuân giữ giới răn yêu thương của Chúa. Xin cho con xác tín rằng tình yêu của con đối với Chúa phải được thể hiện ra bằng việc yêu thương tha nhân, cụ thể là yêu những người trong gia đình con, những người cùng làm việc với con trong xí nghiệp công ty, những người hàng xóm, những bạn bè con gặp gỡ hằng ngày. Xin giúp con yêu họ cụ thể bằng sự quan tâm đến những niềm vui hay nỗi đau khổ của họ, đồng thời sẵn sàng hy sinh để giúp họ hạnh phúc hơn. Amen.

Về mục lục

.

YÊU MẾN VÀ GIỮ LỜI

L.m Giuse Hoàng Kim Toan

Tình yêu bao giờ ai cũng muốn không chỉ bằng lời mà còn là hành động, không chỉ là thể xác mà còn cả tâm hồn, không chỉ ở hiện tại chóng qua mà còn cả thời gian lâu dài, không chỉ là tinh thần mà còn cả chiều sâu linh hồn. Một tình yêu ước muốn nhưng cũng là một tình yêu đòi hỏi nhiều hy sinh chết đi nơi chính mình để thuộc về người yêu. Tình yêu như thế rất khó nên cần nhờ ơn Chúa mỗi ngày để hoàn thiện yêu thương, như Chúa dạy yêu mến và giữ Lời.

Với những suy tư của Thánh Augustine, xin được chia sẻ.

Tình yêu ban đầu.

Dạo đầu của tình yêu luôn là những khắc khoải, những ước muốn ở gần, được sẻ chia, được ngỏ lời yêu thương và được đáp lại lòng yêu thương ấy. Tình yêu khi đã được đáp lại, thưở ban đầu qua đi lại rất mau, dường như mỗi người đều muốn đi tìm sự hoàn hảo hơn ngoài người mình yêu. Đó là một khao khát nhưng cũng là một cám dỗ chết người.

Như cơn khát không bao giờ ngơi, con người tự nhiên cũng khát như thế trong mọi chiều kích. Thánh Augustine có một kinh nghiệm: “Chúa vốn ở trong con mà con lại ở ngoài con, và tìm Chúa ở bên ngoài.” Chính vì đi tìm bên ngoài Chúa nên tình yêu con người thường lầm lỗi và đôi khi không lối thoát, gặt hái nhiều đau khổ. Đời sống hôn nhân không còn mặn nồng như ngày đầu yêu nhau.

Cảm nghiệm về tình yêu.

Trong cuộc đời mỗi người, cảm nghiệm về tình yêu xuất phát từ tình bạn cũng cần thiết, bởi những tình bạn ấy cũng cần trong cả giai đoạn hôn nhân để cùng nhau tìm thấy những tình cảm tự nhiên mà trong sáng.

Thánh Augustine tự thuật về tình bạn đó: “”Có nhiều điều khác làm con say mê tâm tình bạn hữu như: chuyện trò cười đùa với nhau và tỏ tình hào hiệp cho nhau; cùng nhau đọc những trang sách hay; đùa giỡn với nhau, tôn trọng lẫn nhau; thỉnh thoảng bất đồng ý kiến với nhau, nhưng không cay cú như thường xảy ra, và chính sự bất đồng ý kiến rất họa hiếm đó càng làm nổi bật sự đồng tâm nhất trí thường xuyên với nhau; dạy bảo và học hỏi lẫn nhau, nhớ mong người vắng mặt, vui vẻ đón tiếp người mới trở về. Từ tâm hồn những kẻ yêu và được yêu lại, các dấu hiệu ấy và các dấu hiệu khác tương tự được biểu lộ qua miệng, lưỡi, con mắt và trăm ngàn cử chỉ rất nhã nhặn khác. Thật là như những ngọn lửa nung nấu tâm hồn làm cho nhiều người hoà hợp nên một” (Tự Thuật).

Tình yêu là sự chín dần.

Tình yêu và thời gian luôn cần song hành với nhau, bởi vì tình yêu cần chín dần trong việc “Yêu mến, hết lòng, hết sức, hết cả trí khôn. Như những trái cây tẩm thuốc để chín ép, chỉ có thể cung cấp cho thị trường, nhìn bắt mắt dễ bán, trao đổi; nhưng lại độc hại cho người sử dụng. Tình yêu không thể như thế, nên tình yêu cần có thời gian, để hiểu nhau hơn, đón nhận và sửa lỗi cho nhau hơn, hy sinh hơn, tha thứ hơn và để yêu thương hơn.

Một tình yêu chín dần, cần đến tình yêu của Chúa, mới có thể tiến xa hơn trong tình yêu nhân loại. Thánh Augustine cầu nguyện với Chúa: ““Xin ban Chúa cho con, lạy Chúa, xin trả Chúa lại cho con. Này con yêu mến Chúa, nếu còn ít, thì chớ gì con yêu mến Chúa nhiều hơn. Con không thể đo lường cho biết tình yêu của con còn thiếu cái gì cho đầy đủ, để đời sống con chạy ôm lấy Chúa, cho đến khi con được ẩn nấp trong mầu nhiệm của nhan thánh Chúa.”

Ngọt ngào của tình yêu.

Vị ngọt của tình yêu khi đã đủ chín mùi, đó là một cảm nghiệm sâu xa trong tình yêu nhân loại: “Sống trong thế gian mà không thuộc về thế gian”. Con người vẫn yêu, yêu một cách say đắm mà không đi vào chỗ chết người, yêu một cách mặn nồng mà không vồn vã.

Một tình yêu êm đềm như thánh Augustine diễn tả: ““Con yêu cái gì khi con yêu Ngài? Không phải là vẻ đẹp của thân xác, không phải là nét duyên dáng theo thời gian, không phải là sự rực rỡ của ánh sáng đáng yêu cho đôi mắt này; không phải là những giai điệu ngọt ngào của các bài ca có cung giọng trầm bổng; không phải là mùi êm dịu của hương hoa, của thuốc thơm; không phải là manna và mật ong; không phải là những chi thể dễ chịu cho ôm ấp thân xác. Con không yêu tất cả những điều này khi con yêu Thiên Chúa của con. Tuy nhiên khi yêu Chúa, con cũng yêu một ánh sáng, một âm điệu, một mùi hương, một của ăn và một sự ôm ấp trong tình yêu của Chúa …” (Tự Thuật X,6,8)

Tình yêu và giữ Lời

Chính vì tình yêu với Chúa là cùng đích của mọi tình yêu nhân loại, tình yêu đó cần được nuôi dưỡng bằng chính Lời của Chúa. Lời dẫn dắt, Lời chữa lành, Lời khuyến khích, an ủi, Lời ban sức sống. Con người tự mình dẫu biết nhưng vẫn khó giữ Lời của Chúa, nên cần cầu nguyện với Chúa luôn để không ngã lòng.

Thánh Augustine nói: “Hãy yêu mến đi rồi làm gì thì làm”. Chính trong lòng yêu mến này mà Thánh Augustine luôn cầu nguyện: “Chúa đã soi sáng, đã chiếu rọi, đã xua đuổi sự mù lòa của con. Chúa đã tỏa mùi hương của Chúa ra và con đã được hít lấy và đâm ra say mê Chúa. Con đã được nếm Chúa và đâm ra đói khát Chúa; Chúa đã đụng tới con và con ước ao sự bình an của Chúa.”  (Tự Thuật)

Xin cho con luôn khao khát và yêu mến Chúa, khi con yêu mến Chúa con sẽ được kéo theo làm tất cả vì lòng yêu mên Chúa. Con sẽ có những tình bạn tốt đẹp, đời sống đôi bạn của nhiều người sẽ thấy niềm vui, hạnh phúc. Con yêu mến Chúa và yêu mến tất cả những gì Chúa ban.

Về mục lục

.

TÌNH YÊU ĐÍCH THẬT VÀ TÌNH YÊU GIẢ DỐI

Lm. Inhaxiô Trần Ngà 

Muốn xác minh vàng thật hay giả, người ta thường lấy lửa thử vàng. Người ta dùng mỏ đốt của máy khò để phun tia lửa có nhiệt độ cao hơn 1.000 độ vào thỏi vàng. Nếu vàng nóng chảy thành chất lỏng và khi để nguội nó trở lại thành vàng như cũ, thì đó là vàng thật; còn nếu trong quá trình đốt, vàng nóng chảy và bay hơi đi mất thì đó là vàng giả.

Phép thử tình yêu

Những chàng trai, cô gái khôn ngoan không chọn bạn đời cách hấp tấp vội vàng vì sợ chọn lầm người. Các bạn biết cân nhắc xem người mà mình đang nhắm đến, có thật sự yêu thương mình bằng tình yêu chân thật hay chỉ là thứ tình cảm giả dối nhằm trục lợi mà thôi.

Bởi vì một cô gái dễ dàng chấp thuận kết hôn với một chàng trai chỉ vì anh này giàu có; hoặc chàng trai thích lập gia đình với cô gái chỉ vì cha mẹ cô này có địa vị cao trong xã hội và có thể giúp chàng tiến thân… vì thế, trước khi chọn bạn trăm năm, người khôn ngoan phải dùng một phép thử, tức là tìm cách nào đó để xác định xem người mà mình nhắm đến, có thật sự yêu thương mình bằng tình yêu chân thật hay chỉ vì tiền bạc, địa vị, công danh…

Thế là người khôn ngoan biết căn cứ vào một số yếu tố nào đó để biết ai là kẻ yêu thương mình thực sự.

Yếu tố để nhận ra ai thực sự yêu mến Thiên Chúa

Qua Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su cho biết Ngài căn cứ vào một yếu tố duy nhất để xác định ai là kẻ yêu mến Ngài thực sự, đó là người thực hành giới răn của Ngài.  

Chúa nói: “Ai vâng giữ các điều răn của Thầy, thì người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy” (Ga 14, 21).

Như thế, ai không tuân giữ giới răn Chúa thì bị xem là người chẳng có lòng yêu mến Chúa.

Ngoài ra, những ai tự cho là mình yêu mến Thiên Chúa mà không thể hiện tình yêu ấy bằng cách tuân giữ giới răn của Chúa, thì đó là thứ tình yêu vô bổ, vì người đó chẳng được vào Nước Trời, như lời Chúa Giê-su nói: “Không phải kẻ nói với Ta: “Lạy Chúa! Lạy Chúa!” là được vào Nước Trời, nhưng chỉ có những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy… mới được vào mà thôi” (Mt 7, 21).

Phần thưởng dành cho người yêu mến Thiên Chúa

Những ai có lòng mến Chúa được thể hiện qua việc tuân giữ các giới răn Chúa, chủ yếu là luật yêu thương, sẽ được lãnh nhận những hồng phúc vô giá.

Hồng phúc thứ nhất là được Thiên Chúa yêu thương: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy” (Ga 14, 21).

Hồng phúc thứ hai là tâm hồn họ trở nên cung điện của ba Ngôi Thiên Chúa, được ba Ngôi Thiên Chúa luôn “ở lại” với mình, như lời Chúa dạy: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” Ga 14, 23).

Và hồng phúc thứ ba là được hưởng hạnh phúc thiên đàng. Trong ngày phán xét, Chúa Giê-su sẽ long trọng ban thưởng hạnh phúc thiên đàng cho người người đó, như lời Ngài phán:

“Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước. Ta đau yếu, các ngươi đã viếng thăm… (Mt 25, 34-35).

Lạy Chúa Giê-su,

Thể hiện lòng yêu mến Chúa bằng cách giữ luật yêu thương là điều kiện cần thiết và không thể thiếu để chúng con được Chúa yêu thương, được Chúa ở cùng trong suốt đời này và được hưởng hạnh phúc đời đời trên thiên quốc.

Xin cho chúng con biết thể hiện lòng yêu mến Chúa bằng cách giữ cho tròn luật yêu thương Chúa dạy để đáng hưởng những phần thưởng vô cùng lớn lao không gì sánh được mà Chúa đã hứa ban.

Về mục lục

.

HIỆP NHẤT TRONG TÌNH YÊU

AM. Trần Bình An

Là cháu nội của Picasso, bà Marina được thừa hưởng 1/5 tài sản của nhà danh họa vào năm 20 tuổi, bao gồm 10.000 trong số 500.000 tác phẩm nghệ thuật đắt giá cùng căn biệt thự nổi tiếng La Californie ở Pháp.

Nhưng cho tới nay, khi đã ở vào tuổi 64, người phụ nữ này vẫn chưa hết ấm ức về những ngày thơ ấu nghèo túng, bị ông nội hắt hủi. Sự oán giận và nỗi khắc khoải đó được khắc họa ít nhiều trong cuốn hồi ký Picasso: Ông nội của tôi xuất bản năm 2001. Trong sách, bà Marina viết ông mình luôn lạnh lùng và xa cách, “khiến những người ở gần phải rơi vào tình cảnh khốn khổ, tuyệt vọng.”

Marina kể rằng bà thậm chí chẳng có tấm hình nào chụp chung với ông nội và chưa bao giờ được chạm vào tác phẩm nào của ông cho tới khi nhận thừa kế. Cha của bà, ông Paulo, là người con đầu tiên mà danh họa Picasso có trong cuộc hôn nhân ngắn ngủi với vũ công ba lê người Nga Olga Khokholova. Gia đình đổ vỡ, Marina và người anh trai Pablito lớn lên trong túng quẫn cùng người mẹ nghiện rượu. “Tôi ít khi thấy cha và tôi không có ông nội” – bà cay đắng.

Sự oán giận đối với ông nội càng gay gắt hơn khi bà Jacqueline Roque, người vợ thứ hai của Picasso, nhất quyết không cho Pablito tới dự lễ tang của đại danh họa vào năm 1973. Chỉ vài ngày sau, Pablito uống thuốc tẩy tự sát. Khi qua đời ở tuổi 91, Picasso không để lại di chúc, dẫn tới một cuộc tranh chấp tài sản căng thẳng trong gia đình. Marina Picasso bất ngờ có tên trong danh sách thừa kế hợp pháp.

“Mọi người nói rằng tôi nên cảm kích. Và tôi thực sự cảm kích nhưng đó là sự thừa kế lạnh lùng chẳng có chút yêu thương.” Bà Marina day dứt. Trong rất nhiều năm sau đó, Marina vẫn úp tranh của ông nội vào tường vì đối với bà, chúng là “những ký ức vô cùng đau buồn.”

Mang nỗi u uất lớn nhưng người phụ nữ gai góc này đã dành cả cuộc đời để thắp lên hy vọng cho những trẻ em thiệt thòi, cũng như những số phận bất hạnh trên thế giới. Bà có 5 người con, trong đó 3 người được nhận nuôi từ Việt Nam. Trên mảnh đất hình chữ S này, bà còn hỗ trợ kinh phí xây dựng một số phòng khám tại Sàigòn, nâng cấp một trại trẻ mồ côi ở quận Gò Vấp, đồng thời xây dựng một trại dưỡng lão…

Ước tính, số tiền thu được từ lần bán tranh sắp tới của bà Marina lên tới 290 triệu USD (hơn 6.000 tỉ đồng) và sẽ tiếp tục đổ vào các hoạt động từ thiện do bà khởi xướng từ hơn 40 năm trước, trong đó có dự án hỗ trợ bệnh viện nhi ở Việt Nam, chăm sóc người già và trẻ em thiệt thòi ở Pháp, Thụy Điển… (Việt Lâm, Thể thao & Văn hóa, Cháu gái Picasso và những ký ức buồn về ông nội )

Hoạ sĩ danh tài Pablo Picasso hoàn toàn không để lại tình yêu cho những người thừa kế, mà chỉ để lại những tác phẩm giá trị và những chua cay, đau khổ. Nay người cháu Marina Picasso muốn sửa chữa lại, biến lòng oán giận thành tình yêu, chia sẻ, bác ái những người bất hạnh. Còn hơn 2000 năm trước, Đức Giêsu để lại cho nhân loại niềm hạnh phúc viên mãn với Tình Yêu, những lời bảo chứng Tình Yêu bền bỉ, cụ thể và viên mãn, qua sự hiệp nhất với Ba Ngôi dành cho những ai tin yêu và tuân giữ Tin Mừng.

Hiệp nhất với Đức Chúa Thánh Thần

“Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ giới răn Thầy. Và Thầy sẽ xin Cha, và Người sẽ ban cho các con một Đấng Phù Trợ khác, để Ngài ở với các con luôn mãi.” Ai tin yêu Đức Giêsu, thì đón nhận, nghe theo và thực hành Tin Mừng, sẽ được Người ban Đức Chúa Thánh Thần đến hộ phù. Bởi vì: “Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, còn hướng đi của Thần Khí là sự sống và bình an… Ai không có Thần Khí của Ðức Kitô, thì không thuộc về Ðức Kitô.” (Rm 8, 6 & 9)

Hơn nữa:“Nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Ðấng đã làm cho Ðức Giêsu sống lại từ cõi chết, thì Ðấng đã làm cho Ðức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới.”(Rm 8, 11)

Hiệp nhất với Đức Chúa Cha

Trong ngày đó, các con sẽ hiểu biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, và các con ở trong Thầy, và Thầy ở trong các con.”  Khi môn đệ Philipphê xin được thấy Đức Chúa Cha, Đức Giêsu trả lời: “Con không tin rằng Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy ưCác lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Ðấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình.”(Ga 10, 10)

Trả lời cho người Do Thái cho rằng Người lộng ngôn, Đức Giêsu công khai xác nhận:  Nếu Ta không làm những việc của Cha Ta, thì các ngươi đừng tin Ta. Nhưng nếu Ta làm những việc đó, thì dầu các ngươi không muốn tin Ta, cũng hãy tin vào các việc đó, để các ngươi biết và tin rằng: Cha ở trong Ta, và Ta ở trong Cha.” (Ga 10, 37-38)

Hiệp nhất với Đức Giêsu

“Ai nhận các luật Thầy truyền và giữ các luật đó, thì người ấy là kẻ mến Thầy.” Yêu Chúa là hiệp nhất với Đức Giêsu, vì đón nhận và thực hành Lời Chúa một cách trung thành và bền vững, mặc bao khó khăn, bao thách đố, bao chống đối của thế gian.

Vì theo Chúa, dĩ nhiên bị thế gian tẩy chay, ganh ghét và trừ khử: “Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian yêu thích cái gì thuộc về nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em.” (Ga 15, 19)

Như vậy, những ai lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa, Tin Mừng là được hồng phúc kết hiệp chặt chẽ với Ba Ngôi Thiên Chúa. Luôn có Chúa trong mình là hạnh phúc tuyệt đỉnh, viên mãn, vô biên.

“Chúa Ba Ngôi ở trong con, con trở nên đền thờ Chúa, con cũng là của lễ toàn thiêu, con là lời ngợi khen không ngừng, con là đóa hoa muôn sắc dâng lên Chúa.”(Đường Hy Vọng, số 244)

Lạy Chúa Giêsu, khi chúng con nghe và thực hành Tin Mừng là chúng con vinh dự trở nên đền thờ Ba Ngôi Thiên Chúa. Kính xin Chúa cho chúng con xứng đáng cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa luôn.

Khấn xin Mẹ Maria cầu bầu, giúp đỡ, biến đổi cung lòng chúng con trở nên khiêm hạ, vâng phục trong sạch và tin yêu, để có thể kính trọng đón rước Chúa Ba Ngôi đến ngự trị luôn mãi. Amen.

Về mục lục

.

VỮNG LÒNG TIN YÊU

Lm. Jos. DĐH.

Trong tình yêu đôi lứa, người ta luôn trân trọng cụm từ thủy chung, vì để chúng vụt mất, một là cuộc tình sẽ gẫy đổ, hai là mối tình của họ, có như không. Trong quan hệ bạn bè, người ta chỉ có thể gắn kết chặt chẽ với nhau bằng những kinh nghiệm thực tế, được chia sẻ, giúp đỡ nhau tận tình. Cuộc sống phức tạp đâu phải chỉ vì lợi nhuận kinh tế, ngoài tình yêu, tình bạn, còn cả một chuỗi dài những ngờ vực, hiểu chưa đúng về nhau. Kẻ có tiền, người có quyền, các đấng bậc đức độ, có uy tín, các cha mẹ bề trên, luôn chi phối, dù mục tiêu là hạnh phúc, gia đình thuận hòa, ai cũng mong đủ điều kiện chu toàn việc bổn phận được giao. Vợ chồng tin tưởng nhau, anh chị em bạn bè hiểu nhau, nghĩ tốt cho nhau, cha mẹ con cháu biết duy trì tình yêu thương, thầy trò tận tâm chia sẻ giúp nhau, hẳn ai cũng mơ ước cuộc sống của mình có được điều tốt đẹp đó.

Chúa Giêsu hôm nay, Ngài không lấy quyền để áp đặt, sai khiến các học trò, Ngài không lấy đời sống đạo đức nhằm dụ dỗ các ông liều mình xả thân để được gọi là anh hùng cứu nước cứu dân tộc. Danh ngôn cuộc sống chỉ rằng: cho tiền cho bạc không bằng chỉ đàng đi buôn. Cho cá thì phải cho cả cần câu, nếu thực hành được như thế, người nhận, người cho đều thấy sự gần gũi chân thật hết tình, hết mình vì yêu thương. Chúa Giêsu không có ý biến các học trò trở nên những thương gia, cũng chẳng chủ trương nhắn bảo: có thực mới vực được đạo, Ngài cần một điều nơi các ông: “nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ lời Thầy”. Yêu mến là nỗ lực nhằm giúp người ta không cảm thấy mình bị côi cút, tâm hồn phấn chấn hơn, nhờ tự tin mà người ta đủ ý thức mình không phải lẻ bóng đơn côi.

Trong tình nghĩa thầy trò, Chúa Giêsu quả quyết Đấng Phù Trợ là Thần Chân Lý sẽ hiện diện, giúp các ông chu toàn sứ mạng được giao phó, chỉ cần các ông vững lòng tin yêu, sống lời mời gọi của Thầy Giêsu. Tục ngữ có câu: dốt đến đâu, học lâu cũng biết, Chúa Giêsu thì hướng các học trò đến niềm tin và sức mạnh của tình yêu, hoàn toàn không phải do kiên nhẫn hay sức riêng. Các môn đệ giới hạn đủ mọi mặt, tương quan giữa tình thầy trò, tình anh em còn nhiều thiếu sót, giáo huấn của Đức Giêsu các ông chưa hiểu, chưa thể nắm bắt ! Những người học trò ấy, hôm nay lại nghe nói tới sự hiện diện của Thần Chân Lý, khi đặt để các học trò trong tương quan yêu mến, Chúa Giêsu nói: “nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy tuân giữ giới răn của Thầy”. Nếu không yêu, không sống giới luật yêu thương, họ cũng chỉ nghe như vịt nghe sấm mà thôi.

Kinh nghiệm người xưa nói rằng: mất tiền, mất của, không mất, nhưng mất niềm tin, là mất tất cả. Chính sự kết hiệp nên Một trong tình yêu giữa Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần, làm nên điều kỳ diệu “chảy tràn” tới các học trò lòng yêu mến, biết tuân giữ giáo huấn của Thầy Giêsu. Ngày hôm nay, người ta đang bằng nhiều phương thế để lập kỷ lục, để được gọi là đẳng cấp, họ cũng nhận ra, vinh quang và danh dự chỉ đến được với người không mất niềm tin, biết tôn trọng kỷ luật bản thân và qui tắc sống. Tất cả mọi danh hiệu, tất cả những gì tồn tại nơi cuộc sống, sẽ không phải là chức tước, bổng lộc, mà chính là niềm tin, dấu chỉ của bình an hạnh phúc.

Người môn đệ của Đức Giêsu hôm nay khi nói tới sự hiện của tình yêu, chúng ta vẫn hiểu đó là tác động của Thánh Thần, là ơn ban của các Bí tích, là mẫu mực của tình cha nghĩa mẹ… Ở trong Đức Giêsu, Ngài sẽ nói “hãy vững lòng tin yêu”, để rồi mọi người hiểu rằng: “Thầy ở trong Cha Thầy, và các con ở trong Thầy, và Thầy ở trong các con”. Nhận biết Đức Giêsu vừa thiêng liêng vừa hữu hình, mỗi người phải trở nên môn đệ, trở nên người biết sống mến yêu, biết thực thi ơn gọi làm công dân Nước Trời. Để được yêu và chia sẻ yêu thương, người ta phải hiểu yêu là gì, Đấng ban phát cho ta tình yêu là ai, và cần có điều kiện nào để tình yêu Giêsu sẽ hiện diện mãi trong cuộc đời ta.

Nhiều người hôm nay cũng đang thắc mắc, tại sao yêu người anh chị em của mình khó quá, trong khi ghét bỏ và nói hành nói xấu, làm hại thanh danh của họ thì dễ hơn ! Thực ra khi ta tự mãn về khả năng hiểu biết của mình, về điều hay điều tốt của mình, lúc đó ta khó lòng nhận ra điểm tốt, nghĩa cử đáng yêu nơi anh chị em mình. Nghịch lý ấy, cha ông chúng ta cùng từng nói: khi yêu củ ấu cũng tròn, khi không yêu thì củ bồ hòn cũng méo. Làm sao ta đủ khiêm tốn để nhận ra sự giới hạn của mình ? ta cần trang bị cho mình những kiến thức gì để đủ nhận ra mọi người đang yêu thương ta ? Chúa Giêsu Ngài vẫn đang nói với chúng ta: “hãy vững lòng tin yêu”, tình yêu sẽ biến đổi được tâm tính của con người, chính tình yêu sẽ thay đổi cách suy nghĩ, và làm cho ta đủ khiêm tốn để đón nhận Thần Chân Lý, để sống giới luật yêu thương. Amen.

Về mục lục

.

ĐẤNG PHÙ TRỢ LÀ THÁNH THẦN CỦA THIÊN CHÚA

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Kinh nghiệm cuộc sống cho thấy, phía sau thành công của một người thường có biết bao sự trợ giúp của những người khác. Các nhà lãnh đạo chính trị hay tôn giáo cũng cần phải có một ban cố vấn trợ giúp các công việc phía sau. Nhiều nhà khoa học hoặc những người thành công, thành danh thì phía sau những thành công ấy là sự trợ giúp của một người bạn, hoặc của chính người vợ, vì mỗi người không thể tự mình làm được tất cả mọi sự.
Chúa Giêsu cũng thấy rằng, tự sức các tông đồ khi được trao một sứ mạng to lớn là làm thay đổi thế giới thì các ông sẽ không thể thực hiện được. Vì thế, trước khi chia tay với các tông đồ, Chúa Giêsu đã hứa sẽ xin với Chúa Cha để Ngài ban cho các tông đồ cũng là cho Giáo Hội một Đấng Bảo Trợ  là Thánh Thần. Đấng Bảo Trợ sẽ dẫn dắt Giáo Hội đi trên con đường của Chúa Giêsu và giúp cho Giáo Hội ngày càng lớn mạnh, vươn mình, tỏa bóng trên thế giới. Từ mười hai con người nhỏ bé tầm thường, nhờ sự bảo trợ của Chúa Thánh Thần, các ông đã trở nên những con người thay đổi hoàn toàn bộ mặt thế giới này.
1/ Thánh Thần – Đấng Bảo Trợ, giúp các tông đồ và các tín hữu tuân giữ các giới răn của Chúa, tức là giúp họ trung thành với Tin Mừng: Nếu anh em yêu mến Thầy, thì sẽ giữ các điều răn của Thầy. Thầy sẽ xin với Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác, để Ngài ở cùng anh em luôn mãi. Các tông đồ y thức mình được trao cho kho tàng Lời Chúa, vì thế, các ông đã gìn giữ nguyên vẹn, đã sống, đã rao giảng và trao truyền lại cho các thế hệ tín hữu.  Sau khi sống lại, Chúa Giêsu đã trao cho các tông đồ một sứ mạng hết sức lớn lao và cấp bách: Các con hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Các tông đồ sẽ không thể chu toàn được sứ mạng này bằng sức riêng của mình, nhưng bằng sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Chính các tông đồ ý thức được điều này, nên các ông đã vượt qua sự sợ hãi, vượt qua sự co cụm tại Giêrusalem để tỏa đi muôn nơi.
Đấng Bảo Trợ biến đổi và giúp các tông đồ dần dần hiểu, tin những giới răn và lời Chúa Giêsu dạy. Trước đây đi theo Chúa Giêsu, nghe những lời giảng dạy của Chúa, các tông đồ dường như chỉ để ngoài tai hoặc nghe một cách hờ hững, nên các ông chưa thể hiểu và cũng chưa tin đủ. Vì thế đã nhiều lần Chúa Giêsu khiển trách các ông về thái độ này. Trước đây theo Chúa Giêsu, các ông tìm kiếm danh vọng, địa vị xã hội, nay nhờ sức thúc đẩy của Đấng Bảo Trợ, các ông không còn quan tâm đến bản thân, gia đình hoặc lợi ích cá nhân nữa, nhưng dành trọn cuộc đời cho sứ mạng loan báo Tin Mừng. Trước đây, các ông ngại khó, ngại khổ, sống trong sợ hãi, nay các ông hân hoan đón nhận đau khổ, đòn vọt, tù đày vì Chúa Giêsu.
2/ Sách Công Vụ Tông Đồ đã cho thấy cách rõ ràng sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần, Đấng Bảo Trợ cho Giáo Hội. Đoạn sách hôm nay kể về ông Phêrô, Philipphê và Gioan. Philipphê đến thành Samaria, một thành phố vốn bị coi như dân lai tạp về tôn giáo và chủng tộc. Samaria cũng được biết đến như một vùng thờ nhiều thần linh của dân ngoại, vậy mà khi Philipphê vừa tới đó rao giảng, Thánh Thần đã quy tụ họ, làm cho đám đông nên một lòng chú ý nghe những lời giảng của Philipphê. Bóng tối của sự chết, đau khổ, bệnh tật cùng các thần ô uế bị xua trừ, dân Samaria được biến đổi, họ vui mừng hân hoan đón nhận giáo lý mới từ các tông đồ. Nghe tin về sự biến đổi và đón nhận Tin Mừng của dân thành Samaria, Phêrô, với tính cách là thủ lãnh Giáo Hội, và Gioan đã đến với họ. Hai ông đã cầu nguyện, đặt tay trên họ để cho họ được lãnh nhận Thánh Thần. Điều đó cho thấy, Thánh Thần đã cư ngụ đầy tràn trên các tông đồ, và cho các ông quyền tiếp tục nhân danh Chúa Giêsu để trao ban Thánh Thần cho các tín hữu.
3/ Tất cả những lời nói, việc làm và đời sống của các tông đồ đã cho thấy Chúa Thánh Thần, Đấng Bảo Trợ mà Chúa Giêsu đã hứa, nay đang hoạt động mạnh mẽ nơi các ông. Qua các tông đồ, Thánh Thần cũng được ban dồi dào trên các tín hữu và còn ghi một dấu ấn không phai mờ nơi tâm hồn các tín hữu, biến họ trở thành những người vĩnh viễn thuộc về Chúa Kitô.
Thánh Phêrô đã tin vào Chúa Giêsu, đã đón nhận được sức mạnh của Thánh Thần và đã dạy chúng ta: Đức Kitô là Đấng Thánh, hãy tôn Người làm Đấng ngự trị trong lòng anh em. Một khi có Chúa Kitô làm chủ cuộc đời, chúng ta sẽ không còn sợ hãi bất cứ điều gì, cũng không tìm kiếm điều gì khác ngoài Chúa Kitô. Thánh Phêrô đã có kinh nghiệm này và đã dạy chúng ta: Hãy trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm tin của anh em. Hãy cư xử hiền hòa và kính trọng với những người phỉ báng, vu khống, ghét bỏ mình; hãy giữ một lương tâm ngay thẳng trong mọi nơi mọi lúc. Đó cũng là những điều Thánh Phêrô nhân danh Chúa Kitô và dưới sự thúc đẩy của Thánh Thần đã dạy chúng ta phải thực hiện.
a/ Hãy trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm tin của anh em. Những người tin vào Chúa Giêsu luôn bị người đời ghét bỏ, nghi kỵ, loại trừ, có những người tìm cách xuyên tạc đức tin và giáo lý của chúng ta. Hãy trả lời cho họ không chỉ bằng lời, mà còn bằng chính đời sống và việc làm của chúng ta. Người ta sẽ không thể tin chúng ta là những người Công giáo mà lại có một cuộc sống bê bối, gian tham lừa lọc; người ta không thể tin Hôn nhân Công Giáo là một vợ một chồng, thủy chung cho đến chết, khi những người Công giáo dễ dàng lừa chồng, dối vợ, để cho gia đình mình hoặc con cái bị rạn nứt, đổ vỡ, chia lìa. Chúng ta chỉ có thể trả lời cho những người chất vấn về niềm tin của chúng ta bằng lối sống yêu thương, bác ái, phục vụ.
b/ Cư xử hiền hòa và kính trọng với những người phỉ báng, vu khống. Theo phản ứng tự nhiên, con người dễ dàng nổi giận và phản ứng mạnh mẽ khi bị phỉ báng, vu khống ; nhiều người đã chọn giải pháp ăn miếng trả miếng, trả oán trả thù. Nhưng là những người thuộc về Đức Kitô và thuộc về Thánh Thần, chúng ta phải cư xử hiền hòa, nhân từ, độ lượng với mọi người, kể cả những người vu khống, làm tổn thương mình. Chúng ta được mời gọi sống quảng đại tha thứ và đón nhận người khác, kể cả những người không thích hoặc thù oán với chúng ta. Đồng thời, mỗi người còn phải biết nhìn lại mình và biến mình trở nên dễ thương dễ mến trong mắt người khác, kể cả trong mắt những kẻ thù ghét mình.
c/ Giữ lương tâm ngay thẳng trong mọi nơi mọi lúc. Trong hoàn cảnh xa hội suy thoái về đạo đức, tiếng lương tâm nơi nhiều người đã trở nên yếu ớt hoặc lệch lạc. Chúng ta được mời gọi phải sống và hành động theo tiếng nói của lương tâm và không ngừng huấn luyện lương tâm của mình cho đúng chuẩn. Hãy dùng việc suy niệm Lời Chúa để huấn luyện lương tâm của mình, để cho Tin Mừng cắt tỉa, uốn nắn những chỗ sai lầm, lệch lạc trong lương tâm và giúp cho lương tâm có một độ nhạy bén cần thiết. Chỉ khi thường xuyên được huấn luyện như thế, lương tâm mỗi người mới có đủ khả năng phản ứng theo sự thật và chân lý, mới có khả năng nhắc nhở và chỉ dẫn cho những hành động của con người.
4/  Đấng Bảo Trợ là Chúa Thánh Thần đã được ban cho mỗi người, chỉ có điều là chúng ta đã để cho Ngài hiện diện, hoạt động và tác động trong chúng ta ra sao mà thôi. Ngài không thay thế chúng ta, cũng không làm mất bản chất con người chúng ta, nhưng Ngài sẽ soi sáng, thúc đẩy và ban sức mạnh để chúng ta dám chọn sống theo giới răn lề luật của Thiên Chúa, sống và làm chứng cho sự thật của Tin Mừng. Đấng Bảo Trợ sẽ bảo vệ, hỗ trợ chúng ta khi chúng ta trung thành với ơn gọi làm Kitô hữu để mỗi ngày chúng ta được thanh luyện nên giống Chúa Kitô và là người mang Chúa Kitô trong cuộc sống.
Đức Maria, Đấng đã hoàn toàn xin vâng để cho Chúa Thánh Thần hoạt động trên cuộc đời của Mẹ, xin Mẹ giúp chúng ta cũng biết noi gương Mẹ để cho Chúa Thánh Thần hoạt động và biến đổi chúng ta. Amen.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH. NĂM A

Lm. Anthony Trung Thành

Vâng lời Đức Chúa Cha, Đức Giêsu đã xuống thế làm người để cứu độ nhân loại. Sau khi sống cuộc đời ẩn dật ở Nazareth, Ngài bắt đầu cuộc sống công khai. Sứ mạng chính của Ngài là rao giảng Tin mừng. Nhưng Ngài biết thời giờ của Ngài ở thế gian không còn được bao lâu, nên cùng lúc rao giảng Tin Mừng, Ngài đã tuyển chọn một số người mà Kinh thánh gọi là Tông đồ để trao cho họ sứ mạng của Ngài. Ngài quan tâm số người này một cách đặc biệt. Trước khi chọn họ, Ngài đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa (x. Lc 6,12-16). Sau những giờ rao giảng cho dân chúng, Ngài thường gặp riêng họ để dặn dò, hoặc giải thích thêm những điều mà họ chưa hiểu. Ngài còn dành thời gian để dạy cho họ về những bài học cao quý của người lãnh đạo, nhất là bài học về tinh thần phục vụ. Ngài nói: “Các con biết rằng những người được coi là lãnh tụ các nước, thì sai khiến dân chúng như ông chủ, và những người làm lớn thì lấy uy quyền mà trị dân. Còn các con không như thế. Trái lại, ai trong các con muốn làm lớn, thì hãy tự làm đầy tớ anh em. Và ai muốn thành người cầm đầu trong các con, thì hãy tự làm nô lệ cho mọi người. Vì chính Con Người cũng không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người” (Mc 10,42-45).

Đặc biệt, trong bữa tiệc ly, Ngài không những “dạy” mà còn “làm gương” cho các ông bằng cử chỉ rửa chân. Sau khi thực hành điều đó, Ngài nói: “Anh em gọi Thầy là ‘Thầy’, là ‘Chúa’, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em.” (Ga 13,13-15).

Tin mừng hôm nay cũng cho chúng ta biết, tuy Ngài sẽ về lại với Chúa Cha, nhưng “Ngài không để cho các ông mồ côi” (Ga 14,18). Thứ nhất, Ngài sẽ ban Đấng Phù Trợ đến. Đấng Phù Trợ đây là Thần Chân Lý, tức là Chúa Thánh Thần, là Thiên Chúa Ngôi Ba sẽ ở với các Tông đồ và Giáo Hội. Thứ hai, tuy Ngài sẽ về với Chúa Cha, không còn hiện diện thực sự như Ngài đã từng hiện diện với các ông trong suốt ba năm qua, nhưng Ngài sẽ ở với các ông, với Giáo Hội mỗi ngày cho đến tận thế bằng Lời của Ngài, bằng các Bí tích và bằng sự hiện diện một cách thiêng liêng. Điều này đã được chứng minh bằng những lần hiện ra sau khi Ngài phục sinh.

Nhưng Đức Giêsu đòi hỏi các Tông đồ là phải yêu mến Ngài. Cũng như trước khi trao sứ vụ Tông đồ trưởng cho Phêrô, Ngài đã muốn ông xác nhận về lòng yêu mến (x. Ga 21,15-19). Vì thế, lòng yêu mến hết sức quan trọng. Thánh Augustinô cũng đã từng nói: “cứ yêu rồi muốn làm gì thì làm”. Nhưng làm thế nào để chứng minh được lòng yêu mến? Đức Giêsu cho biết, lòng yêu mến được thể hiện qua việc thực hiện những lệnh truyền của Ngài, Ngài nói: “Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ giới răn Thầy”(Ga 14,15); “Ai nhận các luật Thầy truyền và giữ các luật đó, thì người ấy là kẻ yêu mến Thầy”(Ga 14,21).

Như vậy là đã rõ: Yêu mến Đức Giêsu là tuân giữ các luật của Ngài. Hay nói cách khác, kẻ giữ luật Đức Giêsu mới là kẻ yêu mến Ngài. Luật của Ngài là những giáo huấn được ghi lại trong Thánh Kinh và được lưu truyền qua Thánh truyền. Luật của Ngài được tóm lại trong mười điều răn là mến Chúa yêu người.

Các Tông đồ đã yêu mến Đức Giêsu một cách tuyệt đối và vô vị lợi. Bởi vì, các ông đã thực hiện trọn vẹn giới răn của Đức Giêsu. Vì lòng yêu mến Chúa vô vị lợi nên các Ngài đã phục vụ tha nhân hết mình và cuối cùng các Ngài đã lấy cái chết để làm chứng cho lòng yêu mến của các Ngài vào Đức Giêsu. Các bài đọc hôm nay chứng minh cho chúng ta phần nào.

Bài đọc 1, cho chúng ta thấy cách thức các Tông đồ và các thừa tác viên trong hội thánh sơ khai đã thực hiện giới răn của Đức Giêsu, đó là rao giảng, làm phép lạ, trừ quỷ, chữa lành bệnh tật. Sách Công Vụ tường thuật: “Trong những ngày ấy, Philipphê đi xuống một thành thuộc sứ Samaria, rao giảng Ðức Kitô cho họ. Dân chúng chú ý đến những lời Philipphê rao giảng, vì họ cũng nghe biết và xem thấy các phép lạ ngài làm. Quỷ ô uế đã ám nhiều người trong họ, lúc đó kêu lớn tiếng và xuất ra. Nhiều người bất toại và què quặt được chữa lành. Bởi đó cả thành được vui mừng khôn tả”(Cv 8,5-8). Đồng thời, các Tông đồ còn ban Bí tích Thêm sức cho họ: “Khi các Tông đồ ở Giêrusalem nghe tin Samaria đón nhận lời Thiên Chúa, liền gởi Phêrô và Gioan đến với họ. Khi đến nơi, hai ngài cầu nguyện cho họ được nhận lãnh Thánh Thần: vì chưa có ai trong họ được nhận lãnh Thánh Thần, họ mới chỉ được chịu phép rửa nhân danh Chúa Giêsu. Bấy giờ các ngài đặt tay trên họ, và họ nhận lãnh Thánh Thần”(Cv 8,14-17).

Bài đọc II cũng cho chúng ta biết, sau khi thấm nhuần giáo huấn của Thầy Chí Thánh, Thánh Phêrô gửi thư dặn dò các kitô hữu hãy sống niềm tin của mình như thế nào? Đối với Thiên Chúa, Ngài dạy: “Anh em hãy tôn thờ Thiên Chúa trong lòng anh em” (x. 1Pr 3,15). Trước mặt những người lương dân: “hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời thoả mãn cho mọi kẻ hỏi lý do của niềm hy vọng nơi anh em, nhưng phải làm cách hiền từ, kính cẩn, hãy có lương tâm ngay chính, để những kẻ lăng mạ đời sống đạo đức của anh em trong Ðức Kitô, phải hổ thẹn về điều họ gièm pha anh em”(1Pr 3, 15-16). Rồi, Ngài còn nhấn mạnh: “Vì nếu Thiên Chúa muốn, thì thà làm việc thiện mà đau khổ còn hơn là làm điều gian ác”(1Pr 3, 17).

Đó là lòng yêu mến một cách vô vị lợi qua tinh thần giữ luật Chúa của các Tông đồ. Còn đối với mỗi người chúng ta thì sao?

Chúng ta có yêu mến Chúa và yêu tha nhân một cách vô vị lợi không? Hay nói cách khác, chúng ta có tuân giữ luật Chúa, một cách vô vị lợi không? Bởi vì, tình yêu vô vị lợi là tình yêu không so đo tính toán. Tình yêu vô vị lợi là tình yêu quảng đại, vị tha, cho đi, luôn muốn cho người mình yêu được hạnh phúc. Tình yêu vô vị lợi là tình yêu chỉ nghĩ đến Chúa đến tha nhân chứ không nghĩ đến mình. Tình yêu vô vị lợi là tình yêu đòi hỏi phải có sự hy sinh. Pierre l’Ermite đã nói: “Nếu biết tình yêu có chân thật hay không, hãy bỏ tình yêu vào máy ép, nếu nó tiết ra chất hy sinh vô vị lợi, đó là tình yêu thật.” Đó chính là tình yêu của Đức Giêsu dành cho nhân loại mà chóp đỉnh của tình yêu này là thí mạng sống cho nhân loại. Chính Ngài đã nói: “Không có tình yêu nào lớn bằng tình yêu của người chết cho người yêu” (Ga 15,13). Đó là tình yêu của Cha Maximiliên Kôlbê, chấp nhận chết thay cho người bạn tù vì anh ta còn vợ trẻ con thơ.

Hay chúng ta đang yêu mến Chúa, yêu thương tha nhân bằng một tình yêu vị lợi? Tức là tình yêu ích kỷ, chỉ nghĩ đến mình, tìm hạnh phúc cho mình chứ không nghĩ đến Chúa, đến tha nhân. Thậm chí có khi coi Chúa, coi tha nhân như là phương tiện để phục vụ cho mình. Thực tế, có rất nhiều người đi đạo nhưng không giữ đạo. Họ chỉ chạy đến với Chúa với Giáo Hội khi họ cần cho họ, như khi lãnh nhận bí tích hôn phối, khi đưa xác người thân đến nhà thờ. Có nhiều người nói yêu tha nhân nhưng thực sự chỉ để lợi dụng tha nhân khi cần, vì chưa bao giờ họ muốn cho tha nhân được hạnh phúc.

Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa, vì trước khi về trời Chúa đã không để chúng con mồ côi nhưng đã ở lại với chúng con bằng nhiều thể nhiều cách. Xin cho chúng con luôn biết yêu mến Chúa bằng việc tuân giữ giới răn và thực hành lời của Chúa. Amen.

Về mục lục

.

THẦY KHÔNG ĐỂ ANH EM MỒ CÔI

Lm. Gioan Nguyn Văn Ty

Thú thật nhiều khi lướt qua câu nói này của Đức Giê-su, tôi chỉ coi đó là một lời ví von văn vẻ của một ngưởi, vì biết rằng mình sắp phải ra đi vĩnh viễn nên nói thế để an ủi các môn đệ buồn phiền; thế nhưng toàn bộ mạch văn lại cho thấy Người không coi nhẹ vấn đề như thế, và ngôn từ ‘mồ côi’ Người sử dụng là có chủ đích và mang một nội dung hết sức sâu sắc. Câu nói ‘Thầy sẽ không để anh em mồ côi, Thầy đến cùng anh em!’ xác định trước hết tương quan bền chặt giữa Người với các môn đệ; nó hé mở cho thấy: sự phục sinh của Người sẽ chiến thắng cả sự chia cắt của chết chóc, rồi nữa nó còn cho thấy vai trò đích thực của nhân vật ‘Đấng Bảo Trợ’ sẽ được phái đến.

Thường thì một người được gọi là ‘mồ côi’ khi mất cha hay mất mẹ đẻ, mất những người thân máu mủ mà họ gắn bó lệ thuộc về mọi mặt trong cuộc sống tự nhiên của cuộc đời. Từ ngữ ‘mồ côi’ tự nó diễn tả một mất mát cực kỳ to lớn không gì có thể bù đắp được, cho dầu sau đó có thể sẽ xuất hiện những cha mẹ nuôi hay người đỡ đầu với những tương quan mật thiết và chặt chẽ không hề thua kém.

Đức Giê-su đã nhiều lần đề cập tới mối tương quan thân mật và bền chặt giữa Người với các môn đệ tin vào Người! Người đã từng sử dụng nhiều hình ảnh sống động và cụ thể để diễn tả mối tương quan này như: ‘Mục tử nhân lành hiến mạng sống mình vì đàn chiên’, ‘cành nho phải dính liền với thân cây nho’…; và trên hết Người sử dụng không úp mở hình ảnh của người cha, người mẹ đối với đứa con thơ. Như thế niềm tin Ki-tô hữu không chỉ dừng lại ở việc chấp nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa quyền năng, thậm chí ở việc sống và đem ra thực hành các học thuyết cao đẹp mà Đức Giê-su rao giảng. Niềm tin Ki-tô hữu phải ‘hiện sinh’ (existential faith) hơn nhiều vì nó tác động tới sự hiện hữu sâu xa nhất của con người! Nơi người tín hữu: niềm tin đặt nơi Thiên Chúa phải chiếm vị trí mà cha mẹ đẻ chiếm trong cuộc sống đời thường. Vai trò của Người phải thiết yếu tới độ, nếu thiếu nó, ta sẽ lâm vào tình cảnh của một đứa trẻ mồ côi đáng thương không gì khỏa lấp được. Thực vậy, loài người nói chung và từng con người nói riêng đã thực sự lâm vào tình cảnh côi cút do tội lỗi họ phạm. Họ bơ vơ vất vưởng còn hơn cả ‘bầy chiên không người chăn dắt’, Đức Giê-su đã diễn tả như vậy (Mt 9:36).

Khi đến trần gian, Đức Giê-su đã rao truyền một sứ điệp thực sự độc đáo và căn bản: Thiên Chúa là Cha, một Người Cha đầy từ tâm và hay thương xót! Và không chỉ rao truyền bằng lời giảng dạy, bằng chính cuộc sống và nhất là cái chết của mình, Người đã cụ thể cho thấy Chúa Cha đó là ai và là gì: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14:9). Đứng trước tình cảnh côi cút vất vưởng bơ vơ của con người, Đức Giê-su đã trở thành người bảo trợ – ‘Paraclet’. Các nhà chú giải Kinh Thánh cho biết, từ Hy Lạp ‘Parakletos’là một đặc ngữ của Gio-an, và mang nội dung rất đa dạng; nó có thể được hiểu là người hỗ trợ, kẻ bảo vệ chở che, vị cố vấn trạng sư, đấng bầu chữa trung gian…; tóm lại, Đức Giê-su dùng từ này để diễn đạt vai trò của Người đối với từng người chúng ta trong thân phận côi cút do tội lỗi gây nên: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi, Thầy đến cùng anh em”. Như thế Đức Ki-tô chính là đệ nhất Parakletos, và Người thực hiện chức năng này cách hoàn hảo qua cái chết Thập Giá của Người, một thể hiện cho phép mỗi chúng ta có khả năng đụng chạm tới, cảm nghiệm được cách sinh động nhất thứ tình yêu bao bọc có khả năng vĩnh viễn xua tan mọi mạc cảm bơ vơ côi cút đã tồn tại từ bao đời. Và một khi phải rời bỏ cõi thế để trở về cùng Chúa Cha, Đức Giê-su hứa với các môn đệ rằng, Người sẽ mãi mãi tiếp tục hiện diện qua việc “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi”. Như vậy Đức Giê-su chính là ‘Đấng Bảo Trợ’ đệ nhất; Thần Khí được Người phái đến sau sẽ tiếp tục công việc và vai trò bảo trợ mà Người đã khởi đầu; “Đó là Thần Khí sự thật… vì anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em”.  

Nếu sự thực là như thế, thì dầu có sống giữa một thế giới đầy hận thù chia rẽ, Ki-tô hữu hẳn phải cảm thấy mình được ưu đãi hơn hết thảy mọi người! Kể từ ngày lãnh nhận bí tích rửa tội, họ biết mình được bảo trợ cách đặc biệt, không phải chỉ trong việc chống chọi với các thế lực thù nghịch bên ngoài, mà ngay cả bên trong nữa trước tình trạng cô đơn lạnh lẽo của tội lỗi. Họ sẽ không bao giờ còn cảm thấy côi cút và bị ruồng bỏ, ngay cả giữa những yếu đuối và bất toàn, vì đã có Parakletos là Đức Ki-tô và Thần Khí của Người! Và Thần Khí sẽ không ngừng bảo đảm với họ rằng: Parakletos – Ki-tô đó sẽ mãi mãi “ở giữa và ở trong anh em”. Nếu quả đúng như thế thì rỏ ràng các Ki-tô hữu đang sở đắc một Tin Mừng ‘thứ thiệt’ có khả năng tác động sâu xa tới hiện hữu sinh động (active existence) của họ.; điều này chắc chắn phải mang lại cho họ niềm vui bất tận vì luôn cảm thấy mình được yêu thương.

Niềm tin của tôi, cũng như của bất kỳ Ki-tô hữu nào, sẽ không thể thiếu vắng cảm nhận đầy an ủi này! Thế nhưng vấn đề là ở chỗ: tôi đã bao giờ cảm nghiệm thấy điều đó chưa?

Lạy Đấng Bảo Trợ của con là Thần Khí của Đức Ki-tô Giê-su, con cảm tạ Ngài khôn xiết vì đã giải thoát con khỏi mạc cảm mồ côi theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Được biết con có một Người Cha nhân hậu là chính Chúa Cha, một Người Anh sẵn sàng chết để cứu con trong mọi hoàn cảnh, và một Thần Khí an ủi hằng tác động bên trong, con nguyện sống trong niềm hân hoan không bao giờ tàn lụi của Tin Mừng Chúa. Xin cho thật nhiều người được cùng con chia sẻ niềm hạnh phúc lớn lao này. A-men.

Về mục lục

.

AI MỚI THỰC SỰ YÊU MẾN CHÚA

 Lm. Đan Vinh

I.  HỌC LỜI CHÚA

  1. TIN MỪNG: Ga 14,15-21

(15) Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. (16) Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác, đến ở với anh em luôn mãi. (17) Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận. Vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em. (18) Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em. (19) Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. (20) Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em. (21) Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Chúa Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến Người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy”.

  1. Ý CHÍNH:

Bài Tin Mừng hôm nay trích trong bài diễn từ giã biệt của Đức Giê-su trước khi chịu khổ nạn, phục sinh và lên trời với Chúa Cha. Trong thời gian vắng mặt, Đức Giê-su hứa sẽ ban cho các Môn đệ một Đấng Bảo Trợ khác là Chúa Thánh Thần để ở với các ông luôn mãi. Người cũng hứa sẽ không bỏ mặc các ông mồ côi, nhưng sẽ hiện diện bên các ông một cách thiêng liêng. Những ai thực sự yêu mến Người thì phải tuân giữ các giới răn của Người. Ai làm như vậy thì sẽ được Chúa Cha yêu mến và còn được Người bày tỏ sự thật của mình ra cho họ biết.

  1. CHÚ THÍCH:

– C 15-17: + Nếu anh em yêu mến Thầy…: Đối với Đức Giê-su, tình yêu không chỉ dừng lại ở tình cảm tâm hồn hay cảm xúc thể xác, mà phải được biểu lộ trong hành động vâng phục là tuân giữ các giới răn của Người, cũng như Người đã yêu mến Chúa Cha và luôn tuân giữ các lệnh truyền của Chúa Cha (x. Ga 15,10). + Đấng Bảo Trợ khác: Bảo Trợ tiếng Hy Lạp là Pa-ra-cle-tos, ám chỉ một người được mời đến để làm trạng sư bênh vực và bầu chữa cho bị cáo khi tòa án xét xử. Ở đây Thánh Thần sẽ bầu chữa cho các môn đệ, trong vụ kiện đối với thế gian trước tòa án của Thiên Chúa. Qua đó cho thấy chỉ có một Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người là Chúa Giê-su (x. 1 Tm 2,5), nhưng lại có hai Đấng Bảo Trợ: Một là “Đức Giê-su Ki-tô là Đấng công chính” (x. 1 Ga 2,1), cũng là “Đấng hằng sống để chuyển cầu cho chúng ta” (x. Dt 7,25); Hai là Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ khác (x. Ga 14,16) là “chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta bằng những tiếng rên siết khôn tả” (x. Rm 8,26). + Đến ở với anh em luôn mãi: Sứ mệnh cứu thế của Đức Giê-su sẽ hoàn tất khi Ngài được tôn vinh (x. Ga 7,39), nghĩa là khi Người tắt thở trên cây thập giá (x. Ga 19,30). Từ đây Người trao ban Thần Khí là Chúa Thánh Thần cho nhân loại để thực hiện một cuộc tạo thành mới. Thời kỳ của Chúa Thánh Thần sẽ kéo dài mãi đến ngày tận thế. + Thần Chân Lý: là Thánh Thần, phát xuất từ Đức Giê-su là chân lý (x. Ga 14,6), Đấng luôn nói sự thật của Chúa Cha (x. Ga 12,49) và sau khi phục sinh đã thổi hơi ban Thần Khí cho các Tông đồ (x. Ga 20,22). Thần Chân Lý đối lập với ma quỷ là cha của sự dối trá (x. Ga 8,44). + Đấng mà thế gian không thể đón nhận: Vì Thánh Thần là Thần Khí thiêng liêng, nên thế gian không thể thấy và không thể đón nhận Người. Thế gian ở đây là các đầu mục của người Do thái, những kẻ kiêu căng, ích kỷ, thù hận, không tin Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai. Họ không biết và không muốn đón nhận Thánh Thần của Người nên họ sẽ bị chết trong tội của mình (x. Ga 8,22-24). + Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em: Các Tông đồ nhờ đức tin sẽ đón nhận Thánh Thần, nên sẽ được Ngài ở cùng và dạy dỗ toàn vẹn sự thật.

– C 18-19: + Thầy sẽ không để anh em mồ côi…: Mồ côi là tình trạng con cái bị mất cha mẹ nên không có người chăm sóc nuôi dưỡng, học trò bị mất thầy nên không được ai dạy dỗ hướng dẫn. Ở đây Đức Giê-su có ý nói rằng: sau khi từ cõi chết sống lại, dù Người không còn ở với các môn đệ như hiện tại, nhưng Người vẫn luôn ở cùng các ông nhờ đức tin và ơn thánh. + Chẳng bao lâu nữa: Người hứa sẽ mau trở lại (x. Ga 16,19.22). + Thế gian sẽ không còn thấy Thầy: Đức Giê-su sắp chịu chết và người đời sẽ không còn thấy Người sau khi Người sống lại, vì từ nay Người không còn hiện diện bằng thân xác nữa. + Anh em được thấy Thầy: Thấy ở đây là bằng đức tin: tin Chúa Giê-su là Đấng Ki-tô Con Thiên Chúa. Nhờ tin, các ông sẽ được tham dự vào sự sống siêu nhiên và kết hiệp mật thiết với Người.

– C 20-21: + Ngày đó: là kiểu nói thường dùng trong Cựu Ước để chỉ ngày Chúa lại đến, tức là ngày cánh chung hay tận thế (x. Is 2,17; 4,1). + Thầy ở trong Cha Thầy và Thầy ở trong anh em: Nhờ vào sự thấy được bằng đức tin như vậy, các môn đệ sẽ khám phá ra đời sống kết hiệp thâm sâu giữa Chúa Cha và Chúa Con (x. Ga 14,11), đồng thời cũng cảm nghiệm được sự liên kết mật thiết giữa họ với Chúa Giê-su Phục Sinh bằng đức tin và ân sủng. + Ai có và giữ các điều răn của Thầy…: Lòng mến Chúa không phải chỉ dừng lại ở tình cảm và lời nói, nhưng phải được thể hiện qua hành động tuân giữ các giới răn của Thiên Chúa, nhất là sống giới răn yêu thương của Chúa Giê-su (x. Ga 13,34). + Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến…: Câu này không có nghĩa là Thiên Chúa chỉ yêu mến những ai yêu mến Chúa Giê-su, vì Thiên Chúa yêu hết mọi người và yêu họ trước (x. 1 Ga 4,10). Nhưng những ai yêu mến và vâng lời Đức Giê-su thì càng được Thiên Chúa yêu mến hơn, với danh nghĩa họ là nghĩa tử của Đức Giê-su và là chi thể của Đầu Nhiệm Thể là chính Người.

  1. CÂU HỎI:

1) Đức Giê-su đòi người ta thể hiện tình yêu đối với Người thế nào ? 2) Bảo trợ nghĩa là gì ? Loài người chúng ta chỉ có một Đấng Trung Gian duy nhất là ai ? Nhưng chúng ta lại có hai Đấng Bảo Trợ là những Vị nào ? 3) Sứ mệnh cứu thế của Đức Giê-su chấm dứt khi nào ? Sẽ được Đấng nào khác tiếp tục cho đến tận thế ? 4) Thần Chân Lý là ai ? Phát xuất từ Đấng nào ? Đối lập với ai ? 5) Tại sao thế gian không thể đón nhận được Thần Chân Lý ? Các Tông đồ phải làm gì để đón nhận được Ngài ?

II.  SỐNG LỜI CHÚA

  1. LỜI CHÚA: “Nếu anh em yêu mến Thầy, thì sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14,15).
  2. CÂU CHUYỆN:

1) ĐẠO ĐỨC LÀ TIN CẬY PHÓ THÁC VÀO TÌNH THƯƠNG CỦA THIÊN CHÚA:

Sau lễ đăng quang, Đức Piô XI trở về phòng riêng, ngồi vào chiếc ghế của vị tiền nhiệm là Đức Bê-nê-dic-tô XV thì tự nhiên ngài cảm thấy một nỗi lo âu xâm chiếm tâm hồn. Ngài nhìn thấy con đường tương lai thật tăm tối: Một Giáo hội đang bị tấn công mọi mặt. Cuộc thế chiến thứ nhất vừa chấm dứt, nhưng ngòi nổ vẫn còn đang âm ỉ chờ bùng phát lại. Trong lúc chán nản, ngài đã làm công việc duy nhất mà một người lo âu có thể làm, là quì xuống cầu nguyện. Trong lúc cầu nguyện, tay ngài vô tình chạm vào một bức ảnh trên bàn làm việc của đức Bê-nê-dic-tô. Ngài cầm bức ảnh ấy lên xem và ngài cảm thấy nỗi lo sợ trong lòng bỗng tan biến hết. Tâm hồn ngài tràn ngập an bình. Đó là bức ảnh Chúa Giêsu đang truyền cho sóng gió yên lặng. Từ đó, Đức Pi-ô XI luôn để bức ảnh ấy trên bàn và mỗi khi bi lo âu chuyện gì, ngài nhìn vào bức ảnh và cầu xin Chúa Giê-su phán một lời để được sóng yên biển lặng.

Ngày nay Chúa Giêsu luôn ở trong chúng ta và sẽ mang lại sự bình an cho tâm hồn chúng ta. Bởi đó, khi gặp sóng gió, chúng ta hãy bắt chước các môn đệ, chạy đến với Chúa Giê-su và nài xin Người: « Lạy Chúa, xin cứu chúng con, kẻo chúng con chết mất ». Chắc chắn Chúa sẽ ra tay nâng đỡ để chúng ta vượt thắng mọi gian nan và trung thành phụng sự một mình Người.

2) AI LÀ NGƯỜI THỰC SỰ YÊU MẾN THIÊN CHÚA ?:

Một người kia trong khi ngủ đã nằm mơ thấy mình gặp một thiên thần có cánh đang đi bộ xuống phố. Một tay ngài cầm bó đuốc, tay kia cầm một xô nước. Anh ta liền hỏi thiên thần rằng: “Ngài đi xuống phố kia làm chi vậy ?”. Thiên thần đáp: “Ta được sai đến để tìm xem ai là người có đức tin và có lòng mến Chúa thực sự”. Anh ta hỏi tiếp: “Sao Ngài lại phải cầm theo bó đuốc và xô nước ?” Thiên thần đáp: “Ta muốn dùng bó đuốc để thiêu hủy các tòa nhà trên thiên đàng, và dùng xô nước để dập tắt ngọn lửa dưới hỏa ngục”. Anh ta hỏi tiếp: “Nhưng tại sao Ngài lại phải làm như thế ?” Bấy giờ thiên thần trả lời: “Để biết ai thực sự có đức tin và lòng mến Chúa. Một người có đức tin thực sự thì sẽ tuân giữ các giới răn cho dù ta có phá huỷ hy vọng sau này họ sẽ lên thiên đàng và phá hủy nỗi sợ sau này sẽ bị sa hỏa ngục đi nữa”.

3) CHÍNH KHI HIẾN THÂN LÀ KHI ĐƯỢC NHẬN LÃNH:

Bà MA-RI-NA PI-CÁT-SÔ (Marina Picasso) là cháu của họa sĩ nổi tiếng PÁP-LÔ PI-CÁT-SÔ (Pablo Picasso). Trong thời gian từ năm 1973 đến 1975, bà liên tiếp phải chịu nhiều cái tang lớn: Ông nội mất, anh ruột tự tử, cha đột ngột qua đời. Đây thật là những mất mát không thể bù đắp, dù bà đã được thừa kế một gia sản lớn lao. Từ lúc ấy, thay vì ngồi gậm nhấm nỗi đau của mình thì bà dành nhiều thì giờ để chăm sóc những trẻ em mồ côi không người thân thích, những trẻ lang thang bụi đời đang sống vất vưởng ở nơi đầu đường xó chợ. Cũng từ ngày đó bà cảm thấy có sự biến đổi to lớn trong tâm hồn như bà tâm sự: “Nhờ giúp đỡ con em của nước này, mà tôi đã tìm lại được chính mình. Giờ đây tôi cảm thấy mình như sống lại, và tôi muốn phân phát sự sống mới đó cho các em”. Chính nhờ ra khỏi nỗi đau mất mát người thân của mình, để cúi xuống xoa dịu nỗi đau của tha nhân mà bà Ma-ri-na Pi-cát-sô đã như được sống lại về linh hồn. Khi không còn bận tâm lo cho mình để quan tâm chia sẻ nhu cầu của người khác, bà đã nghiệm thấy sự sống nơi bà được nhân lên nhiều lần, như lời kinh Hoa Bình của thánh Phan-xi-cô: “Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh. Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân… Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời…”

4) TÌNH THƯƠNG KHÔNG CÓ TRONG NHỮNG CON NGƯỜI ÍCH KỶ:

Truyện cổ tích Ả Rập kể rằng: Có một người bán thịt nướng rất keo kiệt và khó tính, vì tính khí khó chịu của anh ta nên cửa hàng luôn bị ế ẩm, anh đã làm đủ mọi cách để câu khách nhưng chẳng ai thèm mua. Có một người ăn xin ngồi bên lề đường, thèm thuồng nhìn những miếng thịt nướng treo lủng lẳng, rồi ông móc trong bị ra một khúc bánh mì, lẳng lặng đem hơ nóng trên khói, hy vọng khói thịt sẽ ướp vào miếng bánh. Sau đó, ông ngồi ăn miếng bánh cách ngon lành. Anh chàng bán thịt nhìn thấy, chạy ra túm áo người ăn xin đòi tiền. Người ăn xin phân trần: “Tôi đâu có mua thịt của anh, khói thịt đâu có phải là thịt”. Anh bán thịt quát lên: “Khói thịt cũng thuộc về miếng thịt, ông phải trả tiền cho tôi”. Hai người cãi nhau, không ai chịu ai và đưa nhau đến quan tòa xét xử. Vị quan tòa truyền cho người ăn xin móc ra một đồng tiền cắc và ném xuống nền nhà phát ra tiếng kêu, ông nói: “Đây là giải pháp công bằng nhất, người ăn xin hưởng khói thịt của anh, và anh thì hưởng âm thanh đồng tiền của ông ta. Thế là công bằng nhé”.

Việt Nam chúng ta cũng có câu chuyện về một người cha tham lam ích kỷ, thiếu tình thương con cái. Một hôm ông ta đi đánh dậm ngoài đồng và bắt được mấy con cá mang về nhà. Ông đang ngồi bên bếp than nướng số cá mới bắt được để nhắm rượu. Mùi cá nướng thơm phức khiến đứa con nhỏ thức giấc và khóc đòi được ăn cá nướng. Bà mẹ liền an ủi con: “Nín đi con, để mẹ xem có con cá nào nhỏ, mẹ sẽ xin bố cho con”. Nghe vậy, anh chồng vốn tham ăn và ích kỷ liền quát: “Cho cái gì ? Không có con nào nhỏ cả, con nào cũng đều lớn hết”.

5) LÒNG HIẾU THẢO PHẢI ĐƯỢC BIỂU LỘ QUA SỰ VÂNG LỜI:

Một bé trai theo mẹ vào siêu thị đi sắm đồ. Khi đến cửa hàng quần áo. Trong lúc mẹ đang nói chuyện với cô nhân viên bán hàng, thấy các món hàng quần áo treo trên giây, em liền leo lên lấy làm các món đồ rơi xuống tung tóe. Lúc đầu, người mẹ cầm chặt tay con lại, rồi nhẹ nhàng nói: “Đừng làm như thế nghe con!” Nó cúi đầu ngoan ngoãn đáp: “Dạ vâng, thưa mẹ!” Nhưng một lúc sau, khi mẹ đang bận chọn lựa mặt hàng thì đứa bé lại leo lên làm rơi hàng xuống. Người mẹ vẫn kiên nhẫn nhắc nhở con: “Đừng làm như thế nữa, nghe con!” Nó lại hứa: “Dạ vâng!” Rồi một lúc sau, nó lại chứng nào tật đó làm rớt món hàng xuống khiến cô nhân viên bán hàng nhíu mày tỏ vẻ khó chịu. Lần này, bà mẹ liền nắm chặt tay con, trừng mắt nhìn con, dùng ngón tay trỏ chỉ vào giữa trán nó, và nói bằng một giọng nghiêm khắc: “Đừng bao giờ làm như thế nữa nghe chưa?” Đứa bé hiểu rằng lần này thì nó phải nghe theo mệnh lệnh của mẹ là không được leo lên làm rớt đồ như vậy nữa. Nó nhìn mẹ, miệng mếu như muốn khóc với giọt nước mắt lưng tròng, nó nói: “Mẹ, con thương mẹ mà! Sao mẹ lại không thương con?”. Với nét mặt bình tĩnh, bà mẹ nói với con: “Nếu con thực sự thương mẹ, thì phải vâng lời mẹ, và không được làm trái ý mẹ nữa nghe con!”. Đứa bé liền ngừng khóc cúi đầu nhận lỗi và từ lúc đó đến khi ra khỏi siêu thị, nó không còn dám làm phiền những người chung quanh nữa.

Câu chuyện rất phù hợp với Lời Chúa trong Tin Mừng hôm nay: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14,15).- “Ai giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy” (Ga 14,21).

  1. SUY NIỆM:

1) ĐẠO ĐỨC LÀ SỐNG TÌNH CON THẢO VỚI THIÊN CHÚA:

– Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta kiểm điểm lại động cơ khiến chúng ta giữ đạo: giữ đạo để được lên thiên đàng và khỏi bị sa hỏa ngục sau này, hay giữ đạo để trở nên con cái ngoan hiền hiếu thảo của Thiên Chúa và nên anh chị em thực sự của mọi người ? Một người giữ đạo chỉ để sau này được lên thiên đàng thường suy nghĩ tính toán như sau: Phạm tội trọng cỡ nào thì mới bị phạt sa hỏa ngục ? Ăn cắp bao nhiêu tiền thì mới là tội trọng ? Phải tha thứ cho người ta mấy lần ? Phải cho người nghèo bao nhiêu tiền để sẽ được Chúa ban thưởng hạnh phúc Thiên đàng đời sau ?…

– Đang khi đó, một người giữ đạo vì lòng yêu mến Chúa sẽ tự nguyện giữ đạo và luôn tự hỏi mình: Ngay lúc này tôi có thể làm gì để giúp đỡ một người qua cơn họan nạn ? Hiện nay ai đang cần được tôi giúp đỡ ? Tôi phải làm gì để nên con thảo với Chúa Cha trên trời ?… Về vấn đề này HE-RI I-MƠ-SÂN (Harry Emerson) đã phát biểu như sau: “Sợ hãi thì đe dọa, còn tình yêu lại gọi mời. Sợ hãi thì cầm tù, còn tình yêu lại giải phóng. Sợ hãi thì chua chát, còn tình yêu lại ngọt ngào. Sợ hãi thì gây ra thương tích, còn tình yêu lại chữa lành. Sợ hãi thì luôn lẩn tránh còn tình yêu lại hiện diện”.

2) LUÔN KẾT HIỆP MẬT THIẾT VỚI CHÚA THÁNH THẦN:

Trong bữa Tiệc Ly, trước khi từ giã các môn đệ chịu khổ nạn, Đức Giêsu đã cầu nguyện với Chúa Cha cho các môn đệ và truyền cho các ông phải yêu thương nhau. Ngài đã phác họa cho các ông thấy tương lai đen tối đang chờ đón Thầy trò: “Họ đã bắt bớ Thầy, thì họ cũng sẽ bắt bớ các con”. Tuy nhiên, để các ông được yên tâm, không hoang mang, không thất vọng, Ngài đã hứa sẽ ban Chúa Thánh Thần làm Đấng Bảo Trợ khác và hứa sẽ luôn ở với các môn đệ qua câu nói: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi” (Ga 14,18).

Cuộc sống của mỗi người chúng ta giống như mặt biển đầy những sóng gió bão táp là những tội lỗi, những thói hư, những sự lo lắng về tiền bạc vật chất… Tất cả những cơn sóng gió này như muốn nhận chìm chúng ta xuống. Thế nhưng, chúng ta không nên hoảng sợ, vì chúng ta không chiến đấu một mình, mà có Chúa luôn ở trong chúng ta và đồng hành với chúng ta như Người đã hứa: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi” (Ga 14,18).-“Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).

3) PHẢI BIỂU LỘ LÒNG MẾN BẰNG HÀNH ĐỘNG:

Thánh Gio-an đã khuyên các tín hữu như sau: “Chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm” (1 Ga 3,18). Lòng mến Chúa không chỉ dừng lại ở tình cảm yêu mến, hay là những việc đạo đức mang tính hình thức bề ngoài như đọc kinh, dự lễ mà thôi. Những việc đó tuy tốt, nhưng chưa đủ chứng tỏ lòng mến Chúa thực sự như lời Chúa Giê-su: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa ! Lạy Chúa !” là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt 7,21). Thánh Gio-an cũng cho biết lòng mến Chúa đích thực phải thể hiện bằng tình thương đối với tha nhân như sau: “Nếu ai nói: Tôi yêu mến Thiên Chúa, mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối. Vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa là Đấng họ không trông thấy được” (1 Ga 4,20). Ai yêu thương phục vụ những người đói khát bệnh tật và đau khổ ở đời này thì sẽ được Chúa kể là đã yêu thương và phục vụ chính Người trong ngày phán xét (x. Mt 25,40).

4) LÒNG MẾN CHÚA PHẢI ĐI ĐÔI VỚI YÊU NGƯỜI:

Sau đây là một số việc cụ thể mà người có lòng mến Chúa thực sự phải thi hành:

Luôn biết nghĩ đến người khác, chứ không ích kỷ chỉ biết nghĩ đến mình và gia đình mình như lời Chúa dạy: “Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” (Mt 7,12).

Luôn xét đoán ý tốt, ước muốn và cầu nguyện điều tốt cho tha nhân như lời Chúa Giê-su dạy: “Anh em đừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán (x. Mt 7,1).

Khiêm tốn sửa lỗi của mình trước khi sửa lỗi cho tha nhân như Chúa dạy: “Hỡi kẻ đạo đức giả ! Lấy cái xà ra khỏi mắt anh trước đã, rồi anh sẽ thấy rõ, để lấy cái rác ra khỏi mắt người anh em” (x. Mt 7,4).

Đối xử nhân hậu với những kẻ thù ghét bách hại mình, để hóa giải thù hận, biến thù thành bạn như lời Chúa phán: “”Đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa” (Mt 5,39). “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời. Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (x. Mt 5,44-45).

Tha thứ không phải bảy lần mà đến bảy mươi lần bảy (x. Mt 18,21), nghĩa là phải luôn tha thứ cho những kẻ xúc phạm đến mình, để đáng được Chúa tha tội cho mình: “Xin tha tội cho chúng con, như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con” (x. Mt 6,12).

Quảng đại cho đi hơn nhận lãnh: “Cho thì phúc hơn là nhận” (Cv 20,35).

Năng thăm viếng để an ủi những người đau khổ bệnh tật và giúp đỡ chia sẻ cơm áo vật chất cho những người nghèo đói và cô thế cô thân, săn sóc phục vụ những người yếu đuối bệnh tật… Vì đến ngày phán xét, Chúa sẽ xét xử chúng ta tùy cách chúng ta đã đối xử với những người nghèo khổ gặp phải trong cuộc sống (x. Mt 25,34-40)…

  1. THẢO LUẬN:

Yêu thương bằng việc làm là biết nghĩ đến người khác, xét đoán ý tốt và ước muốn điều tốt cho người mình không ưa, là sẵn sàng chịu đựng và khoan dung tha thứ những sự xúc phạm của kẻ khác đối với mình, là quảng đại cho đi hơn là nhận lãnh, là năng thăm viếng an ủi những người đau khổ và giúp đỡ những người cô đơn, là săn sóc phục vụ những người yếu đuối bệnh tật… Trong những ngày sắp tới bạn sẽ làm gì để thể hiện tình thương cụ thể đối với tha nhân ?

  1. LỜI CẦU:

– LẠY CHÚA GIÊ-SU PHỤC SINH. Xin ban cho chúng con sự sống của Chúa, sự sống làm cho cuộc đời chúng con mãi mãi xanh tươi. Xin ban cho chúng con sự bình an của Chúa, bình an làm cho chúng con vững tâm khi gặp phải các cơn sóng gió giữa cuộc đời. Xin ban cho chúng con niềm vui của Chúa, niềm vui làm cho khuôn mặt chúng con luôn rạng rỡ tươi vui. Xin ban cho chúng con Thánh Thần của Chúa, Thánh Thần sẽ biến đổi cuộc đời chúng con ngày một trở nên giống Chúa Cha trên trời hơn.

– LẠY CHÚA. Qua bài Tin Mừng hôm nay, chúng con hiểu rằng Chúa muốn chúng con tuân giữ các huấn lệnh vì lòng yêu mến Chúa, hơn là để được ban thưởng hạnh phúc thiên đàng hay không dám phạm tội trọng chỉ vì sợ bị phạt xuống hỏa ngục. Xin giúp chúng con biết mến Chúa bằng việc thực hành giới răn yêu thương tha nhân.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

Về mục lục

.

CÂU TRẢ LỜI CHO NIỀM HY VỌNG

Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Thánh Phêrô nhắn nhủ tín hữu ở các xứ: Pontô, Galat, Capadokia, Axia và Bithynia và với chúng ta, những người được Thiên Chúa tuyển chọn là: “Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em”(1P 3,15). Có thể nói động thái hy vọng là khao khát, là mong chờ điều tốt đẹp nào đó với niềm tin rằng sẽ đạt được. Niềm hy vọng của Kitô hữu chúng ta mà thánh Tông Đồ Cả nói ở đây chính là được hưởng phúc lành vĩnh cửu mà Thiên Chúa hứa ban. Và để đạt phúc lành này thì ngài khuyên bảo phải hiệp nhất nên một với nhau, biết cảm thông, yêu thương nhau như anh chị em, đừng lấy ác báo ác nhưng ăn ở nhân hậu (x.1P 3,8-9). Để thực hiện điều này thánh nhân nhấn mạnh: “hãy tôn Đức Kitô, là Đấng Thánh, làm Chúa ngự trị trong lòng chúng ta”.

“Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy.”(Ga 14,15). Điều răn mà Chúa Kitô truyền dạy đó là: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”(Ga 13,34). Mẹ Hội Thánh, cách riêng Hội Thánh Việt Nam căn cứ vào cuộc đời và lời giảng dạy của Chúa Cứu Thế đã cụ thể hóa giới luật tình yêu qua kinh “Mười bốn mối thương người” mà Kitô hữu chúng ta dường như thuộc nằm lòng, nhờ thường đọc trong các ngày Chúa Nhật và các ngày Lễ trọng.

Một sự thật mà chúng ta cần chân nhận, đó là không ít người con cái Chúa vô tình hay vì lý do nào đó mà lãng quên lời căn dặn, đúng hơn là lời khẳng định của Chúa Kitô: “phải làm điều này mà không được bỏ điều kia”(x.Lc 11,42); đừng “gạn  lọc con muỗi mà nuốt chửng cả con lạc đà” (x.Mt 23,23-24), khi họ chỉ thực hiện một vài mối thương người mà thôi hoặc né tránh không thực thi một vài mối thương người này kia.

 Chúng ta cần thẳng thắn nhìn nhận rằng từ tín hữu giáo dân đến hàng mục tử một cách nào đó xem ra đã thực thi những nghĩa cử như “cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, viếng kẻ liệt, chôn xác kẻ chết và có thể thêm việc “cho khách đỗ nhà”. Tuy nhiên việc thăm viếng “kẻ tù rạc” và “chuộc kẻ làm tôi” thì hình như đang bị thiếu sót cách này cách khác. Phải chăng nếu không phải là người thân thích thì chúng ta vốn ngại dây dưa với những người đang trong vòng lao lý, cả những người thực sự có tội và cả những người bị kết án cách oan sai, bất công?  Ngày nay không còn chế độ nô lệ như ngày xưa, nhưng tình trạng bị ràng buộc, bị kìm giữ cách bất công vẫn nhan nhãn trước mắt chúng ta. Trên thế giới và ngay trên đất nước chúng ta vẫn còn đó tình trạng rất nhiều người không được sử dụng các quyền căn bản của họ xét như là con người (nhân quyền). Đây cũng là một hình thức nô lệ không hơn không kém.

Chúng ta cũng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng Kitô hữu chúng ta xem ra ít tắc trách trong việc “lấy lời lành mà khuyên người, an ủi kẻ âu lo, tha kẻ dể ta, nhịn kẻ làm mất lòng ta, cầu cho kẻ sống và kẻ chết”. Thế nhưng việc “mở dạy kẻ mê muội và răn bảo kẻ có tội” thì dường như còn bị hạn chế về cả đối tượng lẫn phạm vi cần điều chỉnh hay sửa sai. Chúng ta, nhất là những vị mục tử vẫn chu toàn việc răn bảo kẻ có tội và mở dạy kẻ mê muội, nhưng thường là mở dạy hay răn bảo những người đồng đạo, những người dưới quyền và cũng thường trong những lãnh vực đạo đức mang luân lý cá nhân hay trong việc tuân giữ các luật buộc như “giữ Lễ Ngày Chúa Nhật, lãnh nhận các bí tích, kiêng việc xác, ăn chay…”. Cần thú nhận rằng những lỗi lầm mang tính công bằng xã hội hoặc những lệch lạc, sai lầm mang tính hệ thống, nhất là khi người lỗi phạm đang nắm quyền cao, vị lớn trong xã hội và cả trong giáo hội thì chúng ta có vẻ như đang xao lãng bổn phận “mở dạy và răn bảo”.

“Phải làm điều này mà không được bỏ qua điều kia”. Xin lặp lại lời của Chúa Kitô để cùng thức tỉnh nhau ra khỏi tình trạng “gạn lọc con muỗi mà nuốt chửng cả con lạc đà”. Yêu thương cách có chọn lọc, cách có tính toán thì không thực sự là yêu thương, và chắc chắn không “như Chúa Kitô đã yêu thương chúng ta”. Yêu thương một cách có tính toán và chọn lọc như thế thì rất có thể có được sự bình an do thế gian ban tặng và dĩ nhiên cần khẳng định rằng đó không phải là sự bình an mà Chúa Kitô trao ban (x.Ga 15,27).

Xin Thần Khí sự thật đổ đầy tâm hồn Kitô hữu chúng ta để chúng ta biết thế nào là yêu mến Chúa Kitô, thế nào là tôn Đức Kitô làm Chúa ngự trị trong lòng chúng ta, thế nào là làm chứng về niềm hy vọng của chúng ta. Có thể không trọn vẹn và chắc chắn không thể đủ đầy, tuy nhiên điều chúng ta phải cần làm cho xứng với danh môn đệ Chúa Kitô, đó là kiên trì nhẫn nại trong hiền hòa và bao dung thực thi cả “Mười bốn mối thương người”, không xao lãng hay loại bỏ bất cứ mối thương người nào. Đây là câu trả lời có tính thuyết phục nhất cho niềm hy vọng của chúng ta trước bà con lương dân và anh chị em khác đạo và trước cả những người tự nhận là vô thần.

Về mục lục

.

MỘT CUỘC SỐNG MỚI

Lm. Giuse Nguyễn

Các bài đọc lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy được một cuộc sống mới.

  1. Lời Chúa

Cuộc sống mới nhờ mầu nhiệm Tử nạn và Phục sinh của Đức Giêsu Kitô. Cuộc sống mới nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần làm cho các Tông đồ thực hiện được những dấu lạ tại thành Samaria của dân ngoại (trừ được các thần ô uế, chữa lành những người tê bại và tàn tật) ; cuộc sống mới làm cho: “Trong thành, người ta rất vui mừng” (Cv 8, 8). Cuộc sống mới của những con người biết nghe Lời Đức Giêsu để sống theo Tin Mừng của Người: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14, 15)…

Như vậy trước đây một số người vẫn sống theo lối sống cũ, lối sống của những người phỉ báng các Kitô hữu, của những người đã sẵn sàng làm những chuyện gian ác, của những người không tin vào Đức Giêsu Kitô (x. 1Pr 3, 15-18).

  1. Cuộc sống mới là gì?

Cuộc sống mới đó không chỉ được ban tặng cho các Tông đồ và những kẻ tin hơn 2.000 năm trước, mà nó là sứ điệp chính yếu trong Tin mừng của Đức Kitô luôn vang vọng trong mọi thời đại, và nhất là trong chính hôm nay, ngay giờ phút này, để mời gọi chúng ta hãy bước vào sự sống mới.

Bước vào sự sống mới không phải là “chui vào bụng mẹ để được sinh ra một lần nữa” như Nicôđêmô suy nghĩ ; hay chết đi để được để được “đầu thai” trong kiếp sống mới… Nhưng là sống cuộc sống riêng của mỗi người trong mầu nhiệm Phục sinh của Đức Kitô.

  1. Những mẫu gương sống cuộc sống mới

a). Ơn gọi của Esmeralda Solis Gonzalez, một cựu hoa hậu Mêhicô

Esmeralda Solis Gonzalez sinh ngày 12/04/1997 tại Valle de Guadalupe, thuộc bang Jalisco, trong một gia đình Công giáo. Vào năm 2016, Esmeralda đã được chọn là hoa hậu của thành phố quê nhà, và là một trong số những người được chọn đến thủ đô Mêhicô thi hoa hậu toàn quốc cùng năm 2016. Nhưng Esmeralda từ bỏ dự tính làm người mẫu và chuyên gia về dinh dưỡng, gia nhập dòng Nữ thừa sai Clara Thánh Thể ở thành Cuernavaca thuộc bang Morelos. Cô đã chia sẻ: “Bạn sẽ không biết gì về đời sống tu trì cho đến khi bạn vào trong tu viện. Cho đến nay, từ một góc nhìn khác, tôi đã có thể thấy thế giới là gì và nó mang lại điều gì cho bạn. Tôi đã rất hạnh phúc với những gì tôi đã có được. Nhưng hạnh phúc đó không thể sánh với hạnh phúc mà Chúa đang đổ tràn đầy trong tâm hồn tôi”

b). Của một số nhà lãnh đạo

Đầu tiên phải nhắc đến lời phát biểu của tổng thống Mỹ Donal Trump tại trường Đại Học Liberty, một Đại học của Thiên Chúa giáo lớn nhất nước Mỹ vào ngày 13/05/2017: “Ở Mỹ, chúng ta không tôn thờ chính quyền, chúng ta tôn thờ Thiên Chúa”. Ông nói thêm: “Đó là lý do tại sao chúng ta tự hào công bố trên đồng tiền của chúng ta, “Trong Chúa chúng ta tin”, và đó là lý do tại sao mỗi khi chúng ta nói lời Tuyên thệ chúng ta hãnh diện tuyên bố rằng chúng ta là một quốc gia, dưới sự cai trị của Thiên Chúa… Và lý do tại sao những người  lãnh đạo của chúng ta trong lễ tuyên thệ nhậm chức đều đặt tay lên quyển  Kinh thánh và nói “xin Thiên Chúa giúp con.”

Kế đến là vị tân Tổng thống trẻ tuổi nhất của nước Pháp Emmanuel Macron, 39 tuổi vừa tuyên thệ nhậm chức hôm 14/05/2017. Ông đã chia sẻ: Tôi chịu phép rửa vào năm 12 tuổi. Đây là lựa chọn của riêng tôi. Tôi chịu phép thánh tẩy khi học ở Trường Providence (Chúa Quan Phòng) của các cha Dòng Tên tại Amiens”. Tân tổng thống Emmanuel Macron nói tiếp: ‘‘Nhờ ơn Chúa, tôi có quyết tâm hội nhập với thế giới. Ngày nay, tôi thường suy nghĩ về bản chất đức tin của tôi. Tương quan của tôi với các vấn đề thiêng liêng tiếp tục nuôi dưỡng các suy nghĩ của tôi.’’. Ông tỏ lòng tôn kính với Đức Thánh Cha Phanxicô, và theo nguồn tin riêng, ông sẽ mời ngài viếng thăm nước Pháp, đất nước được mệnh danh là trưởng nữ của Giáo hội.

Sau cùng là tân Tổng Thống Hàn Quốc, ông Moon Jae-in, trong ngày nhậm chức và chính thức bước vào “Nhà Xanh” là nơi cư trú của các vị Tổng thống Hàn Quốc, đã mới Linh mục đến làm phép dinh Tổng thống. Ông đã chọn bắt đầu vào ở trong Nhà Xanh đúng vào ngày kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra tại Fatima, để có ý dâng công việc phục vụ quốc gia của ông dưới sự bảo trợ của Đức Mẹ

Qua những tấm gương cụ thể đó cho chúng ta thấy những con người sống cho sự sống mới, đó là việc đặt hiện tại, tương lai cuộc đời của mình trong bàn tay quan phòng của Chúa. Hay nói cách khác, họ có niềm tin vào Thiên Chúa.

  1. Sống cuộc sống mới trong Năm Gia Đình 2017

Trong Năm Gia Đình 2017 này, qua sứ điệp lời Chúa hôm nay, mời gọi mỗi gia đình hãy sống cuộc sống mới, nghĩa là sống niềm tin cụ thể vào Thiên Chúa.

Trong những ngày qua, các tín hữu trên khắp trên thế giới như sống lại sự kiện tại làng Fatima năm xưa; nhiều họ đạo cũng tổ chức mừng sự kiện 100 năm Đức Mẹ hiện ra ; một vài họ đạo có hiện tượng được gọi là “Đức Mẹ khóc ra máu”… Nhân dịp này nhiều người đã đi hành hương, đã đến tham dự những buổi diễn nguyện, đã tìm đến với những nơi có hiện tượng lạ… nhưng thử hỏi họ có quyết tâm để thực hành “sứ điệp Fatima” qua việc ăn năn đền tội, siêng năng lần hạt Mân Côi và tôn sùng Trái Tim Mẹ, nghĩa là có ý thức đến đời sống đức tin của mình không hay chỉ quan tâm đến dấu lạ?

Tháng Năm mời gọi mỗi gia đình hãy nhắc nhở nhau để lo ăn năn đền tội, cải thiện cuộc sống bằng việc mỗi người hãy từ bỏ những đam mê xấu, cụ thể làm sao để lôi kéo được những người khô khan nguội lạnh đi xưng tội, nhất là cơ hội rước lễ trong mùa Phục Sinh đã gần hết. Những người làm chồng, làm vợ, làm cha mẹ hãy sống đúng với ơn gọi của mình, đừng vì những chuyện riêng tư mà làm gương mù, gương xấu cho con cái mình. Các bạn trẻ cũng hãy tỉnh thức, vì tội lỗi của nhân loại ngày càng gia tăng. Vì thế nếu có việc “Đức Mẹ khóc” thì cũng chỉ vì tội lỗi nhân loại.

Mỗi người, mỗi cộng đoàn và mỗi gia đình hãy tạo điều kiện để việc lần chuỗi Mân Côi được thực hiện một cách dễ dàng, vì chuỗi Mân Côi là sợi dây nối kết tình mẫu tử giữa chúng ta và Mẹ Maria, cũng là cách để tiếp cận với Tin mừng một cách đơn giản nhất.

Việc tôn sùng Trái Tim Đức Mẹ chính là việc đáp trả lại tình yêu của Mẹ dành cho chúng ta qua việc quan tâm đến ơn cứu độ của chính mình, đừng sống hờ hững với vận mệnh cuộc đời chúng ta, đừng để những đam mê, những giá trị thế gian làm mất đi hạnh phúc đời đời của chúng ta.

Khi mỗi người, mỗi gia đình biết quan tâm đến những việc trên là lúc chúng ta đang sống cuộc sống mới.

Lạy Mẹ Maria xin phù hộ chúng con được hưởng sự sống mới cùng với Mẹ. Amen.

Về mục lục

.

YÊU VÀ GIỮ LỜI

Huệ Minh

Mở lại những trang sách Cựu Ước, ta thấy Đức Chúa với ông Giôsuê, Ngài phán: Đừng sợ, vì Thiên Chúa ở cùng ngươi. Với Ghiđêon, Ngài bảo: Hỡi người dững cảm, Thiên Chúa ở cùng ngươi. Với Maisen, Ngài nói: Ta luôn ở với ngươi. Với Mẹ Maria, thiên thần loan báo: Thiên Chúa ở cùng bà, bà có phúc lạ hơn mọi phụ nữ và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ. Và ngày hôm nay, với các môn đệ, Ngài đã hứa: Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế.

Đức Giêsu phục sinh không chỉ hiện ra một đôi lần, Ngài muốn ở mãi bên chúng ta cho đến tận thế. Một sự hiện diện hai chiều, thâm sâu và mới mẻ: “Anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em” (c.20) Một sự hiện diện đem lại sức sống dồi dào: “Vì Thầy sống và anh em cũng sẽ sống” (c.19).

Hẳn ta còn nhớ khi các môn đệ đánh cá ở biển hồ Tibêriade, suốt đêm vất vả mà chẳng bắt được một con cá nào, nhưng vâng lời Chúa, các ông đã thả lưới và lập tức các ông có được một mẻ cá ngoài sự mong muốn của mình. Khi gặp phải sóng gió, nhưng với uy quyền của Chúa, thì lập tức sóng liền yên và biển liền lặng. Giữa tiệc cưới tại Cana, mọi người đang lúng túng vì thiếu rượu, Chúa Giêsu đã làm phép lại cho nước lã biến thành rượu ngon. Giữa hoang địa cằn cỗi, Ngài đã làm phép lạ cho bánh hóa nhiều, để nuôi sống đám đông dân chúng đang đói mệt. Bà góa thành Naim, cũng như hai chị em Martha và Maria, đang than khóc tuyệt vọng vì người thân yêu của mình không còn nữa, nhưng Chúa đã làm phép lạ cho người đã chết được sống lại, hầu xoa dịu nỗi đớn đau tang tóc.

Cũng như hai môn đệ trên đường đi Emmaus, Chúa ở bên cạnh chúng ta, nhưng chúng ta lại chẳng nhận ra Ngài. Nhất là trong những giây phút buồn sầu và thất vọng, chúng ta cảm thấy Thiên Chúa dường như vắng bóng và chẳng đoái hoài đến những lời chúng ta kêu xin. Nhưng thật ra, đó lại là những giây phút Ngài ở gần chúng ta hơn bao giờ hết.

Chúa Giêsu hứa: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật” (cc.16-17a). Đức Giêsu thực hiện vai trò trung gian bên Chúa Cha để Chúa Cha ban Thánh Thần cho những kẻ thuộc về Người, và cộng đoàn những kẻ thuộc về Đức Giêsu sẽ lãnh nhận được Thánh Thần nhờ Người.

Thánh Thần được gọi là Đấng Bảo Trợ. Đấng Bảo Trợ đến sẽ thực hiện một vai trò kép: trong cộng đoàn môn đệ và trong cuộc đối diện của cộng đoàn với thế gian. Bên trong cộng đoàn, Người dạy dỗ các đồ đệ mọi điều và làm cho các đồ đệ nhớ lại mọi điều Đức Giêsu đã truyền dạy (14, 26). Người dẫn họ đến sự thật toàn vẹn (16,13). Người làm chứng về Đức Giêsu trước các mô đệ (15, 26). Người tôn vinh Đức Giêsu và loan báo cho các đồ đệ những gì là của Đức Giêsu (16, 14). Và rồi trong cuộc đối diện của cộng đoàn với thế gian, Người soi sáng hướng dẫn các đồ đệ và làm cho các đồ đệ biết rằng thế gian sai lầm (16,9-11).

Trang Tin Mừng hôm nay trích trong bài diễn từ giã biệt của Chúa Giêsu trước cuộc khổ nạn phục sinh và lên trời với Chúa Cha. Trong thời gian vắng mặt, Chúa Giêsu hứa sẽ ban cho các môn đệ một Đấng Bảo Trợ khác là Chúa Thánh Thần để ở với các ông luôn mãi. Người cũng hứa sẽ không bỏ mặc các ông mồ côi, nhưng sẽ hiện diện bên các ông cách thiêng liêng.

Hơn hai ngàn năm qua, sức sống được Chúa Thánh Thần thông ban cho các môn đệ đã tràn ngập thế giới, đã trở thành lẽ sống của không biết bao nhiêu người. Chính nhờ sức sống ấy mà các tín hữu Kitô tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống và sống đúng ơn gọi làm người của mình. Sống công bình, sống bác ái, sống phục vụ, sống quên mình không phải là độc quyền của người Kitô giáo. Tôn giáo nào cũng đề cao những giá trị ấy; giới răn yêu thương cũng không phải là giới răn riêng của các tín hữu Kitô chúng ta. Thế nhưng Chúa Giêsu đã ban bố giới răn ấy như một giới răn mới mẻ và là riêng của Ngài, bởi vì Ngài ban chính sức sống và tình yêu của Ngài cho các tín hữu để họ yêu thương bằng chính tình yêu của Ngài.

Lời Chúa hôm nay cũng căn dặn chúng ta: “Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hãy giữ lời Thầy”. Như thế, tuân giữ giới răn Chúa là dấu chỉ cho lòng yêu mến Chúa. Tuân giữ giới răn Chúa còn là dấu chỉ sự trung tín và chu toàn bổn phận của Chúa giữa thế gian. Không thể nói rằng mình yêu mến Chúa mà lại không dám thực thi lời Chúa. Nếu chúng ta nói yêu mến Chúa mà không dám sống đạo và giữ đạo, đó chỉ là sự giả tạo vì Chúa đã từng trách rằng: “Dân này chỉ thờ Ta bằng môi bằng miệng mà lòng chúng lại xa cách Ta”.

Khi sắp lìa bỏ thế gian và các môn đệ là đoàn con thân tín để về cùng Chúa Cha, Ngài nhắn nhủ họ những lời tâm huyết: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở lại với anh em một ít lâu nữa thôi…. Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm nầy: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13, 33-35)

Khi yêu ai, chúng ta cảm thấy được những gì làm vui lòng người chúng ta yêu và không có gì cưỡng bức chúng ta tự nhiên làm tất cả để người yêu được vui, được hạnh phúc. Yêu mến Chúa cũng vậy. Yêu mến Chúa là sống theo ý Chúa muốn, là giữ các giới răn của Chúa, là thực thi ý Chúa muốn, là giữ các giới răn của Chúa, là thực thi ý muốn của Chúa trên cuộc sống chúng ta và trên cuộc sống của xã hội loài người.

Chúa Giêsu đã xác định: “Ai giữ các giới răn của Thầy sẽ được Cha Thầy yêu mến. Cha và Thầy sẽ yêu mến người ấy và sẽ đến và ở trong người ấy”. Giữ các giới răn là ta ở với Chúa và Chúa ở với ta, là lưu lại trong tình yêu của Chúa. Kitô giáo là đạo của tình yêu: yêu Chúa và yêu người. Tình yêu sẽ chắp cho chúng ta đôi cánh để bay lên cao. Vậy mà có nhiều người lại coi Kitô giáo như những giới răn cấm kỵ và trừng phạt, như những gông cùm tròng vào cổ hay những gánh nặng đèn lên vai. Vì vậy cuộc sống đạo của họ trở thành một bài toán khô khan và nghèo nạn, nhiều khi quá máy móc. Họ bóp méo đạo yêu thương thành đạo sợ hãi. Đạo sợ hãi làm người ta mất nhiệt tình và cởi mở, mất nét vui tươi trên khuôn mặt của những người con cái Thiên Chúa.

Lòng yêu mến Chúa thực đòi ta giữ giới răn của Người. Điều đó rất tự nhiên. Bởi khi yêu nhau, người ta sẵn sàng chấp nhận gian khổ, chấp nhận hy sinh vì nhau. Người ta cũng sẵn sàng làm theo ý của nhau nếu đó là những ý muốn chính đáng. Điều cần nói ở đây là việc ta tuân giữ giới răn của Thiên Chúa chẳng đem lại lợi lộc gì cho Người, nhưng đem lại lợi ích cho chính chúng ta. Bởi lẽ, lề luật của Chúa là một hàng rào cần thiết để bảo vệ ta được an toàn và khỏi rơi xuống vực thẳm tội lỗi. Đồng thời chúng cũng là những bảng chỉ đường giúp ta đi đúng con đường dẫn đến sự sống, đến hạnh phúc. Biết như vậy nhưng dường như ta vẫn cảm thấy khó khăn và ngại ngùng khi phải tuân giữ, phải thực thi các giới răn của Người.

Tuân hứa giới răn Chúa không chỉ dừng lại trên môi miệng mà còn là một dấn thân để ý Chúa được thể diện trong cuộc đời chúng ta. Như Chúa Giêsu, ngài đã vâng phục thánh ý Chúa Cha cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên cây thập tự. Người Kitô hữu cũng phải vâng phục theo giáo huấn của Chúa, cho dẫu có phải chịu thiệt thòi, mất mát hay phải hy sinh cả tính mạng vì lòng yêu mến Chúa.

Về mục lục

.

CHÚA THÁNH THẦN LÀ HY VỌNG VÀ LÀ TRẠNG SƯ

Bác sĩ Ng Tiến Cảnh

Sáu chương đầu của sách Tông Đồ Công Vụ nói về lịch sử thành lập Giáo Hội tiên khởi ở Jerusalem. Qua bài đọc I (Cv 8:5-8, 14-17) và những câu trong Cv 10: 44-48 & Cv 19:1-6, thánh Luca đã phân biệt bí tích Thanh Tẩy nhân danh Chúa Giesu và sự tiếp nhận chúa Thánh Thần. Trong mỗi trường hợp, có ơn Chúa Thánh Thần đều phải thông qua một trong 12 tông đồ như Phero và Gioan hoặc người đại diện như Phaolo. Đây là cách có vẻ hay nhất mà Luca dùng để diễn tả nhiệm vụ của Giáo Hội trong việc cầu xin ơn Chúa Thánh Thần. Những chỗ khác trong sách Tông Đồ Công Vụ, bí tích Thanh Tẩy và Chúa Thánh Thần lại liên kết mật thiết với nhau (Cv 1:5; 11:16).

Vậy chúng ta học được gì từ cảm nghiệm này? Bản văn của Luca trong Tông Đồ Công Vụ nói rõ ràng tặng phẩm Chúa Thánh Thần không phải là một đặc ân cá nhân. Tuyên xưng Kinh Thánh cũng không đơn thuần là do có óc thông minh hiểu biết, mà là một tiến trình hiểu biết do cảm nghiệm về đức Giesu thành Nazareth, đấng đã chết trên thập giá và phục sinh.  Không một trở ngại nào -dù là bất toàn thể xác, chủng tộc hay địa lý- có thể đặt con người ra ngoài ơn gọi cứu chuộc của Tin Mừng. Thiên Chúa đã tích cực hoàn thành trọn vẹn mục đích của Người vì sứ mạng hoạt động của Giáo Hội (Lc 24:47;Cv 1:8). Chúa Giesu đã để ý đến tất cả những ai có khả năng làm chứng nhân và Người huấn luyện họ, thêm sức mạnh cho họ rồi sai họ đi khắp các nẻo đường để rao truyền Lời Chúa. 

TÔN THỜ ĐỨC KITO LÀ THIÊN CHÚA NGỰ TRONG LÒNG

Bài đọc 2 thư thánh Phero (1Pr 3:15-18) nhắc nhở chúng ta là nhờ đức Kito chịu đau khổ và chịu chết mà người công chính có thể cứu giúp kẻ bất lương (1Pr 3:18); nhờ sự phục sinh, Người lấy lại đời sống mới trong Chúa Thánh Thần rồi thông phần cho các tín hữu qua bí tích thanh tẩy rửa sạch mọi tội lỗi. Như gia đình ông Noah được cứu khỏi cơn hồng thủy thì người Kito hữu cũng được cứu rỗi qua nước của bí tích Thanh Tẩy (1Pr 3:19-22). Từ đó họ không phải sợ hãi như những kẻ tội lỗi nhưng lại vui mừng trong đau khổ vì họ hy vọng trong chúa Kito. Sự vô tư hiền hòa của họ sẽ làm cho những kẻ cáo buộc họ phải thất vọng (1Pr 3:13-16; Mt 10:28; Rm 8:35-39).

Lời thánh Phero nói với Giáo Hội sơ khai hơn 2 ngàn năm xưa nay vẫn còn vang vọng nơi chúng ta: “Hãy tôn thờ đức Kito là Thiên Chúa ở trong lòng anh em. Hãy luôn luôn sẵn sàng cắt nghĩa cho bất cứ ai hỏi anh em lý do anh em hy vọng, nhưng hãy trả lời một cách hiền hòa và tôn kính với lương tâm trong sáng. Như vậy khi anh em bị người ta phỉ báng, nói xấu vì anh em làm việc thiện trong chúa Kito thì chính họ sẽ bị xấu hổ.” (1Pr 3:15ff) 

Lý do chúng ta hy vọng là gì?  Xin phép nhắc lại một phần bài giảng của Biển Đức XVI trong ngày lễ thánh Phero và Phaolo tông đồ ở Rome hôm 29-6-2009: 

Rất vắn gọn, tôi muốn lưu ý anh chị em về hai xác quyết khác trong thư 1 của thánh Phero liên quan đến chúng ta ở thời đại ngày nay. Trước hết có một câu mà ngày nay chúng ta lại khám phá ra, mà theo căn bản đó các thần học gia thời Trung Cổ hiểu biết bổn phận thần học gia của mình: “Đức Kito là đấng thánh, hãy tôn Người làm Chúa ngự trong lòng anh em. Hãy luôn luôn sẵn sàng cắt nghĩa cho bất cứ ai yêu cầu lý do mà anh em hy vọng” (3:15). Niềm Tin Kito giáo là Hy Vọng. Nó lót đường cho chúng ta đi tới tương lai. Nó là hy vọng với đầy đủ lý lẽ của nó, một hy vọng mà chúng ta có thể và cần phải cắt nghĩa. Niềm Tin đến từ “Lý Chứng đời đời” đã đi vào thế giới chúng ta và chứng tỏ cho chúng ta là Thiên Chúa thật. Niềm Tin vượt quá khả năng của lý trí của chúng ta, cũng như tình yêu nhìn rõ tỏ mọi sự hơn là đơn thuần thông minh. Nhưng Niềm Tin nói với lý trí và trong cách biện chứng nó cũng phù hợp với lý trí. Nó không trái ngược với lý trí mà còn bổ sung lý trí và vượt quá lý trí để đưa chúng ta đến với Lý Chứng vĩ đại hơn của Thiên Chúa. 

“Là mục tử thời đại, chúng ta có bổn phận trước hết phải hiểu rõ lý do chúng ta tin. Bổn phận chúng ta không chỉ đơn thuần giữ nó như  một truyền thống mà phải nhận biết nó như những giải đáp cho những câu hỏi mà người ta chất vấn chúng ta. Niềm tin đòi hỏi sự cộng tác hữu lý của chúng ta, được ăn sâu và thanh hóa trong việc chia sẻ tình yêu. Nó là một trong những bổn phận của người mục tử, là thấm nhuần niềm tin vào ý nghĩ, khả dĩ có thể biểu lộ lý lẽ chúng ta hy vọng trong những cuộc tranh cãi ở thời đại chúng ta.” 

TÂN TRẠNG SƯ Ở GIỮA CHÚNG TA

Trong Tin Mừng Gioan, ý nghĩa tiếng ‘mất’ trong số các môn đệ thì đã rõ ràng khi đức Giesu chuẩn bị xa lìa họ. Phero hỏi Chúa: “Thầy sẽ đi đâu?” (Ga 13:36) và “Thưa Thầy, tại sao tôi không thể đi theo Thầy ngay bây giờ?” (Ga 13:37). Đến điểm tột cùng này Chúa đã trả lời: “Nếu anh em yêu mến thầy thì anh em sẽ giữ những giới răn của thầy. Và khi thầy xin Cha thầy thì Ngài sẽ ban cho anh em một tân trạng sư là chúa Thánh Thần của sự thật, mà trần gian không biết, nhưng sự hiện diện của ngài ẩn hiện nơi các môn đệ (Ga 14:17). Lúc đó nền tảng của sự tin tưởng của chúng ta sẽ được Chúa Thánh Thần hướng dẫn. 

Danh từ trạng sư dịch từ tiếng Hy Lạp là “paraclete” có liên quan đến luật pháp, có nghĩa là trạng sư hay luật sư biện hộ. Nó cũng có nghĩa người phát ngôn viên, người trung gian, người an ủi giúp đỡ và bảo trợ, mặc dù không có tiếng nào nói lên được ý nghĩa mà Gioan muốn ám chỉ. Trong Gioan, từ  “paraclete/trạng sư” nghĩa là thầy dạy, chứng nhân cho đức Giesu và là bảo trợ viên của trần gian, người đại diện thường trực của đức Giesu ở trần gian trong khi người về cùng Cha người. 

Đức Giesu chính là trạng sư đầu tiên. (coi 1Ga 2:1), có nghĩa là đấng trung gian ở trên thiên đàng. Trạng sư đến trong cộng đồng Kito giáo là dấu hiệu khởi đầu sứ mạng trần thế thúc đẩy những Kito hữu của Giáo Hội sơ khai vượt quá khỏi giới hạn địa dư của mình đi ra khắp bốn phương trời. Nếu đức Giesu là trạng sư trong khi Người hiên diện ở trần thế, thì chúa Thánh Thần bây giờ là Tân Trạng Sư. Đức Giesu sẽ lại xuất hiện khi Người trở lại. Vị trạng sư này là một người xa lạ nhưng là bảo đảm cho lòng trung thành với chúa Giesu: “ Trạng sư là Chúa Thánh Thần mà Cha thầy sẽ gửi đến nhân danh thầy, sẽ dạy dỗ anh em mọi sự và nhắc nhở anh em  những điều thầy đã nói với anh em” (Ga 14:26). Người còn nói thêm là vị trạng sư này sẽ làm chứng với tư cách thầy, đồng thời cũng làm cho các môn đệ trở thành chứng nhân. Nhờ đoạn văn này, chúng ta nhớ lại sự bất ổn và sợ hãi của các môn đệ nói ở phần khởi đầu của sách công vụ tông đồ. Khi Chúa Thánh Thần đến, họ được soi sáng, can đảm hơn và trở thành chứng nhân một cách can trường và trong sáng.

LÀ HY VỌNG, KHÔNG BÁM CHẶT VÀO QUÁ KHỨ

Trạng sư không chỉ là bảo đảm cho lòng trung thành và can đảm tuyên xưng mà còn là hướng dẫn đi tới tương lai: “ Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em nhưng bây giờ anh em không có sức chịu nổi. Khi Thánh Thần Sự Thật đến, Người sẽ hướng dẫn anh em đến sự thật toàn vẹn. Người không tự mình nói điều gì nhưng Người sẽ nói lại cho anh em tất cả những điều Người nghe và báo cho anh em biết những điều sẽ xẩy ra” (Ga 16:12-13). Sự hiện diện và hướng dẫn của Thần Linh Chúa làm cho các tông đồ thêm sức mạnh tiến đến tương lai, sẵn sàng đương đầu với mọi thách đố một cách đầy sáng tạo. Tông đồ đích thực thì trung thành với đức Giesu và sứ điệp của Người, tuy nhiên họ không bị kẹt với quá khứ. Chính Thần Linh Chúa sẽ điều chỉnh họ, giúp họ biết uyển chuyển để thích nghi với mọi hoàn cảnh nhưng luôn luôn một mực trung thành và hy vọng. 

ĐÔI LỜI KẾT: KÝ ỨC SỐNG ĐỘNG CỦA GIÁO HỘI

Tân trạng sư không phải là đại diện được gửi đến để thay thế Chúa Giesu vắng mặt.. Trái lại, để bảo đảm sự hiện diện của Người cũng như của Thiên Chúa Cha. Các ngài “sẽ cùng đến” để trọn lời hứa của đức Giesu, và sẽ ở cùng với Người. Các ngài sẽ không ở với những kẻ không yêu mến Chúa và giữ Lời Người. Trạng sư ở trong mọi người yêu Chúa và giữ các giới răn Chúa, và vì vậy sự hiện diện của Người không bị giới hạn bởi thời gian (Ga 14: 15-17). Trạng sư hiện diện nơi các môn đệ thời nay của chúa Giesu cũng như Người ở với các môn đệ đầu tiên. Không một ai có thể nghĩ rằng đức Giesu đã bỏ rơi Giáo Hội của chúng ta ngày nay. Chúa Giesu vẫn tiếp tục gửi đến cho chúng ta Thần Linh Thiên Chúa sự thật. Chúng ta đã nghe và đọc Tin Mừng: “Đấng mà Thiên Chúa Cha gửi đến cho chúng ta sẽ dạy chúng ta tất cả mọi sự và nhắc nhở chúng ta tất cả mọi điều mà đức Giesu đã nói với chúng ta (c.26). Điều nhắc nhở và gợi nhớ lại được diễn tả một cách tuyệt vời bằng những danh từ mới trong sách Giáo Lý Công Giáo nói về công việc của trạng sư / chúa Thánh Thần: “Chúa Thánh Thần là trí nhớ sống động của Giáo Hội” (c.# 1099) 

Sự xuất hiện của Chúa Thánh Thần là dấu hiệu khởi đầu sứ mạng toàn cầu của người Kito hữu sơ khai vươt biên giới của mình đi đến muôn nơi. Là Kito hữu, con người Giesu Kito là “khởi điểm”của hy vọng và mục đích của chúng ta. Đức Kito đòi hỏi Giáo Hội biến muôn dân trên khắp địa cầu thành môn đệ Chúa.”(Mt 28:19) Để hướng dẫn việc làm trong sứ mạng của Giáo Hội, chúa Kito đã gửi chúa Thánh Thần xuống cho chúng ta. Đức Giesu đã xác định Chúa Thánh Thần là Tân Trạng Sư, là “Thần Linh của Sự Thật”, mà thế gian không biết vì Ngài ẩn dấu sự hiện diện của Ngài trong các môn đệ (Ga 14:17). Lúc đó nền tảng của sự tin tưởng của chúng ta là có Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Đức Giesu đã là trạng sư trong khi Người hiện diện ở trần thế cùng các môn đệ. Chúa Thánh Thần là Tân Trạng Sư, sự hiện diện của Ngài là hướng dẫn Giáo Hội cho đến khi chúa Giesu trở lại lần thứ hai. Vị trạng sư này là một người xa lạ, nhưng là bảo đảm cho lòng trung thành với chúa Giesu: Vị trạng sư là Thần Linh Chúa mà Thiên Chúa Cha sẽ gửi đến cho anh em nhân danh Thầy, sẽ dạy anh em mọi sự và nhắc nhở anh em tất cả những điều mà thầy đã nói với anh em (Ga 14:26). 

Về mục lục

.

CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH_A

Lm. Antôn

Ông bà anh chị em thân mến.  Khi còn làm linh mục chánh xứ giáo xứ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội tại thành phố Poteau, một trong những thành phố lâu đời và nghèo nhất trong tiểu bang Oklahoma này, tôi đọc được một câu chuyện về một bác sĩ sống và hành nghề trong thành phố này vào những năm của thập niên 30.  Tôi vẫn còn nhớ rất rõ nội dung câu chuyện của bác sĩ này.  Những người dân sống trong vùng này vào lúc đó rất nghèo và không có phương tiện di chuyển, cho nên vị bác sĩ phải lái xe đến những ngôi nhà lụp xụp và nghèo nàn để chữa bệnh.  

Một ngày kia vị bác sĩ phát giác ra chính mình cũng đang mang một chứng bệnh, và khi ông cảm thấy triệu chứng bệnh càng ngày càng trở nên khó chịu hơn, ông ta liền vào một bệnh viện để khám.  Trong bệnh viện, ông được cho biết bị bệnh ung thư và ở trong thời kỳ cuối cùng.  Ngay lúc đó, ông cảm thấy bàng hoàng sửng sốt, nhưng sau đó ông giữ lại được bình tĩnh. Cũng trong lúc đó, tâm hồn và tư tưởng của ông đều hướng về đàn con còn trẻ của mình.  Ông có rất nhiều điều muốn tâm sự với đàn con nhưng bây giờ chúng còn rất trẻ không thể hiểu được những điều ông nói.

Vị bác sĩ liền dùng một máy ghi âm và thu những dòng tâm sự của mình với đàn con vào đó, để sau này khi chúng lớn lên có thể nghe và hiểu tâm sự cũng như những lời trăn trối của ông. Trong máy ghi âm, ông nhắn nhủ các con hãy suy nghĩ và tự hỏi: có sẵn sàng để thức dậy ra khỏi giường trong một đêm lạnh lẽo, lái xe đến nhà một bệnh nhân, biết rằng họ không có tiền trả và họ có thể đợi đến sáng để chữa trị không?  Ông hỏi các con ông: Nếu các con có thể trả lời sẵn sàng làm công việc đó, thì mới ghi danh học ngành y khoa trở thành bác sĩ như ông.

Ông bà anh chị em thân mến. Câu chuyện người bác sĩ vị tha và quảng đại trên mang một sự tương đồng rõ rệt với câu chuyện của Chúa Giêsu trong bài Tin mừng hôm nay.  Như cuộc đời của vị bác sĩ, Chúa Giêsu cũng không có cuộc sống lâu dài.  Trước khi từ giã các môn đệ để chịu chết, tâm tư của Chúa cũng hoàn toàn hướng về các ông.  Người còn rất nhiều điều muốn nói với các ông, nhưng các ông chưa sẵn sàng để hiểu những điều đó.  Chúa Giêsu đã từng nói với các ông:  “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ anh em không có sức hiểu nổi.”  Cũng giống như vị bác sĩ, Chúa Giê su đã sửa soạn một phương cách để tiếp tục dạy dỗ và hướng dẫn các môn đệ khi Người đã từ biệt, đó là Chúa Thánh Thần.  Chúa nói với các ông:  “Khi nào Thánh Thần chân lý đến, Người sẽ dẫn anh em đến sự thật toàn vẹn.”

Chúng ta thấy tất cả 3 bài Kinh thánh tuần này đều có một ẩn ý cho chúng ta biết sự xuất hiện của Chúa Thánh Thần, trong ngày lễ Hiện Xuống mà chúng ta sẽ mừng kính 2 tuần nữa.  Bởi vậy, chúng ta cần chú ý và hiểu rõ vai trò của Chúa Thánh Thần trong kế hoạch của Thiên Chúa.  Tất cả chúng ta đều biết vai trò của Thiên Chúa Cha, là Đấng tạo dựng vũ trụ, trời, đất và muôn loài trong đó có con người.  Chúng ta cũng quen thuộc với sứ mệnh của Chúa Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa, là Đấng cứu chuộc trần gian, nhưng có lẽ nhiều người chúng ta còn hiểu một cách mơ hồ về vai trò của Chúa Thánh Thần.

Kinh thánh cho chúng ta biết Chúa Thánh Thần đã đóng một vai trò quan trọng trong 3 công việc trọng đại trong kế hoạch của Thiên Chúa.  Công việc trọng đại thứ nhất của Chúa Thánh Thần là tham dự vào việc tạo dựng của Thiên Chúa.  Sách Sáng thế trong Cựu Ước cho chúng ta biết trước khi tạo dựng vũ trụ, trời đất và muôn vật, Thánh Thần Chúa đã chuyển động trên mặt nước.  Hay nói một cách khác, Chúa Thánh Thần đã chuẩn bị sẵn sàng mọi sự  cho công việc sáng tạo trần thế của Thiên Chúa. Công việc trọng đại thứ nhì của Chúa Thánh Thần là sự sinh xuống trần của Chúa Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa.  Khi Tổng Lãnh Thiên Thần Gabiel hiện ra và báo cho Đức Maria về sự thụ thai Ngôi Hai Thiên Chúa trong lòng bà, đã nói:  “Chúa Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà và quyền năng của Đấng Tối Cao sẽ bao phủ bà.”  Nói một cách khác, Chúa Thánh Thần đã ngự trên Đức Maria và sửa soạn cho sự sinh ra của Ngôi Hai Thiên Chúa.  Và công việc trọng đại thứ ba mà Chúa Thánh Thần đã đóng một vai trò quan trọng xảy ra trong ngày Lễ Hiện Xuống, cũng là ngày khai sinh của Giáo hội.  Sách Tông Đồ Công Vụ diễn tả Chúa Thánh Thần chuyển động trên đầu các tông đồ như một luồng gió, thình lình như những ngọn lửa ngự trên họ và biến đổi họ từ những người sợ sệt, yếu đuối, trở thành một nhóm người can đảm làm chứng cho Chúa Giêsu Ki-Tô Phục sinh.  Họ không còn là một nhóm người nghi ngờ mà trở thành những người có lòng xác tín vào Chúa Ki-Tô và liên kết với nhau như những chi thể trong Thân Thể Chúa Ki-Tô. 

Ông bà anh chị em thân mến.  Qua 3 sự kiện trọng đại này, chúng ta nhận biết cùng một Chúa Thánh Thần đã hiện diện và chuẩn bị sự sống cho tạo vật, cho Chúa Giêsu và cho Giáo hội, và ban sự sống của Chúa cho chúng ta khi chúng ta nhận lãnh Bí tích Thánh tẩy. Như vậy, Chúa Thánh Thần như là một sợi dây liên kết chặt chẽ và mật thiết trong kế hoạch và ân sủng của Thiên Chúa, là nguồn ban sự sống thánh thiêng, và đồng thời tạo một sự liên kết mỗi Ki-tô hữu chúng ta với Chúa Giê-su Ki-tô và với nhau, như những chi thể trong Thân Thể Chúa Ki-tô.  Trong bài Tin mừng, Chúa Giêsu cho chúng ta biết: Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ giới răn Thầy.”  Nghĩa là không thể nói yêu mến Chúa, sống thân mật với Chúa, mà không tuân giữ giới răn Chúa dạy.  Nếu chúng ta tin Chúa thì chúng ta sẽ yêu mến Chúa, và nếu chúng ta yêu mến Chúa thì chúng ta sẽ vui mừng và hy sinh sống giới răn của Chúa.  Chúng ta biết khi không có lòng yêu mến chân thật thì khó mà làm, hoặc có làm thì chỉ vì miễn cưỡng hay không thật lòng.  Muốn được sống trong an bình, ơn sủng và tình yêu Chúa, chúng ta phải thực hành những điều Chúa truyền dạy. Xin Chúa biến đổi chúng ta trở thành những chứng nhân can trường và làm sáng danh Chúa Giê-su Kitô, để bình an, ơn sủng và tình yêu của Chúa luôn hiện diện trong cuộc sống của chúng ta. Và xin Chúa Thánh Thần soi sáng và ban ơn thêm sức để chúng ta xây dựng tình yêu thương hiệp nhất trong Thân Thể Chúa Ki-tô, là Giáo hội và là giáo xứ, và làm sang danh Chúa.   

Về mục lục

.

Chia sẻ thông tin
  • Print
  • Digg
  • StumbleUpon
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Yahoo! Buzz
  • Twitter
  • Google Bookmarks
  • email
  • Live
  • PDF
Copyright © 2017 HỘI DÒNG MẾN THÁNH GIÁ THỦ ĐỨC

Số 26 - Đường 6 - Khu phố 2 - P. Bình Thọ - Q. Thủ Đức - TP.HCM

ĐT : (08) 38960411. Email : hoidong@mtgthuduc.net

Design by Thân Hữu

_*̡͌l̡*̡̡ ̴̡ı̴̴̡ ̡̡͡|̲̲̲͡͡͡ ̲▫̲͡ ̲̲̲͡͡π̲̲͡͡ ̲̲͡▫̲̲͡͡ ̲|̡̡̡ ̴̡̡ı̴̡̡*̡͌l̡*̡̡_

------------------------------------------------